Thân vượng hay thân nhược: cân lực nhật chủ bằng lệnh, địa, thế thay vì đếm hành
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc
Thân vượng hay thân nhược là kết quả cân sức nhật chủ với phần còn lại của tứ trụ. Cân đúng thì xét ba thứ theo thứ tự: đắc lệnh (sinh đúng mùa hành mình mạnh), đắc địa (có gốc trong địa chi), đắc thế (nhiều chữ cùng phe). Đếm số chữ cùng hành nhanh nhưng sai: hai lá số đếm y hệt có thể ra hai kết luận ngược.
Vì sao phải cân trước khi đọc
Gần như mọi câu hỏi sau đó trong Bát Tự đều treo vào phép cân này. Thân mạnh thì Tài, Quan là thứ "gánh được", nên là chỗ dùng; thân yếu thì chính những chữ ấy thành gánh nặng, và thứ cần là Ấn, Tỷ. Dụng thần theo phép phù ức (bài dụng thần là gì), màu, hướng, nghề hợp, cách đọc một đại vận, tất cả đổi chiều khi kết luận vượng nhược đổi chiều.
Vì nặng như vậy nên đây cũng là chỗ người tự học hay đi tắt nhất: đếm xem có bao nhiêu chữ cùng hành với nhật chủ.
Hai lá số đếm giống hệt nhau
Hai lá số dưới đây ứng với hai thời điểm sinh có thật trên lịch, lập bằng bộ máy âm lịch của site và đối chiếu với thư viện lịch mã nguồn mở lunar-javascript; bốn trụ khớp ở cả hai.
| Lá số A | Lá số B | |
|---|---|---|
| Ngày giờ sinh | 11 giờ 30 ngày 3/3/1976 | 19 giờ 30 ngày 26/9/1990 |
| Tứ trụ | Bính Thìn – Canh Dần – Giáp Dần – Canh Ngọ | Canh Ngọ – Ất Dậu – Giáp Ngọ – Giáp Tuất |
| Nhật chủ | Giáp Mộc | Giáp Mộc |
| Mộc | 3 chữ (Dần, Giáp, Dần) | 3 chữ (Ất, Giáp, Giáp) |
| Hoả | 2 (Bính, Ngọ) | 2 (Ngọ, Ngọ) |
| Thổ | 1 (Thìn) | 1 (Tuất) |
| Kim | 2 (Canh, Canh) | 2 (Canh, Dậu) |
| Thủy | 0 | 0 |
Cùng nhật chủ Giáp, cùng bảng đếm 3 – 2 – 1 – 2 – 0. Ai đếm sẽ cho hai người cùng một kết luận, thường là "Mộc đông nhất nên thân vượng", hoặc "Mộc với Thủy chỉ ba trên tám nên thân nhược". Cả hai cách đếm đều đúng cho một người và sai cho người kia.
Tiêu chí một: đắc lệnh, sinh vào mùa của mình
Chi tháng là nguyệt lệnh, nắm khí của mùa. Mỗi mùa, năm hành có năm mức sức: vượng, tướng, hưu, tù, tử.
| Mùa (chi tháng) | Vượng | Tướng | Hưu | Tù | Tử |
|---|---|---|---|---|---|
| Xuân (Dần, Mão) | Mộc | Hoả | Thủy | Kim | Thổ |
| Hạ (Tỵ, Ngọ) | Hoả | Thổ | Mộc | Thủy | Kim |
| Thu (Thân, Dậu) | Kim | Thủy | Thổ | Hoả | Mộc |
| Đông (Hợi, Tý) | Thủy | Mộc | Kim | Thổ | Hoả |
| Cuối mùa (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) | Thổ | Kim | Hoả | Mộc | Thủy |
Nhật chủ ở mức vượng hoặc tướng là đắc lệnh. (Bảng giải thích kỹ ở bài vượng tướng hưu tù tử; vì sao chi tháng nặng hơn hẳn các chữ khác có ở bài nguyệt lệnh.)
- A sinh tháng Dần, giữa tiết Lập Xuân và Kinh Trập: Mộc vượng. Chi tháng Dần lại chính là Lộc của Giáp. Đắc lệnh trọn vẹn.
- B sinh tháng Dậu, sau tiết Bạch Lộ: Mộc tử, mức thấp nhất. Chữ nắm lệnh là Dậu, tức Chính Quan khắc thân. Thất lệnh hoàn toàn.
Chỉ riêng tiêu chí này đã đẩy hai người về hai đầu cân.
