Phi Đằng Bát Pháp: anh em đơn giản của Linh Quy Bát Pháp

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc

Phi Đằng Bát Pháp: anh em đơn giản của Linh Quy Bát Pháp

Phi Đằng Bát Pháp là một phép thời châm cổ, chọn một trong tám huyệt giao hội bát mạch chỉ dựa vào can của giờ: giờ Giáp, Nhâm ứng Công Tôn, giờ Bính ứng Nội Quan, giờ Ất, Quý ứng Thân Mạch… Nó dùng cùng tám huyệt với Linh Quy Bát Pháp nhưng cách tính khác hẳn, nên hai phép hiếm khi chỉ cùng một huyệt.

Kiến thức văn hoá, không thay cho khám chữa bệnh. Bài so sánh hai cách tính của sách cổ để hiểu lịch sử thời châm, không hướng dẫn châm, bấm huyệt hay chọn giờ chữa bệnh. Châm cứu chỉ nên do người hành nghề có chứng chỉ thực hiện sau khi khám. Có triệu chứng bất thường, hãy đi khám.

Bài Linh Quy Bát Pháp đã giải phép tính bốn con số chia 9 hoặc 6 và chỉ nhắc Phi Đằng trong một đoạn. Bài này đặt hai phép cạnh nhau để chỉ ra chỗ khác ở gốc: Linh Quy lấy số Lạc Thư, Phi Đằng lấy phép nạp giáp của Kinh Dịch; và chúng tôi chạy máy so cả 720 giờ của một vòng sáu mươi ngày.

Tám huyệt chung của hai phép

Cả hai phép dùng tám huyệt ở tay chân mà sách châm cứu coi là chỗ giao hội của tám mạch kỳ kinh. Theo truyền thống, Đậu Hán Khanh đời Kim – Nguyên chép bộ tám huyệt này trong Châm Kinh Chỉ Nam:

HuyệtThông với mạch
Công TônXung mạch
Nội QuanÂm Duy mạch
Lâm Khấp (túc)Đới mạch
Ngoại QuanDương Duy mạch
Hậu KhêĐốc mạch
Thân MạchDương Kiểu mạch
Liệt KhuyếtNhâm mạch
Chiếu HảiÂm Kiểu mạch

Bộ tám huyệt có trước; hai phép "chọn giờ" là lớp được dựng thêm lên trên. Cùng một bộ huyệt, người đời sau nghĩ ra hai cách gán thời gian khác nhau.

Phi Đằng: can giờ đi qua bát quái

Bài ca Phi Đằng bát pháp, được Châm Cứu Đại Thành của Dương Kế Châu chép lại, đại ý gán mỗi can giờ cho một quẻ, mỗi quẻ một huyệt:

Can của giờQuẻHuyệt
Giáp, NhâmCànCông Tôn
Ất, QuýKhônThân Mạch
BínhCấnNội Quan
ĐinhĐoàiChiếu Hải
MậuKhảmLâm Khấp
KỷLyLiệt Khuyết
CanhChấnNgoại Quan
TânTốnHậu Khê

Cột "can – quẻ" không phải tự nghĩ ra. Đó đúng là phép bát quái nạp giáp của dịch học đời Hán, gắn với tên Kinh Phòng: Càn nạp Giáp, Nhâm; Khôn nạp Ất, Quý; Cấn nạp Bính; Đoài nạp Đinh; Khảm nạp Mậu; Ly nạp Kỷ; Chấn nạp Canh; Tốn nạp Tân. Mười can chia cho tám quẻ, nên Càn và Khôn mỗi quẻ nhận hai can.

Vì thế cái tên "anh em" khá đúng: Phi Đằng và Linh Quy cùng dùng tám quẻ, tám huyệt, nhưng dịch lý ở dưới khác nhau. Linh Quy đi qua số Lạc Thư (Khảm 1, Khôn 2, Chấn 3…), Phi Đằng đi qua nạp giáp.

