Tiết lệnh và trung khí: mười hai cặp trong 24 tiết khí và vai trò của từng loại

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 10 phút đọc

Tiết lệnh và trung khí: mười hai cặp trong 24 tiết khí và vai trò của từng loại

Hai mươi bốn tiết khí chia làm hai loại xen kẽ: mười hai tiết lệnh (Lập Xuân, Kinh Trập, Thanh Minh…) mở đầu mỗi tháng theo Mặt Trời, và mười hai trung khí (Vũ Thủy, Xuân Phân, Cốc Vũ…) nằm giữa tháng ấy. Tiết lệnh dùng để đổi tháng trong Bát Tự; trung khí dùng để đặt tên tháng âm lịch và định tháng nhuận.

Bài 24 tiết khí là gì đã nêu sự phân chia này trong một bảng nhỏ. Bài này đi vào phần kỹ thuật: mười hai cặp đứng ở đâu trên hoàng đạo, năm 2027 rơi vào ngày âm nào, vì sao hai loại lại được giao hai việc khác nhau, và chuyện "tháng sinh" của một người có thể là hai tháng khác nhau tuỳ môn.

Mười hai cặp: tiết ở góc chẵn 30°, khí ở góc tròn 30°

Hoàng đạo 360° được chia làm 24 mốc, mỗi mốc cách nhau 15°. Lấy Xuân Phân làm 0°, thì mọi trung khí rơi vào bội số của 30° (0°, 30°, 60°…), còn mọi tiết lệnh rơi vào các góc lẻ 15°, 45°, 75°…. Một tiết lệnh và trung khí liền sau nó họp thành một cặp, ứng với một tháng.

Bảng dưới lấy giờ vào tiết năm 2027 theo giờ Việt Nam (tính bằng thiên văn, đối chiếu bộ lịch của site, chênh không quá vài phút), kèm ngày âm lịch tương ứng.

ThángTiết lệnh (kinh độ)Vào tiết 2027Ngày âmTrung khí (kinh độ)Vào khí 2027Ngày âm
Dần (Giêng)Lập Xuân 315°4/2, 08:4628 tháng ChạpVũ Thủy 330°19/2, 04:3314 tháng Giêng
Mão (Hai)Kinh Trập 345°6/3, 02:3929 tháng GiêngXuân Phân 0°21/3, 03:2414 tháng Hai
Thìn (Ba)Thanh Minh 15°5/4, 07:1729 tháng HaiCốc Vũ 30°20/4, 14:1714 tháng Ba
Tỵ (Tư)Lập Hạ 45°6/5, 00:251 tháng TưTiểu Mãn 60°21/5, 13:1816 tháng Tư
Ngọ (Năm)Mang Chủng 75°6/6, 04:252 tháng NămHạ Chí 90°21/6, 21:1017 tháng Năm
Mùi (Sáu)Tiểu Thử 105°7/7, 14:374 tháng SáuĐại Thử 120°23/7, 08:0420 tháng Sáu
Thân (Bảy)Lập Thu 135°8/8, 00:267 tháng BảyXử Thử 150°23/8, 15:1422 tháng Bảy
Dậu (Tám)Bạch Lộ 165°8/9, 03:288 tháng TámThu Phân 180°23/9, 13:0123 tháng Tám
Tuất (Chín)Hàn Lộ 195°8/10, 19:169 tháng ChínSương Giáng 210°23/10, 22:3224 tháng Chín
Hợi (Mười)Lập Đông 225°7/11, 22:3810 tháng MườiTiểu Tuyết 240°22/11, 20:1525 tháng Mười
Tý (Mười Một)Đại Tuyết 255°7/12, 15:3710 tháng Mười MộtĐông Chí 270°22/12, 09:4125 tháng Mười Một
Sửu (Chạp)Tiểu Hàn 285°5/1/2027, 21:0928 tháng Mười Một (Bính Ngọ)Đại Hàn 300°20/1/2027, 14:2913 tháng Chạp (Bính Ngọ)

Đọc cột "ngày âm" từ trên xuống thấy ngay một điều: trung khí năm 2027 đi từ ngày 13 tới ngày 25 nhưng luôn nằm trong đúng tháng âm mang số của nó, còn tiết lệnh thì có khi rơi vào cuối tháng trước (Lập Xuân ngày 28 tháng Chạp, Kinh Trập ngày 29 tháng Giêng). Đó không phải tình cờ, mà là cách âm lịch được dựng.