Tiêu chí hai: đắc địa, có gốc trong địa chi
Can đứng trên trời, chi là đất. Một can có gốc (thông căn) khi trong địa chi có tàng can cùng hành với nó (bảng ở bài tàng can). Gốc mạnh nhất là chi Lộc và chi Dương Nhận của can đó; sau đó đến chi Trường Sinh, rồi các chi chỉ chứa can ấy ở dạng dư khí, mộ khố.
| Can | Giáp | Ất | Bính | Đinh | Mậu | Kỷ | Canh | Tân | Nhâm | Quý |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Lộc tại | Dần | Mão | Tỵ | Ngọ | Tỵ | Ngọ | Thân | Dậu | Hợi | Tý |
- A: Giáp ngồi trên Dần (Lộc) ở chi ngày, thêm Dần ở chi tháng; Thìn ở chi năm còn chứa Ất (Mộc dư khí) và Quý (Ấn). Gốc sâu, gần, nhiều tầng.
- B: bốn chi Ngọ, Dậu, Ngọ, Tuất không chứa một chút Mộc hay Thủy nào trong tàng can (Ngọ: Đinh, Kỷ; Dậu: Tân; Tuất: Mậu, Tân, Đinh). Ba chữ Mộc của B đều nằm trên can, không gốc. Sách gọi loại này là "hư phù": nổi trên mặt, không bám đất.
Tiêu chí ba: đắc thế, đông người cùng phe
Phe của nhật chủ gồm Tỷ Kiếp (cùng hành) và Ấn (hành sinh ra mình). Phe đối lập gồm Thực Thương (mình sinh, làm hao mình), Tài (mình khắc, tốn sức mình), Quan Sát (khắc mình).
- A: trên can là Bính (Thực Thần) và hai Canh (Thất Sát): không có chữ nào cùng phe. A không đắc thế. Nhưng hai Canh không có gốc Kim nào trong địa chi, lại bị Bính và Ngọ (Hoả) khắc; sức ép của chúng yếu hơn bề ngoài.
- B: có Ất và Giáp trên can, nghe như đông người. Nhưng Ất đứng sát Canh, Ất Canh hợp nhau, lại sinh vào tháng Dậu Kim vượng: nhiều thầy coi Ất đã bị hợp kéo đi, không còn giúp thân. Phía đối lập thì có Dậu (Quan, nắm lệnh), Canh (Sát, có gốc ở Dậu), Ngọ – Ngọ – Tuất (Hoả cục nửa, rút khí Mộc). B có số đông trên giấy, thế thật thì yếu.
Gộp lại
| Tiêu chí | A (3/3/1976) | B (26/9/1990) |
|---|---|---|
| Đắc lệnh | có: Mộc vượng, Lộc ở tháng | không: Mộc tử, Quan nắm lệnh |
| Đắc địa | có: Lộc ở chi ngày và chi tháng, gốc phụ ở Thìn | không: không gốc nào |
| Đắc thế | không: can toàn Thực Thần, Thất Sát | có trên giấy, yếu thực chất |
| Kết luận | thân vượng | thân nhược |
| Hướng tìm dụng thần | tiết khí bằng Hoả hoặc chế bằng Kim | sinh phù bằng Thủy (Ấn), rồi Mộc |
Thứ tự nặng nhẹ thường dạy là lệnh trước, địa sau, thế cuối. Lý do: đắc lệnh là cả một mùa đứng về phía mình; có gốc là có chỗ bám; còn đông người trên can mà không gốc thì như đám đông không nhà, gió mạnh là tan. Đó là vì sao A thiếu cả "thế" mà vẫn vượng, B có "thế" trên giấy mà vẫn nhược.
Sách cổ nói gì
Năng tri suy vượng chi chân cơ, kỳ ư tam mệnh chi áo, tư quá bán hĩ.
Dịch: Biết được then chốt thật của suy và vượng, thì với chỗ sâu kín của mệnh học đã hiểu quá nửa. — Trích Thiên Tủy, thiên Suy vượng
Bình: chữ đáng chú ý là "chân cơ", then chốt thật. Trích Thiên Tủy, qua lời chú của Nhâm Thiết Tiều đời Thanh, nhiều lần cảnh giác chuyện nhìn bề mặt: chữ trông vượng mà thật suy, trông suy mà thật vượng. Ba tiêu chí lệnh, địa, thế là cách người học đời sau gói lại tinh thần ấy cho dễ dùng, không phải ba chữ nguyên văn của một sách. Tử Bình Chân Thuyên thì đặt nguyệt lệnh lên đầu (đại ý: dụng thần chuyên tìm ở lệnh tháng), cũng là một cách nói rằng chi tháng nặng nhất.
