Tự học tử vi bắt đầu từ đâu: lộ trình sáu tháng theo tuần, sách cho từng chặng và những thứ nên để sau

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc

Tự học tử vi bắt đầu từ đâu: lộ trình sáu tháng theo tuần, sách cho từng chặng và những thứ nên để sau

Tự học tử vi nên bắt đầu từ âm lịch, can chi và cách an một lá số bằng tay, rồi mới tới tính chất sao, cung, cách cục và cuối cùng là vận hạn. Sáu tháng, mỗi ngày chừng bốn mươi lăm phút, đủ để đọc trọn một lá số ở mức cơ bản. Phi hoá Tứ Hoá và các lớp sao lưu nên để sau sáu tháng ấy.

Vì sao phải có thứ tự

Một lá số Việt đầy đủ có hơn một trăm tên sao: bộ máy của site an 71 sao, cộng ba vòng mười hai sao (Tràng Sinh, Bác Sĩ, Thái Tuế), chưa kể Tuần, Triệt và các sao lưu theo năm. Người mới mở lá số ra là ngợp, rồi lên mạng đọc lẻ từng sao, mỗi trang một ý, sau ba tháng biết nhiều tên mà không đọc nổi một lá.

Cách tránh là học theo lớp, mỗi lớp có một bài kiểm cụ thể, qua được mới sang lớp sau. Phần lớn sức nặng của lá số nằm ở khoảng ba mươi sao lõi:

NhómSaoSố lượng
Chính tinhTử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân14
Lục cátTả Phù, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt6
Lục sátKình Dương, Đà La, Hoả Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp6
Lộc, MãLộc Tồn, Thiên Mã2
Tứ HoáHoá Lộc, Hoá Quyền, Hoá Khoa, Hoá Kỵ4

Ba mươi hai tên ấy là thứ học kỹ trong ba tháng đầu. Bảy mươi tên còn lại học dần, khi đã có chỗ để treo chúng vào.

Lộ trình sáu tháng, sáu chặng

Chặng 1 (tuần 1 – 3): lịch, can chi, địa bàn

Học: âm lịch và vì sao ngày âm đổi theo năm; mười can, mười hai chi; ngũ hành sinh khắc; âm dương của can chi; mười hai ô địa bàn, vị trí cố định của từng chi. Làm: lấy ngày sinh của mười người trong nhà, đổi sang âm lịch bằng công cụ lá số, ghi can chi năm. Bài kiểm: nhẩm được can năm từ số cuối của năm dương (4 là Giáp, 5 Ất, 6 Bính, 7 Đinh, 8 Mậu, 9 Kỷ, 0 Canh, 1 Tân, 2 Nhâm, 3 Quý); chỉ vào một ô địa bàn nói ngay tên chi, hành, âm dương.

Chặng 2 (tuần 4 – 7): an lá số bằng tay

Học: an Mệnh, Thân theo tháng và giờ; can mười hai cung; cục từ nạp âm cung Mệnh; an Tử Vi bằng phép chia, kéo ra mười bốn chính tinh; an ba mươi hai sao lõi. Làm: mỗi tuần an tay ba lá số, đối chiếu với công cụ, ghi lại lỗi sai thuộc bước nào. Tài liệu: bài lập lá số bằng tay và bài cách an sao Tử Vi theo ngày sinh. Bài kiểm: mười lá số liên tiếp an tay không sai ô nào ở ba mươi hai sao lõi.

Chặng này nhiều người muốn bỏ vì "đã có máy". Đừng bỏ. Người tự an được mới hiểu vì sao Thiên Cơ luôn đứng sát Tử Vi, lùi một ô, vì sao cung vô chính diệu luôn đối diện một cặp sao, và mới tự phát hiện được khi một trang lập sai.

