Nhật chủ Ất Mộc: dây leo, cỏ hoa, tài nương tựa và cái hợp với Canh

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 12 phút đọc

Nhật chủ Ất Mộc: dây leo, cỏ hoa, tài nương tựa và cái hợp với Canh

Nhật chủ Ất Mộc là người sinh ngày có can Ất, âm Mộc, hình tượng là cỏ hoa, dây leo, cây non. Trích Thiên Tủy mở đoạn Ất bằng câu "Ất mộc tuy nhu": mềm, nhưng bám rễ được ở chỗ đất khó, sống được qua mùa thu nếu có lửa sưởi, và mạnh nhất khi có cây lớn Giáp để leo. Ất hợp Canh, nhưng hiếm khi hoá hẳn thành Kim.

Tám câu về Ất trong Trích Thiên Tủy, đọc từng cặp

Đoạn Ất mộc trong thiên Thiên can có tám câu bốn chữ. Mỗi cặp là một chỉ dẫn kỹ thuật, không phải một lời khen chê tính nết.

Ất mộc tuy nhu, khuê dương giải ngưu. Hoài Đinh bão Bính, khoá phượng thừa hầu. Hư thấp chi địa, kỵ mã diệc ưu. Đằng la hệ Giáp, khả xuân khả thu.

"Ất mộc tuy nhu, khuê dương giải ngưu": cây Ất tuy mềm mà "xẻ dê, mổ trâu". Dê là Mùi, trâu là Sửu. Lời chú của Nhâm Thiết Tiều, đại ý, giải rằng Ất sinh vào tháng Sửu, tháng Mùi vẫn khắc chế được đất, vì Mùi có Ất làm dư khí (gốc của chính nó), Sửu là đất ẩm nuôi được rễ. Cái mềm của Ất không phải cái yếu: cỏ mọc xuyên đất cứng nhờ len, không nhờ đẩy.

"Hoài Đinh bão Bính, khoá phượng thừa hầu": ôm Đinh, ẵm Bính thì cưỡi được phượng, cưỡi được khỉ. Phượng ở đây chỉ Dậu (gà), khỉ là Thân, hai chi Kim của mùa thu. Kim khắc Mộc; một cây mềm sinh tháng Thân, tháng Dậu là đứng giữa mùa của kẻ khắc mình. Có Bính, Đinh (Thương Quan, Thực Thần của Ất) đứng ra chế Kim thì Ất đứng được. Đây là câu quan trọng nhất của đoạn, vì nó cho một quy tắc dùng ngay được khi xem lá số.

"Hư thấp chi địa, kỵ mã diệc ưu": ở chỗ đất ướt rỗng, cưỡi ngựa cũng còn lo. Đất ướt là mùa đông, các chi Hợi, Tý; ngựa là Ngọ, chi Hỏa. Ất sinh mùa đông thì một chữ Ngọ chưa đủ ấm, rễ vẫn úng. Câu này ngầm nói Ất mùa đông cần Bính lộ ra trên can, không chỉ một chút Hỏa giấu trong chi.

"Đằng la hệ Giáp, khả xuân khả thu": dây leo bám vào Giáp thì xuân hay thu đều được. Giáp là Kiếp Tài của Ất. Trong phần lớn các bài về Kiếp Tài, Kiếp là kẻ tranh phần; riêng với Ất, Giáp là cái cột để leo. Hình ảnh này dẫn sang một cách đọc riêng: Ất mạnh nhất khi biết dựa vào một cấu trúc vững hơn mình.

Ất qua bốn mùa

Cùng một chữ Ất, sinh mùa nào là khác hẳn. Cột "cần" dưới đây tóm theo Cùng Thông Bảo Giám, đại ý, bản lưu hành do Dư Xuân Đài chỉnh lý; sách này đi theo từng tháng, chúng tôi gộp theo mùa để dễ đọc, chi tiết từng tháng ở bài điều hậu.

Mùa sinhLệnh của MộcThế của ẤtThứ thường được coi là cần
Xuân (Dần, Mão, Thìn)vượngcây đang lên, dễ thừa sứcBính sưởi cho đầu xuân còn lạnh, Quý tưới; tháng Thìn thêm Mậu
Hạ (Tỵ, Ngọ, Mùi)hưulá héo dưới nắng, khí tiết ra nhiềuQuý thủy là đầu; Bính đứng sau
Thu (Thân, Dậu, Tuất)tửđứng giữa mùa KimBính, Đinh chế Kim; Quý giữ ẩm; tháng Tuất cần Quý, Tân
Đông (Hợi, Tý, Sửu)tướngrễ được nước nuôi mà lạnhBính là chính, gần như bắt buộc

Đọc bảng nên thấy một điều: với Ất, Quý và Bính đi đôi ở gần hết các tháng. Một bên là nước, một bên là nắng, đúng thứ một cây cỏ cần. Mùa hạ nặng về Quý, mùa đông nặng về Bính, hai mùa giao thì cần cả hai. Lý do người miền Nam vẫn dùng bảng mùa đông cho người sinh tháng Tý, tháng Sửu được bàn ở bài điều hậu: Bát Tự dùng khí của tháng tiết, không dùng nhiệt độ ngoài trời nơi sinh.

