Nhật chủ: can ngày sinh là “ta”, chi ngày là cung phu thê, và cách đọc mười loại nhật chủ
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc
Nhật chủ là can của trụ ngày sinh, trong Bát Tự nó đại diện cho chính người ấy; mọi chữ khác được gọi tên theo quan hệ với nó. Chi ngày, ngay dưới nhật chủ, là chỗ "ta ngồi", nên được coi là cung phu thê, nơi của người gần mình nhất. Mười can cho mười loại nhật chủ, từ Giáp mộc đến Quý thủy.
Vì sao lấy ngày làm "ta"
Lối đoán mệnh bằng can chi trước Tống chủ yếu xét năm sinh. Hàn Dũ viết bia mộ cho Lý Hư Trung (đời Đường) kể, đại ý, ông dựa vào can chi của năm, tháng, ngày sinh để suy thọ yểu sang hèn, chưa thấy nói tới giờ. Đến Từ Tử Bình (tên Cư Dịch, sống cuối Ngũ Đại sang đầu Tống, theo truyền thống) thì phép đổi trọng tâm: lấy can ngày làm chủ, thêm trụ giờ cho đủ bốn trụ. Tên môn "Tử Bình" lấy từ tên chữ của ông.
Chúng tôi không thấy văn bản nào của chính Từ Tử Bình còn lại để biết ông lý luận thế nào. Lý lẽ thường được nêu thì dễ hiểu: năm sinh chung cho cả một thế hệ, cứ sáu mươi năm lặp lại; tháng sinh chung cho một mùa. Ngày là đơn vị nhỏ nhất có đủ cả can lẫn chi chạy liên tục, đủ để tách người này với người sinh cách đó vài hôm. Năm và tháng vì thế lùi về vai môi trường: gốc gác, thời thế, mùa khí mà nhật chủ sinh ra trong đó.
Một lối phân cung vị phổ biến trong sách Tử Bình:
| Trụ | Cung vị (đại ý) |
|---|---|
| Năm | tổ tiên, gốc gác, thời thơ ấu |
| Tháng | cha mẹ, anh chị em, môi trường lớn lên; nắm khí mùa |
| Ngày | can là bản thân; chi là bạn đời |
| Giờ | con cái, tuổi già, kết quả về sau |
Chi ngày, vì sao là cung phu thê
Can ngày và chi ngày đứng chung một trụ, gần nhau hơn bất kỳ cặp chữ nào khác trong tám chữ. Sách cổ hình dung nhật chủ "ngồi" trên chi ngày, nên chi ngày là người sát cạnh mình nhất trong đời trưởng thành: vợ hoặc chồng. Uyên Hải Tử Bình và các sách sau đều đọc chi ngày là cung vợ (với nam), cung chồng (với nữ), đại ý như vậy.
Cách đọc cung này không phải xem chi ngày "đẹp hay xấu", mà xem ba thứ:
- Thần của chi ngày đối với nhật chủ. Mậu ngồi trên Dần là ngồi trên Thất Sát; Giáp ngồi trên Ngọ là ngồi trên Thương Quan; Canh ngồi trên Thân là ngồi trên Lộc của mình. (Bảng tra ở bài thập thần.)
- Chi ngày là dụng hay kỵ khi đã cân xong lá số (thân vượng thân nhược). Chỗ ngồi là dụng thần thì sách đọc là được người bên cạnh nâng đỡ.
- Chi ngày hợp, xung với chi nào trong tứ trụ, trong đại vận và năm đang xét.
Sáu mươi cặp can chi ngày, mỗi cặp một kiểu "ngồi", có bảng tra riêng ở bài 60 nhật trụ.
Mười loại nhật chủ
Trích Thiên Tủy mở phần thiên can bằng mười đoạn thơ, mỗi can một đoạn. Hai câu đầu của mỗi đoạn là hình ảnh gốc mà các thầy đời sau vẫn dùng.