Cùng quẻ mà khác huyệt

So bảng quẻ – huyệt của hai phép thấy một điều bất ngờ: hai phép không chỉ khác cách tính mà còn gán huyệt cho quẻ khác nhau ở bốn quẻ.

QuẻLinh Quy Bát PhápPhi Đằng Bát Pháp
CànCông TônCông Tôn
CấnNội QuanNội Quan
ChấnNgoại QuanNgoại Quan
LyLiệt KhuyếtLiệt Khuyết
KhảmThân MạchLâm Khấp
KhônChiếu HảiThân Mạch
TốnLâm KhấpHậu Khê
ĐoàiHậu KhêChiếu Hải

Bốn quẻ Càn, Cấn, Chấn, Ly trùng; bốn quẻ còn lại đổi chỗ vòng tròn. Chúng tôi chưa thấy sách cổ giải vì sao; có thể hai bài ca hình thành ở hai dòng truyền khác nhau. Đây là chỗ người học hay nhầm khi chép bảng của phép này sang phép kia.

Hai phép trùng nhau bao nhiêu

Chúng tôi lập bằng mã cả hai phép theo đúng hai bài ca (Linh Quy theo bảng số ngày giờ ở bài Linh Quy Bát Pháp), chạy qua đủ 60 ngày can chi, mỗi ngày 12 giờ, tức 720 giờ. Kết quả:

  • Hai phép chỉ cùng chỉ một huyệt ở 90 trên 720 giờ, tức 12,5%, đúng bằng mức trùng ngẫu nhiên khi chọn bừa một trong tám huyệt.
  • Phi Đằng chia đều: Công Tôn và Thân Mạch mỗi huyệt 20% số giờ (vì mỗi quẻ nhận hai can), sáu huyệt kia mỗi huyệt 10%.
  • Linh Quy rất lệch: Chiếu Hải chiếm hơn 30% số giờ (vì cả số 2 và số 5 đều về Khôn), còn Hậu Khê, Nội Quan, Liệt Khuyết mỗi huyệt chỉ khoảng 4%.

Ví dụ hai ngày đầu Tết Đinh Mùi (can chi ngày tính bằng bộ âm lịch của site):

GiờMùng 1 Tết (Bính Thìn): Linh QuyPhi ĐằngMùng 2 Tết (Đinh Tỵ): Linh QuyPhi Đằng
TýLâm KhấpLâm KhấpChiếu HảiNgoại Quan
DầnChiếu HảiNgoại QuanLâm KhấpCông Tôn
ThìnThân MạchCông TônChiếu HảiCông Tôn
TỵNội QuanThân MạchNgoại QuanThân Mạch
NgọNội QuanCông TônThân MạchNội Quan
MùiCông TônThân MạchChiếu HảiChiếu Hải
DậuChiếu HảiChiếu HảiCông TônLiệt Khuyết
HợiNgoại QuanLiệt KhuyếtChiếu HảiHậu Khê

Trong 16 giờ của bảng, chỉ có 3 giờ hai phép trùng. Hai bài ca được chép cạnh nhau trong cùng một bộ sách, mà kết quả gần như độc lập với nhau.

Vì sao có phép "đơn giản" bên cạnh phép "khó"

Linh Quy cần biết can chi của cả ngày và giờ, nhớ hai bảng số, rồi cộng chia. Phi Đằng chỉ cần biết can của giờ, mà can giờ thì suy ra được từ can ngày bằng phép Ngũ Thử Độn. Với người thầy thuốc xưa không có lịch in sẵn trong tay, sự giản tiện ấy có giá trị thật. Một hệ quả của sự giản tiện: Phi Đằng lặp lại sau mỗi năm ngày (vì can giờ chỉ phụ thuộc can ngày theo cặp Giáp Kỷ, Ất Canh…), còn Linh Quy phải sáu mươi ngày mới lặp.

Cái giá của sự giản tiện là Phi Đằng không dùng địa chi và không dùng ngày. Hai giờ khác hẳn nhau trong ngày mà cùng can (như giờ Giáp Tý và giờ Giáp Tuất) cho cùng một huyệt.