Sáu ngày Ất: ngồi trên chi nào

Ất chỉ đi với sáu chi âm. Chi ngày là chỗ nhật chủ "ngồi" và cũng là cung phu thê (xem bài nhật chủ). Bảng dưới tính bằng bộ máy của site, vòng trường sinh theo lối cổ "âm can đi nghịch" (Ất trường sinh tại Ngọ).

Nhật trụTàng can và thần của nó với ẤtVòng trường sinhNạp âm
Ất SửuKỷ Thiên Tài, Quý Thiên Ấn, Tân Thất SátSuyHải Trung Kim
Ất MãoẤt Tỷ KiênLâm Quan (Lộc)Đại Khê Thủy
Ất TỵBính Thương Quan, Canh Chính Quan, Mậu Chính TàiMộc DụcPhú Đăng Hỏa
Ất MùiKỷ Thiên Tài, Đinh Thực Thần, Ất Tỷ KiênDưỡngSa Trung Kim
Ất DậuTân Thất SátTuyệtTuyền Trung Thủy
Ất HợiNhâm Chính Ấn, Giáp Kiếp TàiTửSơn Đầu Hỏa

Vài điểm thực dụng khi đọc bảng:

  • Ất Mão là ngày Ất ngồi trên Lộc của mình, gốc chắc nhất. Người ngày này ít phải "nương" ai về sức, nên cái cần thường là chỗ tiết ra (Hỏa) và nước nuôi.
  • Ất Hợi ngồi trên Ấn và Kiếp: nước nuôi rễ, lại có Giáp trong Hợi làm cột leo. Vòng trường sinh ghi "Tử", nhưng phép phù ức lại thấy chi ngày này nâng Ất rất nhiều. Hai lớp đọc ra hai câu khác nhau; phần lớn danh gia đời Thanh trở đi tin tàng can hơn vòng trường sinh của âm can.
  • Ất Dậu là ngày khó nhất: ngồi thẳng trên Thất Sát, không có gì khác trong chi. Đây đúng là chỗ câu "khoá phượng" áp vào; tìm Bính, Đinh trong tám chữ trước khi nói gì khác.
  • Ất Tỵ ngồi trên một chi chứa cả Thương Quan Bính lẫn Chính Quan Canh: thế Thương Quan gặp Quan nằm sẵn trong cung phu thê, sách hay bàn ở mục hôn nhân. Đọc kỹ hơn ở bài Thực Thần, Thương Quan.

Ất gặp Canh: hợp mà ít khi hoá

Ất với Canh là một trong năm cặp can hợp: Ất Canh hợp, theo lý thì hoá Kim. Canh là Chính Quan của Ất. Sách hay mô tả cặp này như "Mộc theo chồng": âm Mộc gặp dương Kim, Mộc nhún mình.

Người mới học hay đọc thành "Ất gặp Canh là thành Kim". Thực tế, điều kiện hoá rất chặt. Tử Bình Chân Thuyên, trong phần bàn chuyện "hợp mà không hợp", đại ý nói phần nhiều can hợp chỉ là ràng buộc nhau, ít khi đổi hành. Muốn Ất Canh hoá Kim thật, thường phải đủ:

  1. Sinh tháng Kim vượng (Thân, Dậu) hoặc chi có cục Kim.
  2. Ất không có gốc Mộc đáng kể trong chi.
  3. Không có Bính, Đinh lộ ra phá Kim.
  4. Không có can Ất thứ hai tranh hợp, không có Giáp đứng giữa.

Thiếu một điều thì cặp Ất Canh vẫn là Ất và Canh, chỉ là đã buộc vào nhau. Hệ quả thực tế khi đọc: Chính Quan Canh bị Ất "giữ" thì sức khắc của Quan lên thân giảm; còn nếu Canh hợp với một can Ất khác (không phải nhật chủ) thì Quan của mình bị người khác giữ mất. Hoá khí cách đúng nghĩa thuộc nhóm ngoại cách, xem bài ngoại cách Bát Tự.