| Nhật chủ | Hình tượng | Câu mở trong Trích Thiên Tủy | Dịch | Bài riêng |
|---|---|---|---|---|
| Giáp, dương Mộc | cây lớn | Giáp mộc tham thiên, thoát thai yếu hoả | cây Giáp vươn chạm trời; thoát khỏi vỏ hạt cần có lửa | Giáp Mộc |
| Ất, âm Mộc | cỏ hoa, dây leo | Ất mộc tuy nhu, khuê dương giải ngưu | cây Ất tuy mềm, mà "xẻ dê mổ trâu", tức bám rễ được cả trên đất Mùi, đất Sửu | Ất Mộc |
| Bính, dương Hoả | mặt trời | Bính hoả mãnh liệt, khi sương vũ tuyết | lửa Bính dữ dội, coi khinh sương tuyết | Bính Hoả |
| Đinh, âm Hoả | ngọn đèn, ánh nến | Đinh hoả nhu trung, nội tính chiêu dung | lửa Đinh mềm mà ở giữa, bên trong sáng và hoà | Đinh Hoả |
| Mậu, dương Thổ | núi, đê, tường thành | Mậu thổ cố trọng, ký trung thả chính | đất Mậu vững và nặng, đã ở giữa lại ngay | Mậu Thổ |
| Kỷ, âm Thổ | ruộng vườn, đất ẩm | Kỷ thổ ti thấp, trung chính súc tàng | đất Kỷ thấp và ẩm, ngay thẳng mà chứa giữ | Kỷ Thổ |
| Canh, dương Kim | quặng, rìu, đá | Canh kim đới sát, cương kiện vi tối | kim Canh mang sát khí, cứng mạnh bậc nhất | Canh Kim |
| Tân, âm Kim | châu ngọc, trang sức | Tân kim nhuyễn nhược, ôn nhuận nhi thanh | kim Tân mềm yếu, ấm nhuận mà trong | Tân Kim |
| Nhâm, dương Thủy | sông lớn, biển | Nhâm thủy thông hà, năng tiết kim khí | nước Nhâm thông với sông Ngân, rút được khí Kim | Nhâm Thủy |
| Quý, âm Thủy | mưa, sương, mạch ngầm | Quý thủy chí nhược, đạt ư thiên tân | nước Quý yếu nhất, mà lên tới bến trời | Quý Thủy |
Đọc bảng nên nhớ một điều: hình tượng chỉ là điểm xuất phát. Câu "thoát thai yếu hoả" của Giáp không phải lời phán về tính cách, mà là một chỉ dẫn kỹ thuật: Giáp mộc cần Hoả để tú khí phát ra ngoài. Mỗi đoạn thơ của Trích Thiên Tủy đều mang loại chỉ dẫn ấy, nói can này cần gì, sợ gì, hợp với gì. Mười bài nhật chủ đi sâu từng đoạn.
Vài cặp "cần" quen thuộc mà sách đời sau hay nhắc: Đinh hoả cần Giáp mộc làm củi; Canh kim cần Đinh hoả rèn mới thành đồ; Tân kim ưa Nhâm thủy rửa cho sáng; Nhâm thủy cần Mậu thổ đắp bờ; Mậu, Kỷ thổ đầu xuân cần Bính hoả sưởi. Đó là những hình ảnh đại ý, mức độ đúng còn tuỳ mùa sinh và cả lá số.
Đọc một nhật chủ qua ba lớp
Một nhật chủ được đọc qua ba lớp, theo thứ tự:
- Can gì. Mười loại như bảng trên.
- Sinh mùa nào, mạnh hay yếu. Cùng là Giáp mộc, sinh tháng Dần (đầu xuân, Mộc vượng) khác hẳn sinh tháng Dậu (giữa thu, Mộc tử). Đây là lớp nặng nhất.
- Ngồi trên chi gì. Thần của chi ngày, như đã nói ở trên.
Ví dụ người sinh 9 giờ 30 ngày 5/2/1997 có tứ trụ Đinh Sửu – Nhâm Dần – Mậu Dần – Đinh Tỵ. Lớp một: Mậu thổ, ngọn núi. Lớp hai: núi đầu xuân, khí còn lạnh, Mộc đang lên làm đất bị xới. Lớp ba: ngồi trên Dần, tức Thất Sát, có Bính hoả và Mậu thổ ẩn bên trong. Ba lớp gộp lại mới thành một câu đọc có nghĩa: ngọn núi đầu xuân, chịu sức ép của cây cỏ đang lên, nhưng trong lòng có lửa ấm và có đất cùng loại làm gốc.
Sách cổ nói gì
Giáp mộc tham thiên, thoát thai yếu hoả.
Dịch: Cây Giáp vươn chạm trời; muốn thoát thai, cần có lửa. — Trích Thiên Tủy, thiên Thiên can
Quý thủy chí nhược, đạt ư thiên tân.
Dịch: Nước Quý yếu nhất, mà đạt tới bến trời. — Trích Thiên Tủy, thiên Thiên can
Bình: hai câu đầu và cuối của mười đoạn cho thấy cách Trích Thiên Tủy nghĩ về nhật chủ: không có can nào chỉ mạnh hay chỉ yếu. Giáp to lớn mà phải nhờ lửa mới "thoát thai"; Quý yếu nhất mà bốc hơi lên được tận trời. Sách Trích Thiên Tủy theo truyền thống gắn với tên Kinh Đồ và lời chú của Lưu Bá Ôn; văn bản hiện còn và được dùng nhiều nhất là bản chú của Nhâm Thiết Tiều đời Thanh. Việc Lưu Bá Ôn chú sách là lời truyền, chưa có bằng chứng văn bản đời Minh đi kèm.