Sách cổ nói gì

Châm Cứu Đại Thành chép bài ca Phi Đằng bát pháp, đại ý: Nhâm, Giáp ở Càn ứng Công Tôn; Bính ở Cấn ứng Nội Quan; Mậu ở Khảm ứng Lâm Khấp; Canh ở Chấn ứng Ngoại Quan; Tân ở Tốn ứng Hậu Khê; Ất, Quý ở Khôn ứng Thân Mạch; Kỷ ở Ly ứng Liệt Khuyết; Đinh ở Đoài ứng Chiếu Hải. Cùng bộ sách chép bài ca Linh Quy bát pháp với bảng số ngày giờ và phép chia 9, chia 6.

Kinh Phòng Dịch truyện, phần nạp giáp, đại ý: Càn, Khôn bao trùm đầu cuối mười can nên nhận Giáp Nhâm và Ất Quý; sáu quẻ con mỗi quẻ một can. Đây là lý thuyết dịch học đời Hán, về sau được dùng rộng trong bốc phệ (Lục Hào) và trong cả phép thời châm.

Bình: chúng tôi chỉ dẫn đại ý vì các bản bài ca chép chữ không đồng nhất. Điều đáng ghi nhận là thời châm cổ không đứng riêng: nó mượn trực tiếp công cụ của dịch học, từ số Lạc Thư tới nạp giáp. Đọc Phi Đằng cũng là đọc một chương của lịch sử dịch học ứng dụng.

Đọc cho đúng mức

  • Hai phép là quy ước, không phải phép đo. Chúng chỉ trùng nhau ở mức ngẫu nhiên, nên không thể cùng phản ánh một "giờ mở huyệt" có thật.
  • Không có bằng chứng vững cho thấy châm theo Phi Đằng hay Linh Quy tốt hơn châm không theo giờ.
  • Bảng trong bài không phải lịch dùng huyệt. Không tự bấm, tự châm theo giờ.
  • Các bản bài ca có thể khác nhau ở vài chỗ; bảng ở đây theo bản phổ biến được chép trong Châm Cứu Đại Thành.

Việc nên làm

  1. Nếu đọc sách châm cứu cổ, ghi rõ bảng nào là Linh Quy, bảng nào là Phi Đằng; đừng chép lẫn bảng quẻ – huyệt của hai phép.
  2. Muốn hiểu phép nạp giáp của dịch học, xem cách nó được dùng trong bốc phệ Lục Hào; muốn hiểu số Lạc Thư, xem bài Hà Đồ, Lạc Thư.
  3. Đọc thêm hai phép thời châm còn lại: Tý Ngọ Lưu Chú và nạp tử, nạp giáp.
  4. Có vấn đề sức khoẻ, đi khám; nếu muốn dùng châm cứu, tìm người hành nghề có chứng chỉ.
📅Lịch âm – lịch vạn niên
Lịch tháng âm dương, can chi, tiết khí, ngày hoàng đạo.
Mở

Nguồn tham khảo

  • Dương Kế Châu, Châm Cứu Đại Thành (1601) — bài ca Phi Đằng bát pháp, bài ca Linh Quy bát pháp (đại ý).
  • Kinh Phòng Dịch truyện — phép bát quái nạp giáp (đại ý).
  • Đậu Hán Khanh, Châm Kinh Chỉ Nam — tám huyệt giao hội bát mạch (đại ý).
  • Bảng so sánh 720 giờ: lập bằng mã theo hai bài ca (bảng số Linh Quy theo bài Linh Quy Bát Pháp của site); can chi ngày Tết 2027 tính bằng bộ âm lịch aihuyenhoc.com.

Câu hỏi thường gặp

Phi Đằng Bát Pháp là gì?

Là phép thời châm cổ chọn một trong tám huyệt giao hội bát mạch theo can của giờ: giờ Giáp, Nhâm ứng Công Tôn; Ất, Quý ứng Thân Mạch; Bính ứng Nội Quan; Đinh ứng Chiếu Hải; Mậu ứng Lâm Khấp; Kỷ ứng Liệt Khuyết; Canh ứng Ngoại Quan; Tân ứng Hậu Khê.