Ví dụ: một Ất Mộc mùa thu "ôm Đinh ẵm Bính"

Người nữ sinh 20 giờ ngày 17/9/1990. Tứ trụ tính bằng bộ máy của site:

NămThángNgàyGiờ
CanCanh (Chính Quan)Ất (Tỷ Kiên)ẤtBính (Thương Quan)
ChiNgọDậuDậuTuất
Tàng canĐinh, KỷTânTânMậu, Tân, Đinh

Đọc theo đúng đoạn thơ:

  • Mùa: tháng Dậu, Mộc ở thế "tử". Đây là Ất đứng giữa mùa Kim.
  • Chỗ ngồi: Ất Dậu, ngồi trên Thất Sát, ngày khó nhất trong sáu ngày Ất. Chi tháng cũng Dậu, hai Dậu tự hình.
  • "Hoài Đinh bão Bính": có Bính lộ ở giờ, Đinh trong Ngọ năm và trong Tuất giờ; Ngọ với Tuất bán hợp Hỏa. Đủ điều kiện "ôm Đinh ẵm Bính", nên Ất tuy mềm vẫn "cưỡi phượng" được. Kim của mùa bị Hỏa giữ lại.
  • Hợp Canh: Canh năm hợp cả Ất tháng lẫn Ất ngày, thế "hai Ất tranh một Canh". Có Bính, có Hỏa cục, lại tranh hợp, nên khó nói hoá Kim; phần lớn thầy sẽ không luận hoá.
  • Thiếu gì: máy cân ngũ hành cho Thủy 0%. Ất mùa thu theo Cùng Thông Bảo Giám cần Quý giữ ẩm cùng Bính Đinh chế Kim; lá số này có phần Hỏa mà thiếu phần nước.

Máy chấm sơ bộ "thân nhược". Từ đó tới dụng thần còn một bước: hướng phù ức sẽ tìm Thủy (Ấn) hoá Sát sinh thân; hướng điều hậu cũng gọi Quý. Hai phép cùng chỉ về Thủy là dấu hiệu tốt cho người đọc lá số, vì ít phải tranh luận. Đại vận nghịch (dương nữ), từ 2003 đến 2023 đi qua Quý Mùi, Nhâm Ngọ: hai vận mang Ấn lộ lên can. Từ cuối 2023 vào vận Tân Tỵ: Thất Sát lộ, nhưng Tỵ chứa Bính đi kèm, đúng mẫu "Sát có chế".

Tính nết và nghề: đọc như xu hướng, không như lời phán

Hình tượng cỏ, dây leo gợi những nét các thầy hay gán cho Ất: mềm mỏng, khéo léo, giỏi tìm chỗ bám và thích nghi, nhạy với người xung quanh, làm tốt khi có khung. Điểm cần giữ là mặt trái của cùng nét ấy: dễ dựa, ngại tự quyết, khó dứt một mối quan hệ đã quen.

Nhưng một phần mười dân số có nhật chủ Ất. Đọc tính nết chỉ từ một chữ thì ai cũng thấy mình trong đó. Chỗ có giá trị hơn là hỏi Ất này đang cần gì: Ất mùa thu cần Hỏa thì những việc phải nói, phải trình bày, phải làm ra sản phẩm (Thực Thương) là chỗ phát huy; Ất mùa hạ khô cần Quý thì môi trường học hỏi, có người nâng đỡ (Ấn) hợp hơn. Bảng ngành nghề theo hành và cách lấy dụng thần chứ không lấy mệnh năm có ở bài Bát Tự và nghề nghiệp.

Hình ảnh "dây leo bám Giáp" cũng dùng được ở đây: nhiều người Ất làm tốt nhất trong tổ chức có cấu trúc rõ, hoặc khi hợp tác với một người vững hơn mình. Đó không phải sự yếu, mà là cách cỏ cây sống.

Năm Đinh Mùi 2027 với nhật chủ Ất

Với Ất, can Đinh là Thực Thần, chi Mùi là Thiên Tài, trong Mùi lại có Ất làm dư khí, tức năm này cho Ất một chút gốc. Chuỗi "làm ra rồi bán được" khá liền mạch. Ất mùa thu thiếu Hỏa thì năm có lửa là năm thuận về khí. Ất mùa hạ vốn đã khô thì thêm một năm Hỏa Thổ khô lại là chỗ phải để ý nước (Quý, Nhâm) trong tám chữ và trong vận.