Chặng 3 (tuần 8 – 12): mười bốn chính tinh và độ sáng

Học: mỗi tuần ba sao. Với mỗi sao: ngũ hành, hoá khí, ba chữ khoá tính chất, nghĩa khi sáng, nghĩa khi hãm, các sao hay đứng cùng. Học bảng miếu, vượng, đắc, hãm song song. Làm: viết tay cho mỗi sao một trang, không chép, tự diễn đạt. Đọc thêm bài mười bốn chính tinh. Bài kiểm: nhìn mười hai bàn chính tinh (Tử Vi ở mười hai ô), nói được mỗi cung có sao gì, sáng hay tối, không cần tra.

Chặng 4 (tuần 13 – 16): mười hai cung, cung Thân, Tứ Hoá năm sinh

Học: tên và việc của mười hai cung; tam phương tứ chính, xung chiếu, giáp cung; cung Thân; Tứ Hoá theo mười can và cách đặt vào lá số. Làm: lấy lá số của năm người thân mà mình biết rõ đời họ, mỗi lá viết năm dòng về Mệnh, Thân, Quan Lộc, Tài Bạch, Phu Thê; đưa họ đọc, ghi lại chỗ đúng chỗ trật. Tài liệu: bài mười hai cung, cung Thân và các bài Tứ Hoá. Bài kiểm: cho một cung bất kỳ, kể đủ bốn cung trong tam phương tứ chính của nó trong năm giây.

Chặng 5 (tuần 17 – 20): cách cục, Tuần Triệt, phụ tinh hạng hai

Học: mười lăm cách cục hay gặp (Tử Phủ đồng cung, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Sát Phá Tham, Nhật Nguyệt tịnh minh…); Tuần, Triệt; nhóm phụ tinh hạng hai như Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ, Thiên Hình, Thiên Diêu, Thiên Khốc, Thiên Hư, Cô Thần, Quả Tú. Tài liệu: các bài cách cục và bài Tuần Triệt. Làm: với năm lá số của chặng trước, tìm xem có cách nào thành, cách nào bị phá. Bài kiểm: đọc một cung có sáu, bảy sao mà xếp được sao nào nói trước, sao nào chỉ thêm sắc.

Chặng 6 (tuần 21 – 26): vận hạn ở mức cơ bản

Học: đại vận mười năm (tuổi khởi vận theo cục, chiều đi theo âm dương nam nữ); tiểu vận; lưu niên với ba lớp: lưu Thái Tuế, lưu Lộc Tồn và Kình Đà, lưu Tứ Hoá theo can năm xem. Làm: lấy lá số của ba người lớn tuổi trong nhà, kẻ dòng thời gian đại vận từ nhỏ tới nay, đặt cạnh những năm có việc lớn đã xảy ra. Đây là bước "nghiệm", quý nhất trong cả lộ trình. Bài kiểm: đọc trọn một lá số theo thứ tự tám bước ở bài cách đọc lá số trong ba mươi phút, có ghi chép.

Sách cho từng chặng

ChặngĐọc chínhĐọc thêm
1 – 2Tử Vi Đẩu Số Tân Biên (Thái Thứ Lang), phần an saocác bài nhập môn của site để đối chiếu từng bước
3Tân Biên, phần tính chất saoTử Vi Đẩu Số Toàn Thư, bản dịch, đọc Thái Vi Phú và Cốt Tủy Phú
4 – 5Tân Biên, phần cung và cách cụcToàn Thư, các câu phú về cách cục
6Tân Biên, phần vận hạnTử Vi Nghiệm Lý của tác giả bút hiệu Thiên Lương, đọc các lá số nghiệm
Sau sáu thángtài liệu Phi Tinh Tứ Hoá (Đài Loan)giảng nghĩa Trung Châu phái của Vương Đình Chi

Ba lời dặn khi đọc sách:

  • Toàn Thư có nhiều bản dịch, chất lượng khác nhau. Câu phú quan trọng thì đọc hai bản, thấy lệch thì ghi cả hai, đừng chọn bản nghe hay hơn.
  • Sách Việt và sách Trung Hoa lệch nhau ở vài sao và ở bảng độ sáng. Học một phái cho thạo rồi hãy so (xem bài tử vi Việt Nam và Trung Quốc).
  • Câu phú là kết luận nén lại, không phải luật. Đọc phú khi đã an thạo và hiểu sao; đọc sớm là học thuộc lời phán mà không biết nó đúng trong điều kiện nào.