Uyên Hải Tử Bình, đại ý, nêu phép lấy ngày làm chủ: can ngày là thân, các chữ khác là Tài, Quan, Ấn… xét theo nó. Đây là chỗ Tử Bình tách hẳn khỏi lối lấy năm làm chủ của các phép xưa hơn.
Đọc cho đúng mức
- Nhật chủ một mình không phải là "tử vi mười loại người". Cứ mười người thì có một người cùng nhật chủ với bạn. Đọc tính cách chỉ từ can ngày dễ thành câu chung chung ai đọc cũng thấy đúng, hiện tượng tâm lý học gọi là hiệu ứng Barnum.
- Cung phu thê ở chi ngày là một tầng đọc, không phải lời phán về hôn nhân. Sách cổ đọc chi ngày trong bối cảnh gia đình xưa; đem một chữ ra kết luận hôn nhân của người thật là đọc quá tay.
- Giờ Tý đêm làm đổi nhật chủ: sinh 23 – 24 giờ, tuỳ phái mà nhật chủ là can của ngày đó hay ngày hôm sau. Người sinh khung giờ này nên lập cả hai lá số.
- Tử Vi Đẩu Số không có khái niệm nhật chủ; can ngày không dùng để an sao. Hai môn lấy "ta" ở hai chỗ khác nhau.
Việc nên làm
- Lập đúng trụ ngày, nhất là khi sinh gần nửa đêm.
- Tìm nhật chủ của mình trong bảng mười can, đọc câu Trích Thiên Tủy tương ứng như một chỉ dẫn "cần gì, sợ gì".
- Xác định mùa sinh và chi ngày, ghi ba lớp đọc như ví dụ trên.
- Đọc bài riêng về nhật chủ của mình, rồi mới đọc sang thập thần và thân vượng nhược.
Xem lá số tử vi của chính bạn
Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.
Lập lá số miễn phíNguồn tham khảo
- Trích Thiên Tủy — thiên Thiên can, mười đoạn mở (hai câu đầu mỗi đoạn, nguyên văn); bản chú Trích Thiên Tủy Xiển Vi của Nhâm Thiết Tiều.
- Uyên Hải Tử Bình — phép lấy ngày làm chủ, nhật chi là cung vợ chồng (đại ý).
- Hàn Dũ — văn bia mộ Điện trung thị ngự sử Lý quân (Lý Hư Trung), về phép dùng năm, tháng, ngày sinh (đại ý).
- Bộ máy âm lịch của aihuyenhoc.com (`app/Core/TuVi/AmLich.php`) — tứ trụ ví dụ.
Câu hỏi thường gặp
Làm sao biết nhật chủ của mình?
Lấy can của trụ ngày sinh. Ví dụ sinh ngày Mậu Dần thì nhật chủ là Mậu thổ. Can chi ngày tra ở lịch vạn niên hoặc tính theo số ngày Julius.
Nhật chủ khác mệnh nạp âm như thế nào?
Nhật chủ là can ngày, một trong mười can. Mệnh nạp âm là tên gọi của cặp can chi năm sinh như Giản Hạ Thủy, dùng trong xem tuổi; hai thứ không liên quan trực tiếp.
Hai người cùng nhật chủ có giống nhau không?
Không. Cùng can ngày nhưng khác tháng sinh, khác chi ngày, khác các trụ còn lại thì cán cân lá số khác hẳn; nhật chủ chỉ là điểm xuất phát.
Vì sao chi ngày được gọi là cung phu thê?
Vì nó đứng ngay dưới nhật chủ, trong cùng một trụ, gần hơn mọi chữ khác. Sách cổ coi đó là chỗ nhật chủ ngồi, tức người sát cạnh mình nhất.
Nhật chủ có đổi theo năm tháng không?
Không. Nhật chủ là can ngày sinh, cố định suốt đời. Cái đổi là đại vận và lưu niên đi qua, tác động lên nhật chủ đó.
Nguồn tham khảo: Trích Thiên Tủy — thiên Thiên can · Uyên Hải Tử Bình — lấy ngày làm chủ; nhật chi là cung vợ chồng · Hàn Dũ — văn bia mộ Lý Hư Trung · Bộ máy âm lịch của aihuyenhoc.com (app/Core/TuVi/AmLich.php)