Một chi tiết riêng: lá số Ất có Quý đứng gần thì Quý gặp Đinh vừa xung vừa thành thế Kiêu đoạt Thực. Bảng đủ mười nhật chủ ở bài lưu niên Bát Tự 2027. Riêng lá số ví dụ ở trên, năm 2027 Mùi lục hợp Ngọ ở trụ năm và hình Tuất ở trụ giờ.

Sách cổ nói gì

Ất mộc tuy nhu, khuê dương giải ngưu. Hoài Đinh bão Bính, khoá phượng thừa hầu.

Dịch: Cây Ất tuy mềm, vẫn xẻ được dê, mổ được trâu. Ôm Đinh ẵm Bính thì cưỡi được phượng, cưỡi được khỉ. — Trích Thiên Tủy, thiên Thiên can

Hư thấp chi địa, kỵ mã diệc ưu. Đằng la hệ Giáp, khả xuân khả thu.

Dịch: Ở đất ướt rỗng, cưỡi ngựa vẫn còn lo. Dây leo buộc vào Giáp thì xuân thu đều được. — Trích Thiên Tủy, thiên Thiên can

Bình: đoạn này đáng đọc như một bảng điều kiện viết bằng thơ. Câu 1–2 nói Ất chịu được mùa Thổ, câu 3–4 nói Ất chịu được mùa Kim nếu có Hỏa, câu 5–6 nói Ất mùa đông cần Hỏa thật chứ không cần Hỏa ẩn, câu 7–8 nói chỗ dựa tốt nhất là Giáp. Bốn mùa được bàn đủ, mỗi mùa một điều kiện. Văn bản Trích Thiên Tủy theo truyền thống gắn với Kinh Đồ và lời chú tương truyền của Lưu Bá Ôn; bản được dùng rộng rãi nhất là bản chú của Nhâm Thiết Tiều đời Thanh. Cách giải "dê là Mùi, trâu là Sửu" ở trên theo lời chú ấy.

Đọc cho đúng mức

  • Nhật chủ chỉ là một chữ trong tám. Ất mùa xuân có gốc và Ất mùa thu không gốc khác nhau nhiều hơn Ất với Giáp.
  • Bảng "cần gì theo mùa" của Cùng Thông Bảo Giám là phép điều hậu, chỉ là một trong bốn phép tìm dụng thần (xem dụng thần là gì). Phái phù ức có khi ra kết luận khác; người xem nên biết mình đang theo phép nào.
  • Vòng trường sinh của âm can (Ất sinh ở Ngọ, tử ở Hợi) là chỗ các phái bất đồng lâu đời. Một số thầy hiện đại bỏ hẳn vòng âm can, chỉ dùng tàng can. Bảng sáu ngày ở trên ghi cả hai để bạn thấy chỗ lệch.
  • Ất Canh hợp không phải lúc nào cũng thành Kim. Thấy chữ "hợp" mà kết luận "hoá" là lỗi thường gặp nhất ở các trang luận tự động.
  • Hình tượng cỏ, dây leo là ẩn dụ gợi ý, không phải mô tả một con người cụ thể. Người Ất cứng rắn, độc lập vẫn rất nhiều.

Việc nên làm

  • Lập đúng tứ trụ (trụ năm theo Lập Xuân, trụ tháng theo tiết), xác định Ất của mình sinh mùa nào.
  • Rà bốn điều kiện của đoạn thơ: có gốc Mùi, Sửu không; mùa thu có Bính, Đinh không; mùa đông có Bính lộ không; có Giáp làm chỗ dựa không.
  • Thấy Canh trong tám chữ, đếm xem có mấy chữ Ất cùng hợp, có Bính Đinh không, trước khi nghĩ tới chuyện hoá.
  • Đọc sang bài thân vượng thân nhược để cân lực, rồi mới chọn hướng học, nghề hay thời điểm.
🀄Lá số Bát Tự (Tứ Trụ)
Bốn trụ năm tháng ngày giờ theo tiết khí, Thập Thần, ngũ hành vượng suy.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Trích Thiên Tủy — thiên Thiên can, đoạn Ất mộc (tám câu, nguyên văn); bản chú Trích Thiên Tủy Xiển Vi của Nhâm Thiết Tiều (đại ý cách giải dê là Mùi, trâu là Sửu, phượng là Dậu, khỉ là Thân).
  • Cùng Thông Bảo Giám — phần Ất mộc theo mười hai tháng (đại ý, gộp theo mùa); bản lưu hành do Dư Xuân Đài chỉnh lý đời Thanh.
  • Thẩm Hiếu Chiêm — Tử Bình Chân Thuyên, phần bàn mười can hợp mà không hợp (đại ý).
  • Tứ trụ, ngũ hành và đại vận của lá số ví dụ: bộ máy Bát Tự của aihuyenhoc.com (`app/Core/CongCu/BatTu.php`).