Trung khí đặt tên cho tháng âm

Âm lịch có hai đồng hồ: tuần trăng quyết định tháng bắt đầu ngày nào (ngày sóc), còn Mặt Trời quyết định tháng ấy tên là gì. Quy tắc gọn nhất: tháng âm chứa trung khí nào thì mang số của trung khí ấy. Tháng chứa Vũ Thủy là tháng Giêng, chứa Xuân Phân là tháng Hai, chứa Đông Chí là tháng Mười Một. Bốn quy tắc lập lịch đầy đủ, với ví dụ năm 2027, có ở bài âm lịch là âm dương lịch.

Vì sao chọn trung khí mà không chọn tiết lệnh? Lý do nằm ở hai con số. Hai trung khí liền nhau cách trung bình 30,44 ngày; một tuần trăng dài trung bình 29,53 ngày. Khoảng cách trung khí dài hơn tháng âm một chút, nên phần lớn tháng chứa đúng một trung khí, và cứ khoảng 33 tháng thì có một tháng "lọt thỏm" giữa hai trung khí, không chứa trung khí nào. Tháng ấy được làm tháng nhuận, mang tên tháng đứng trước. Dùng tiết lệnh thì cũng làm được về toán, nhưng người xưa đã chọn mốc giữa, và các mốc lớn Xuân Phân, Hạ Chí, Thu Phân, Đông Chí đều là trung khí, nên trục của lịch là trục trung khí.

Một chi tiết kỹ thuật hay bị bỏ qua: âm lịch xét trung khí theo ngày, không theo giờ. Trung khí rơi vào ngày nào (theo giờ Việt Nam) thì thuộc tháng chứa ngày ấy, dù vào lúc 23 giờ 59. Vì vậy cùng một trung khí, tính theo giờ Hà Nội hay giờ Bắc Kinh có thể sang ngày khác, và tháng nhuận có năm khác nhau giữa lịch Việt và lịch Trung Quốc (xem Tết Việt lệch Tết Trung Quốc).

Quy tắc "một tháng một trung khí" có ngoại lệ: mùa đông, Trái Đất đi nhanh, hai trung khí liền nhau có lúc chỉ cách 29,4 ngày, ngắn hơn một tháng âm, nên một tháng có thể chứa hai trung khí. Năm 2033 là ví dụ nổi tiếng. Đây là hệ quả của cách chia tiết khí theo vị trí thật của Mặt Trời, bàn kỹ ở bài bình khí và định khí.

Tiết lệnh mở tháng cho Bát Tự

Bát Tự không dùng tháng âm. Trụ tháng đổi ở giờ vào tiết lệnh: từ Lập Xuân là tháng Dần, từ Kinh Trập là tháng Mão, và cứ thế. Trung khí không làm đổi trụ tháng. Cách tính từng trụ có ở bài lập tứ trụ bằng tay.

Vì sao Tử Bình chọn tiết lệnh? Vì môn này đọc khí của mùa trong tháng sinh (xem nguyệt lệnh). Mùa theo người xưa bắt đầu ở bốn tiết "lập": Lập Xuân, Lập Hạ, Lập Thu, Lập Đông. Đặt ranh giới tháng ở tiết lệnh thì bốn tháng đầu mùa khớp với bốn tiết lập, và khí Mộc, Hỏa, Kim, Thủy vào lệnh đúng lúc mùa sang. Đặt ranh giới ở trung khí thì Xuân Phân thành đầu tháng, mùa xuân bị cắt đôi.

Hệ quả là "tháng sinh" có hai nghĩa. Chúng tôi chạy máy đếm, trong mỗi năm, những ngày mà số tháng theo Bát Tự (Dần là Giêng, Mão là Hai…) khác với số tháng âm lịch:

NămSố ngày hai tháng lệch nhauTỷ lệ
202449 / 36613%
2025120 / 36533%
202686 / 36524%
202760 / 36516%
2028124 / 36634%

Năm có tháng nhuận (2025 nhuận tháng Sáu, 2028 nhuận tháng Năm) lệch nhiều hơn hẳn, vì sau tháng nhuận, tháng âm bị đẩy lùi cả tháng so với Mặt Trời. Năm 2027, ngày 7/11 đã là ngày 10 tháng Mười âm lịch nhưng Bát Tự vẫn đang tháng Tuất (tháng Chín), vì Lập Đông vào lúc 22 giờ 38 tối hôm ấy.

Điều này quan trọng với người xem cả hai môn. Tử Vi an sao theo tháng âm, nên người sinh ngày 7/11/2027 là "sinh tháng Mười"; Bát Tự ghi người ấy sinh tháng Canh Tuất. Không bên nào sai; hai môn dùng hai lịch. Người sinh tháng nhuận thì chỉ Tử Vi phải bàn chuyện tính vào tháng nào (sinh tháng nhuận xem Tử Vi); Bát Tự không có tháng nhuận.