Những thứ nên để sau sáu tháng

Phi hoá Tứ Hoá. Mỗi cung có một can, mỗi can phát ra bốn hoá, mười hai cung là bốn mươi tám đường bay trên một lá số, chưa kể tự hoá. Người chưa thuộc can cung và Tứ Hoá năm sinh mà học phi hoá sẽ thấy đường bay nào cũng "có nghĩa", và lá số nào cũng đọc ra được mọi chuyện. Đó là dấu hiệu đọc quá tay, không phải dấu hiệu giỏi.

Lưu sao đủ bộ. Lưu Thái Tuế, lưu Lộc, lưu Tứ Hoá là đủ cho năm đầu. Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ, lưu Khốc Hư, lưu Thiên Mã, rồi lưu nguyệt, lưu nhật, Đẩu Quân… thêm từng lớp là thêm từng chồng sao lên mỗi cung. Học sớm thì năm nào cũng thấy "hạn".

Bảy mươi phụ tinh nhỏ. Biết tên là được, chưa cần thuộc nghĩa. Khi đã đọc vững ba mươi hai sao lõi, nghĩa của sao nhỏ tự có chỗ đứng.

Đoán giờ sinh, xem cho người khác chuyện hệ trọng. Đoán giờ cần đọc vận thạo; luận cho người khác về hôn nhân, sức khoẻ, tiền bạc cần thêm hiểu biết ngoài tử vi và sự cẩn trọng với lời nói của mình.

Sách cổ nói gì

Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi.

Dịch: Học mà không nghĩ thì mờ mịt, nghĩ mà không học thì nguy. — Luận Ngữ, thiên Vi Chính

Bình: câu này hợp với người học tử vi đến lạ. "Học mà không nghĩ" là thuộc làu câu phú, bảng sao mà không tự an, không tự nghiệm, gặp lá số thật là lúng túng. "Nghĩ mà không học" là tự suy diễn từ vài lá số quen, đặt ra luật riêng, càng lúc càng xa sách. Lộ trình ở trên xen kẽ hai việc ấy ở mọi chặng: mỗi chặng đều có phần đọc và phần tự làm.

Toàn Thư tự nó cũng dạy theo lối ấy: phần an sao ghi thành quyết ngắn để thuộc, phần phú (Thái Vi Phú, Cốt Tủy Phú) là kết luận nén lại, đại ý nhắc người đọc phải xem Mệnh, Thân, hạn cùng nhau chứ không đoán từ một sao.

Đọc cho đúng mức

  • Sáu tháng cho bạn một nền vững, không cho bạn tư cách phán đời người khác. Người luận giỏi thường đã nghiệm hàng trăm lá số qua nhiều năm.
  • Tử vi là một hệ lý số cổ để suy ngẫm về mình, không phải công cụ quyết định thay mình. Học để hiểu mình rõ hơn là đủ đáng công.
  • Tốc độ mỗi người khác nhau. Không qua được bài kiểm thì ở lại chặng đó thêm một tuần, đừng vội sang chặng sau.

Việc nên làm

  • Chọn ngay hôm nay một cuốn sổ riêng cho việc học, chia sáu phần theo sáu chặng.
  • Bắt đầu chặng 1 bằng chính lá số của mình: đổi ngày sinh sang âm lịch, ghi can chi, đánh dấu ô Mệnh trên địa bàn.
  • Mỗi cuối tuần làm bài kiểm của chặng, ghi ngày qua được.
  • Chọn ba người lớn tuổi trong nhà, xin phép từ đầu để dùng lá số của họ cho bước nghiệm ở chặng 6.

Xem lá số tử vi của chính bạn

Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.