Câu hỏi thường gặp

Nhật chủ Ất Mộc khác Giáp Mộc ở điểm nào?

Giáp là dương Mộc, cây lớn đứng một mình, cần Hỏa để "thoát thai" và sợ bị Kim chặt. Ất là âm Mộc, cỏ và dây leo, chịu được đất cứng và mùa Kim nếu có lửa, và mạnh nhất khi có Giáp làm chỗ bám.

Ất sinh mùa thu có phải là xấu không?

Không. Mùa thu Ất ở thế yếu về lệnh, nhưng Trích Thiên Tủy nói rõ có Bính, Đinh thì Ất vẫn đứng vững giữa mùa Kim. Phải xem cả tám chữ chứ không kết luận từ tháng sinh.

Ất gặp Canh trong lá số có hoá thành Kim không?

Phần lớn là không. Ất Canh chỉ hoá Kim khi sinh mùa Kim, Ất không có gốc, không có Bính Đinh phá và không có can khác tranh hợp. Thiếu điều kiện thì hai chữ chỉ ràng buộc nhau.

Người nhật chủ Ất hợp với nghề gì?

Không lấy nhật chủ để chọn nghề. Phải xác định Ất đó cần hành gì (dụng thần) rồi mới đối chiếu ngành. Ất cần Hỏa hợp việc trình bày, làm sản phẩm; Ất cần Thủy hợp môi trường học, có người dìu dắt.

Ngày Ất Dậu có gì đặc biệt?

Ất Dậu là ngày Ất ngồi thẳng trên Thất Sát, chi ngày chỉ chứa Tân Kim. Đây là ngày cần Bính, Đinh trong lá số nhất. Có lửa chế Kim thì áp lực trở thành kỷ luật; thiếu lửa thì nên chậm lại, tìm thêm chỗ dựa.

Nguồn tham khảo: Trích Thiên Tủy — thiên Thiên can, đoạn Ất mộc · Trích Thiên Tủy Xiển Vi — Nhâm Thiết Tiều chú · Cùng Thông Bảo Giám (Lan Giang Võng, Dư Xuân Đài chỉnh lý) — Ất mộc theo mười hai tháng · Tử Bình Chân Thuyên — Thẩm Hiếu Chiêm — Luận thập can hợp nhi bất hợp · Bộ máy Bát Tự của aihuyenhoc.com (app/Core/CongCu/BatTu.php)

Thai Nguyên, Mệnh Cung trong Tử Bình: hai cột phụ ít người dùng, cách tính và vì sao chúng có mặtThai Nguyên, Mệnh Cung trong Tử Bình: cách tính bằng tay, vì sao Thai Nguyên là tháng lùi chín tháng, Mệnh Cung khác cung Mệnh tử…
Nhật chủ Đinh Hỏa: ngọn đèn, ánh nến, sự tinh tế và vì sao cần Giáp làm củiNhật chủ Đinh Hỏa trong Bát Tự: đọc tám câu Trích Thiên Tủy, vì sao Đinh cần Giáp làm củi mà sợ củi ướt Ất, câu Canh bổ Giáp, sáu…
Nhật chủ: can ngày sinh là “ta”, chi ngày là cung phu thê, và cách đọc mười loại nhật chủNhật chủ là can ngày sinh, đại diện cho chính bạn trong Bát Tự. Vì sao Tử Bình lấy ngày làm ta, vì sao chi ngày là cung phu thê, …
Nhật chủ Tân Kim: châu ngọc, sự cầu toàn, vì sao thích Nhâm rửa mà sợ đất chồngNhật chủ Tân Kim trong Bát Tự: đọc tám câu Trích Thiên Tủy, vì sao Tân thích Nhâm thủy rửa mà sợ Thổ chồng chất, Bính Tân hợp, sá…
Thực Thần, Thương Quan: tài năng phát ra ngoài, cái tôi và câu "Thương Quan kiến Quan"Thực Thần, Thương Quan trong Bát Tự: ta sinh ra gì, vì sao Thương Quan khắc Quan mạnh nhất, đọc lại câu Thương Quan kiến Quan cho…
Nhật chủ Mậu Thổ: núi lớn, tường thành, người đáng tin và cái khô của đất thiếu nướcNhật chủ Mậu Thổ trong Bát Tự: đọc tám câu Trích Thiên Tủy, vì sao Mậu cần nước hơn cần lửa vào mùa hạ, cần Bính sưởi và Giáp khơ…