Cung Thân trong tử vi: sáu chỗ Thân có thể đóng, và vì sao nửa sau cuộc đời người ta đọc cung Thân
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 22/10/2026 · 9 phút đọc
Cung Thân không phải một ô riêng mà là dấu đặt lên một trong mười hai cung, tuỳ giờ sinh: giờ Tý, Ngọ thì Thân ở Mệnh; Sửu, Mùi ở Phúc Đức; Dần, Thân ở Quan Lộc; Mão, Dậu ở Thiên Di; Thìn, Tuất ở Tài Bạch; Tỵ, Hợi ở Phu Thê. Phái Việt đọc Thân là phần mình làm nên, nặng dần từ khoảng tuổi ba mươi.
Cách an: Mệnh và Thân soi gương qua cung tháng sinh
Đại ý quyết an trong sách: khởi tháng Giêng ở cung Dần, đếm thuận tới tháng sinh; từ ô ấy, đếm nghịch theo giờ sinh thì được cung Mệnh, đếm thuận theo giờ sinh thì được cung Thân.
Viết bằng số cho gọn. Gọi ô tháng sinh là T (tháng Giêng ở Dần, tháng Hai ở Mão…), giờ sinh là g (Tý là 0, Sửu là 1… Hợi là 11):
- Mệnh = T lùi g ô.
- Thân = T tiến g ô.
Nghĩa là ô tháng sinh luôn nằm chính giữa Mệnh và Thân, hai cung như hai bên gương. Ví dụ sinh tháng Năm, giờ Mão: ô tháng Năm là Ngọ; lùi ba ô được Mệnh ở Mão, tiến ba ô được Thân ở Dậu. Đó chính là lá số mẫu ở dưới.
Từ đó suy ra hai điều. Thứ nhất, khoảng cách Mệnh – Thân là 2g ô, chỉ phụ thuộc giờ sinh; nên Thân cư cung nào chỉ do giờ quyết định, tháng sinh không đổi được điều này. Thứ hai, 2g luôn là số chẵn, nên Thân chỉ rơi vào sáu cung cách Mệnh một số chẵn ô.
Sáu vị trí của Thân
| Giờ sinh | Thân cư | Cung ấy nói về | Cách đọc thường gặp ở phái Việt |
|---|---|---|---|
| Tý, Ngọ | Mệnh | chính mình | Mệnh Thân đồng cung: trước sau như một, tính cách ít đổi theo tuổi |
| Sửu, Mùi | Phúc Đức | đời sống tinh thần, gốc gác họ hàng | nửa sau đời hướng về sự yên ổn trong lòng, việc họ tộc, sở thích riêng |
| Dần, Thân | Quan Lộc | nghề nghiệp, cách làm việc | công việc là trục của đời sống trưởng thành |
| Mão, Dậu | Thiên Di | ra ngoài, đi xa, xã hội | sống nhiều ở bên ngoài, môi trường và người lạ định hình mình |
| Thìn, Tuất | Tài Bạch | kiếm, tiêu, giữ tiền | chuyện tiền bạc và cách quản lý chiếm phần lớn tâm sức |
| Tỵ, Hợi | Phu Thê | hôn nhân, người đồng hành | người bạn đời và cách sống chung ảnh hưởng mạnh tới nửa sau đời |
Nếu giờ sinh rải đều, mỗi vị trí chiếm một phần sáu số người. Sáu cung còn lại, Huynh Đệ, Tử Tức, Tật Ách, Nô Bộc, Điền Trạch, Phụ Mẫu, không bao giờ mang Thân. Thân chỉ đứng ở những cung cùng tính âm dương địa chi với Mệnh.
Cách đọc ở cột cuối là xu hướng các thầy Việt hay nói. Nó cho biết mảng đời nào nặng ký, không cho biết mảng ấy tốt hay xấu; tốt xấu là chuyện sao trong cung.
Bốn trong sáu vị trí nằm trong tam phương của Mệnh
Tam phương tứ chính của cung Mệnh gồm Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc, Thiên Di. Bốn vị trí Thân cư Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc, Thiên Di đều nằm trong đó. Với người sinh tám trong mười hai giờ, tức chừng hai phần ba số người, cung Thân là một góc mà khi đọc cung Mệnh người ta vẫn nhìn tới.
Hai vị trí còn lại, Phúc Đức và Phu Thê, nằm ngoài tam phương của Mệnh. Người sinh giờ Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi có cung Thân ở một hướng mà tam phương Mệnh không soi tới. Với họ, đọc Mệnh thật kỹ vẫn chưa đủ; phải đọc riêng cung Thân như một trục thứ hai của lá số. Đây là chỗ người mới hay bỏ sót: thấy Mệnh đọc xong là coi như xong người.
Vì sao Thân không phải "cung thứ mười ba"
Trên nhiều lá số in, chữ "Thân" được ghi trong ô như một nhãn, khiến người mới tưởng có thêm một cung. Không phải. Lá số có đúng mười hai cung; Thân là dấu cho biết một trong số đó được đọc thêm với vai trò chỗ dựa của đời sau.