Lập lá số miễn phí

Nguồn tham khảo

  • Luận Ngữ — thiên Vi Chính (nguyên văn).
  • Vân Đằng Thái Thứ Lang — Tử Vi Đẩu Số Tân Biên.
  • Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — Thái Vi Phú, Cốt Tủy Phú (đại ý).
  • Tử Vi Nghiệm Lý — tác giả bút hiệu Thiên Lương.
  • Số sao trên một lá số và số đường phi hoá: đếm theo bộ máy Tử Vi phái Việt của aihuyenhoc.com (`app/Core/TuVi`).

Câu hỏi thường gặp

Học tử vi mất bao lâu?

Khoảng sáu tháng, mỗi ngày bốn mươi lăm phút, để đọc trọn một lá số ở mức cơ bản. Đọc sâu và đọc vận vững thì cần thêm nhiều năm nghiệm lá số thật.

Có cần học thuộc hết hơn một trăm sao không?

Không. Ba mươi hai sao lõi (mười bốn chính tinh, lục cát, lục sát, Lộc Tồn, Thiên Mã, Tứ Hoá) mang phần lớn sức nặng; các sao còn lại học dần.

Đã có phần mềm lập lá số thì còn cần an tay không?

Có. An tay vài chục lá số là cách nhanh nhất để hiểu cấu trúc lá số và tự phát hiện khi một trang lập sai hoặc theo phái khác.

Nên đọc cuốn sách nào đầu tiên?

Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Thái Thứ Lang, phần an sao và tính chất sao, vì lá số Việt phổ biến hiện nay theo đường của sách này.

Khi nào thì học phi tinh Tứ Hoá?

Sau khi đã thuộc can mười hai cung, Tứ Hoá năm sinh và đọc vững mười hai cung, thường là sau sáu tháng đầu. Học sớm dễ đọc quá tay.

Nguồn tham khảo: Luận Ngữ — thiên Vi Chính · Tử Vi Đẩu Số Tân Biên — Vân Đằng Thái Thứ Lang · Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — Thái Vi Phú, Cốt Tủy Phú · Tử Vi Nghiệm Lý — tác giả bút hiệu Thiên Lương · Số sao và số đường phi hoá trên một lá số: đếm bằng bộ máy Tử Vi phái Việt của aihuyenhoc.com

Tử Vi Đẩu Số là gì: một hệ lý số dựng từ giờ sinh, không phải từ bầu trời thậtTử Vi Đẩu Số là gì: hệ lý số dựng lá số từ năm, tháng, ngày, giờ sinh âm lịch với hơn trăm sao ảo, không nhìn trời thật; nguồn gố…
Cung Thân trong tử vi: sáu chỗ Thân có thể đóng, và vì sao nửa sau cuộc đời người ta đọc cung ThânCung Thân trong tử vi: cách an theo tháng và giờ, sáu vị trí Thân cư, vì sao Thân không phải cung thứ mười ba, đọc Thân cho nửa s…
Giờ sinh tính theo đồng hồ hay mặt trời: múi giờ Việt Nam từng đổi và người sinh ở nước ngoàiGiờ sinh và múi giờ Việt Nam: các mốc đổi giờ 1906–1975, miền Nam dùng +8 tới 13/6/1975, cách quy giờ trên giấy về giờ mặt trời, …
Sai một giờ sinh thì những sao nào trên lá số chạy chỗ: Xương Khúc, Không Kiếp, Hoả Linh, cung Mệnh – ThânSai giờ sinh tử vi một canh: mười lăm sao an theo giờ đổi chỗ, Mệnh Thân dời ô, có khi đổi cục kéo cả chính tinh. Hai cặp lá số s…
Tam phương tứ chính: vì sao không ai đọc một cung tử vi đứng riêngTam phương tứ chính là bốn cung đọc cùng nhau: bản cung, cung xung chiếu, hai cung tam hợp. Hai lá số mẫu cho thấy cùng sao ở Mện…
Cách an sao Tử Vi theo ngày sinh: vì sao Tử Vi đứng ở ô đó, giải bằng một phép chiaCách an sao Tử Vi theo ngày sinh âm lịch và số cục, viết thành phép chia có dư, kèm bảng kiểm 30 ngày × 5 cục đối chiếu với bộ má…