Phi Đằng khác Linh Quy Bát Pháp ở đâu?

Linh Quy dùng can chi cả ngày lẫn giờ, đổi ra số rồi chia 9 hoặc 6, tra theo số Lạc Thư. Phi Đằng chỉ dùng can của giờ, gán theo phép nạp giáp bát quái. Hai phép còn gán huyệt khác nhau cho bốn quẻ Khảm, Khôn, Tốn, Đoài.

Hai phép có cho cùng kết quả không?

Hiếm. Theo tính toán của chúng tôi trên 720 giờ của một vòng sáu mươi ngày, hai phép chỉ trùng huyệt ở 90 giờ, khoảng 12,5%, tương đương mức trùng ngẫu nhiên.

Nạp giáp bát quái là gì?

Là phép dịch học đời Hán, gắn với Kinh Phòng, gán mười thiên can cho tám quẻ: Càn nhận Giáp, Nhâm; Khôn nhận Ất, Quý; Cấn Bính, Đoài Đinh, Khảm Mậu, Ly Kỷ, Chấn Canh, Tốn Tân. Phi Đằng Bát Pháp dùng đúng bảng này.

Có nên tự bấm huyệt theo Phi Đằng không?

Không nên. Đây là một phép tính của sách cổ, chưa có bằng chứng vững về hiệu quả. Có triệu chứng thì đi khám; châm cứu nên do người hành nghề có chứng chỉ thực hiện.

Nguồn tham khảo: Châm Cứu Đại Thành — Dương Kế Châu (1601) — bài ca Phi Đằng bát pháp, bài ca Linh Quy bát pháp · Kinh Phòng Dịch truyện — phép bát quái nạp giáp · Châm Kinh Chỉ Nam — Đậu Hán Khanh — tám huyệt giao hội bát mạch · Bảng so sánh 720 giờ (60 ngày × 12 giờ) lập bằng mã theo hai bài ca; can chi ngày Tết 2027 tính bằng bộ âm lịch aihuyenhoc.com

Trăng tròn, trăng khuyết và khí huyết: "nguyệt sinh vô tả, nguyệt mãn vô bổ" trong Tố VấnTrăng và sức khoẻ trong Đông y: Tố Vấn dặn trăng mới đừng tả, trăng tròn đừng bổ; Linh Khu bàn tam hư tam thực; nghiên cứu trăng …
Thập can hoá vận: vì sao Giáp Kỷ hoá Thổ, Ất Canh hoá Kim theo Tố VấnThập can hoá vận trong Tố Vấn: năm luồng khí màu vắt qua hai mươi tám tú, vị trí trên vòng hai mươi bốn hướng, và chỗ khác với ca…
Vận Khí Bí Điển của Hải Thượng Lãn Ông: người Việt đọc vận khí thế nàoVận Khí Bí Điển của Hải Thượng Lãn Ông (1786): ghép xem mây gió với chủ khí khách khí; Nội Kinh dặn đọc theo địa thế, và Lãn Ông …
Khai, hợp, xu: cách Nội Kinh xếp ba âm ba dương như cánh cửaKhai, hợp, xu trong Tố Vấn: Thái Dương là cửa mở, Dương Minh cửa đóng, Thiếu Dương là trục; dị bản chữ quan (then cửa) và nối san…
Ngũ vận lục khí có dự báo đúng thời tiết không? Nhìn lại các nghiên cứu đối chiếuNgũ vận lục khí có đúng không: các nghiên cứu đối chiếu vận khí với số liệu khí tượng cho kết quả lẫn lộn; tranh luận từ Thẩm Quá…
Linh Quy Bát Pháp: thời châm dựa trên bát quái và can chiLinh Quy Bát Pháp: phép thời châm cổ chọn một trong tám huyệt giao hội bát mạch theo can chi ngày giờ và số Lạc Thư. Nguồn gốc, c…