Cũng đừng lẫn cung Thân với Thân chủ. Thân chủ là một sao (Hoả Tinh, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thiên Đồng, Văn Xương hoặc Thiên Cơ) gán theo chi năm sinh, đóng ở đâu là chuyện khác hẳn. Xem bài Mệnh chủ, Thân chủ.
Mệnh trời cho, Thân mình làm nên
Phái Việt chia vai rõ: Mệnh là cái gốc bẩm sinh, nặng ở nửa đầu đời; Thân là cái mình gây dựng, cách mình sống khi đã tự lập, nặng dần ở nửa sau. Mốc chuyển hay được nói quanh tuổi ba mươi, có thầy nói ba mươi lăm; sách không cho một con số thống nhất, và cũng không có lý do để coi đó là một ngày mọi thứ bỗng khác. Nên hiểu như một sự dịch trọng tâm dần dần.
Cách đọc thực tế:
- Đọc cung Thân như đọc một cung Mệnh thứ hai: chính tinh, độ sáng, tam phương tứ chính của chính nó, Tứ Hoá đi vào.
- So Thân với Mệnh: hai cung cùng chiều (cùng sáng, cùng loại sao) thì đời trước sau liền mạch; khác chiều thì nửa sau đời có thể rẽ một hướng khác hẳn tuổi trẻ.
- Xem Tuần, Triệt: Thân có Tuần thì theo quy ước phái Việt, phần đời sau có chỗ bị che, chậm (xem bài Tuần Triệt).
Lá số mẫu: một ngày sinh, ba giờ, ba cung Thân
Lá số mẫu của chuyên mục: nữ, sinh ngày 12/6/1992 (12 tháng Năm năm Nhâm Thân), lập bằng công cụ lá số. Lá số chuẩn sinh lúc 5 giờ 30, giờ Mão. Để thấy sức nặng của giờ sinh, chúng tôi lập thêm hai lá cho giờ liền trước và liền sau:
| Giờ nhập | Chi giờ | Cung Mệnh | Thân cư | Sao ở cung Thân |
|---|---|---|---|---|
| 4 giờ 50 | Dần | Thìn: Cự Môn (hãm) | Quan Lộc (Thân) | vô chính diệu; Văn Xương, Tả Phù, Thai Phụ, Thiên Quý |
| 5 giờ 30 | Mão | Mão: Thiên Cơ, Cự Môn (miếu) | Thiên Di (Dậu) | vô chính diệu; Đào Hoa, Thiên Trù, Thai Phụ, Thiên Quý; Thiên Không |
| 7 giờ 10 | Thìn | Dần: Tham Lang (đắc) | Tài Bạch (Tuất) | Phá Quân (đắc); Đà La, Hoả Tinh |
Với lá số chuẩn: Mệnh ở Mão có Cơ Cự miếu, người nghĩ nhanh, ăn nói sắc. Thân cư Thiên Di ở Dậu, đối diện Mệnh, không có chính tinh nên mượn chính Cơ Cự từ Mệnh chiếu sang. Đọc theo phái Việt: nửa sau đời người này sống nhiều ở bên ngoài, với người lạ, đi xa; và cái vốn mang ra ngoài vẫn là đúng cái tài lý lẽ, chữ nghĩa của Mệnh. Mệnh và Thân không mâu thuẫn mà là một trục: trong nhà và ngoài đường.
Giờ sinh lệch một giờ âm sang giờ Dần thì Mệnh dời sang Thìn với Cự Môn hãm, cục đổi từ Kim tứ sang Hoả lục, Thân về Quan Lộc với Văn Xương, Tả Phù: câu chuyện thành người lấy nghề làm trục. Lệch sang giờ Thìn thì Thân về Tài Bạch với Phá Quân và hai sát tinh: câu chuyện thành chuyện tiền bạc nhiều biến động. Ba lá, ba người.
Sai một giờ âm, Thân đổi hẳn cung
Bảng trên cho thấy một tính chất nên thuộc: khi giờ sinh lùi hay tiến một giờ âm, Mệnh dời một ô theo một chiều, Thân dời một ô theo chiều ngược lại, nên khoảng cách giữa chúng đổi hai ô và Thân sang một cung có tên khác. Mệnh thì vẫn ở cạnh ô cũ; cung Thân thì đổi hẳn vai.
Hệ quả thực hành: người không chắc giờ sinh, chẳng hạn chỉ nhớ "khoảng 9 giờ sáng", tức sát ranh giờ Thìn và giờ Tỵ, sẽ có Thân cư Tài Bạch hoặc Thân cư Phu Thê. Đó là hai câu chuyện nửa đời sau rất khác nhau. Trước khi đọc Thân, hãy chắc giờ sinh (xem bài không biết giờ sinh).