Đọc cho đúng mức
- Phép cân này là định tính. Có phần mềm cho điểm từng chữ (chữ ở tháng nhân ba, can lộ cộng bao nhiêu…), nhưng hệ số mỗi nơi một khác và không sách cổ nào định con số. Điểm số tiện để so, không nên coi là đo lường.
- Có lá số không xếp vào vượng hay nhược. Ở giữa là "trung hoà", phải xem điều hậu, thông quan nhiều hơn phù ức. Còn một nhóm cực vượng hoặc cực nhược đến mức phải "tòng" theo thế mạnh nhất, bỏ hẳn phép phù ức: đó là ngoại cách. Lá số B có người sẽ hỏi có tòng không; vì còn Giáp, Ất lộ trên can nên phần lớn thầy không xếp vào tòng cách.
- Trường Sinh của can âm (Ất sinh ở Ngọ, Đinh sinh ở Dậu…) là chỗ các phái tranh luận. Một số người theo Trích Thiên Tủy bản chú Nhâm Thiết Tiều không dùng "âm sinh dương tử", chỉ xét tàng can thật trong chi. Bài này cân gốc theo tàng can, nên không phụ thuộc tranh luận đó.
- Thân vượng không có nghĩa là người khoẻ, thân nhược không có nghĩa là người yếu đuối. Đây là cán cân trong tám chữ, không phải thể trạng hay tính cách.
Việc nên làm
- Lập đúng tứ trụ (cách lập tứ trụ), nhất là trụ tháng theo tiết khí, vì cả phép cân đứng trên chi tháng.
- Hỏi ba câu theo thứ tự: nhật chủ ở mức nào trong mùa sinh; có gốc trong chi nào, gốc gần hay xa; trên can có ai cùng phe, và họ có gốc không.
- Ghi kết luận kèm lý do một dòng cho mỗi tiêu chí, như bảng gộp ở trên. Kết luận không kèm lý do thì sau này không tự kiểm lại được.
- Trước khi đọc bất kỳ lời khuyên màu sắc, hướng nhà theo "mệnh thiếu gì", kiểm xem người viết đã cân thân vượng nhược chưa.
Xem lá số tử vi của chính bạn
Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.
Lập lá số miễn phíNguồn tham khảo
- Trích Thiên Tủy — thiên Suy vượng (câu dẫn nguyên văn); bản chú Trích Thiên Tủy Xiển Vi của Nhâm Thiết Tiều.
- Thẩm Hiếu Chiêm — Tử Bình Chân Thuyên, Luận dụng thần (đại ý về vai trò nguyệt lệnh).
- Hai lá số ví dụ lập bằng bộ máy âm lịch của aihuyenhoc.com (`app/Core/TuVi/AmLich.php`), đối chiếu bốn trụ với thư viện lịch lunar-javascript.
Câu hỏi thường gặp
Thân vượng là tốt, thân nhược là xấu phải không?
Không. Đó chỉ là cán cân, không phải điểm số. Thân vượng cần chỗ tiêu hao sức, thân nhược cần chỗ dựa; lá số nào được đúng thứ mình cần thì là thế thuận.
Đắc lệnh quan trọng đến mức nào?
Là tiêu chí nặng nhất. Một nhật chủ thất lệnh vẫn có thể vượng nếu gốc sâu và thế đông, nhưng phải có cả hai; ngược lại, đắc lệnh lại có Lộc ở chi ngày thì hiếm khi nhược.
Sinh tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì cân thế nào?
Bốn tháng này là cuối mùa, Thổ nắm lệnh, nhưng mỗi chi còn chứa dư khí của mùa vừa qua. Nhật chủ Mộc sinh tháng Thìn chẳng hạn vẫn còn chút gốc Mộc, khác hẳn sinh tháng Tuất.
Can lộ mà không có gốc thì có tính không?
Có tính nhưng nhẹ. Sách gọi là hư phù: chữ ấy có mặt, có thể hợp, có thể bị khắc, nhưng ít khi đỡ được nhật chủ khi bị ép mạnh.
Phần mềm chấm điểm vượng nhược có tin được không?
Dùng để tham khảo. Mỗi phần mềm đặt hệ số khác nhau nên cùng một lá số có thể ra kết luận khác; quan trọng là tự hiểu được vì sao ra kết luận đó.
Nguồn tham khảo: Trích Thiên Tủy — thiên Suy vượng · Tử Bình Chân Thuyên — Thẩm Hiếu Chiêm — Luận dụng thần · Bộ máy âm lịch của aihuyenhoc.com và thư viện lunar-javascript — lập và đối chiếu hai lá số ví dụ