Sách cổ nói gì
Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản.
Dịch: Từ bậc thiên tử cho tới người thường, ai cũng lấy việc sửa mình làm gốc. — Đại Học
Bình: chữ "Thân" của cung Thân và chữ "thân" trong "tu thân" là cùng một chữ (身), nghĩa là bản thân, con người mình. Đại Học không bàn tử vi; nhưng cách phái Việt đọc cung Thân như "phần mình làm nên" rất gần với tinh thần ấy: Mệnh là chỗ xuất phát, Thân là chỗ mình tự sửa, tự dựng. Đây là cách chúng tôi hiểu, không phải lời sách tử vi.
Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư ghi quyết an Mệnh, Thân, đại ý như đã dẫn: khởi tháng ở Dần, Mệnh đếm nghịch theo giờ, Thân đếm thuận theo giờ. Sách đặt Mệnh và Thân cạnh nhau trong các câu phú luận người, đại ý xem Mệnh, Thân và vận hạn cùng nhau mới thành lời luận.
Đọc cho đúng mức
- Cung Thân là một trục đọc thêm, không thay cung Mệnh. Mệnh vẫn là cung đọc trước.
- "Thân cư Phu Thê" hay "Thân cư Tài Bạch" nói mảng nào nặng ký trong đời sau, không nói mảng ấy tốt hay xấu.
- Mốc ba mươi tuổi là quy ước kinh nghiệm, không phải một ngày chuyển vận.
- Giờ sinh lệch một giờ âm là cung Thân đổi tên. Lời luận về Thân chỉ đáng tin bằng độ chắc của giờ sinh.
Việc nên làm
- Tìm chữ "Thân" trên lá số của mình, ghi lại cung, chính tinh, độ sáng, Tuần Triệt.
- Xem Thân có nằm trong tam phương của Mệnh không; nếu Thân cư Phúc Đức hay Phu Thê, đọc riêng nó như một trục thứ hai.
- Nếu giờ sinh nằm sát ranh hai giờ âm, lập lá số cho cả hai giờ và so cung Thân.
- Nếu hoàn toàn không biết giờ, câu đầu tiên của công cụ đoán giờ sinh hỏi chính chuyện này: từ ba mươi tuổi trở đi, mảng nào chi phối đời bạn rõ nhất. Sáu vị trí của Thân chia mười hai giờ thành sáu cặp, nên một câu trả lời chắc đã thu hẹp được khá nhiều.
- Đọc tiếp mười hai cung để biết việc của cung mà Thân đang đóng.
Không biết giờ sinh? Máy dựng 12 lá số, hỏi 6–10 câu đời thực rồi gợi ý 2–3 giờ hợp nhất kèm lý do. Miễn phí.Mở
Xem lá số tử vi của chính bạn
Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.
Lập lá số miễn phíNguồn tham khảo
- Đại Học — câu "tu thân vi bản" (nguyên văn).
- Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — quyết an Mệnh, Thân và các phú luận Mệnh, Thân (đại ý).
- Vân Đằng Thái Thứ Lang — Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần cung Thân.
- Lá số mẫu nữ 12/6/1992 lập ở ba giờ sinh và các phép đếm vị trí: bộ máy Tử Vi phái Việt của aihuyenhoc.com (`app/Core/TuVi`).
Câu hỏi thường gặp
Cung Thân là gì?
Là một trong mười hai cung được đánh dấu "Thân", đọc thêm như chỗ dựa của nửa sau đời. Nó không phải cung thứ mười ba.
Cung Thân có thể ở những cung nào?
Sáu cung: Mệnh, Phúc Đức, Quan Lộc, Thiên Di, Tài Bạch, Phu Thê, tuỳ giờ sinh. Thân không bao giờ ở Huynh Đệ, Tử Tức, Tật Ách, Nô Bộc, Điền Trạch, Phụ Mẫu.
Thân Mệnh đồng cung nghĩa là gì?
Là người sinh giờ Tý hoặc giờ Ngọ, cung Thân trùng cung Mệnh. Phái Việt đọc đó là người trước sau như một, mọi sức nặng dồn vào một cung.
Từ bao nhiêu tuổi thì đọc cung Thân?
Phái Việt thường nói từ khoảng ba mươi tuổi, có thầy nói ba mươi lăm. Đó là sự dịch trọng tâm dần dần, không có ngày đổi cố định.
Cung Thân và Thân chủ khác nhau thế nào?
Cung Thân là một cung trên lá số, do tháng và giờ sinh quyết định. Thân chủ là một sao gán theo chi năm sinh, có thể đóng ở bất kỳ cung nào.
Nguồn tham khảo: Đại Học · Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — quyết an Mệnh, Thân · Tử Vi Đẩu Số Tân Biên — Vân Đằng Thái Thứ Lang · Lá số mẫu của chuyên mục và các phép đếm, lập bằng bộ máy Tử Vi phái Việt của aihuyenhoc.com