Môn nào dùng loại nào

ViệcDùngGhi chú
Đặt tên tháng âm, định tháng nhuậnTrung khíxét theo ngày, giờ Việt Nam
Trụ năm, trụ tháng Bát TựTiết lệnhxét theo giờ phút; năm đổi ở Lập Xuân
Đại vận Bát Tự (tuổi khởi vận)Tiết lệnhđếm số ngày từ lúc sinh tới tiết lệnh (đại vận)
Mười hai trựcTiết lệnhngày vào tiết lặp lại trực của ngày trước (mười hai trực)
Phi tinh tháng Huyền KhôngTiết lệnhtháng phi tinh đổi ở tiết (phi tinh tháng)
Nguyệt tướng Đại Lục NhâmTrung khíMặt Trời vào cung nào thì đổi tướng (nguyệt tướng)
Thai Nguyên, Mệnh Cung trong Tử BìnhCó sách dùng trung khícác sách hiện đại không thống nhất (Thai Nguyên, Mệnh Cung)
Kỳ Môn Độn GiápCả 24mỗi tiết khí có ba cục riêng
Mười hai cung hoàng đạo phương TâyTrung khíngày vào cung trùng ngày trung khí (12 cung hoàng đạo)

Nhìn bảng sẽ thấy một đường ranh khá rõ. Các phép lấy mùa làm gốc (Bát Tự, trực, phi tinh) dùng tiết lệnh, vì tiết lệnh là cửa vào mùa. Các phép lấy vị trí Mặt Trời trên vòng 12 cung làm gốc (nguyệt tướng, cung hoàng đạo, và chính âm lịch) dùng trung khí, vì trung khí là chỗ Mặt Trời bước sang cung mới.

Tên gọi: "tiết" và "khí"

Trong lịch cổ, chữ "tiết khí" vốn để gọi riêng loại thứ nhất; loại thứ hai gọi là "trung khí". Về sau người ta gộp cả hai mươi bốn mốc dưới một tên "nhị thập tứ tiết khí", nên bây giờ phải thêm chữ "lệnh" (tiết lệnh, tức tiết ra lệnh đổi tháng) để phân biệt. Danh sách đủ 24 tên, theo thứ tự gần như hiện nay, được ghi sớm nhất trong thiên Thiên Văn Huấn của sách Hoài Nam Tử đời Tây Hán.

Một chỗ dễ nhầm: trong Bát Tự, "trung khí" còn là tên một lớp can tàng trong địa chi (bản khí, trung khí, dư khí; xem tàng can). Hai nghĩa không liên quan; khi đọc sách Tử Bình, xem ngữ cảnh là câu đang nói về lịch hay về can tàng.

Sách cổ nói gì

Sóc bất đắc trung, thị vị nhuận nguyệt.

Dịch: Tháng mà từ ngày sóc không gặp trung khí, gọi là tháng nhuận. — Hán Thư, Luật Lịch Chí

Bình: sáu chữ này là quy tắc đặt nhuận theo trung khí, ghi trong phần lịch pháp của Hán Thư, nơi chép phép lịch đời Hán (Tam Thống lịch, nối từ lịch Thái Sơ). Hơn hai nghìn năm sau, bộ máy âm lịch trên điện thoại của bạn vẫn chạy đúng quy tắc ấy, chỉ khác ở cách tính giờ trung khí cho chính xác hơn.

Về tiết lệnh, sách Uyên Hải Tử Bình và các sách Tử Bình đời sau đều dặn, đại ý: tháng sinh lấy theo tiết, qua tiết mới là tháng sau, chưa qua tiết thì vẫn là tháng trước; không lấy ngày mùng Một âm lịch làm ranh giới tháng. Đây là lời dặn cho người xem mệnh, và cũng là lý do mọi bảng tứ trụ phải ghi giờ vào tiết.

Bình chung: một bên là người làm lịch, cần một quy tắc giữ tháng trăng khớp với năm Mặt Trời; một bên là người xem mệnh, cần biết khí của mùa. Hai nhu cầu khác nhau chọn hai nửa khác nhau của cùng 24 mốc.

Đọc cho đúng mức

  • Bảng 2027 chỉ đúng cho 2027. Ngày dương của tiết khí xê dịch trong khoảng một ngày giữa các năm; ngày âm của chúng xê dịch tới gần một tháng. Năm khác phải tra lại bảng tiết khí của năm ấy.
  • Giờ vào tiết có sai số. Các bảng khác nhau có thể chênh nhau vài phút do công thức thiên văn. Với người sinh sát giờ vào tiết lệnh, vài phút ấy có thể làm đổi trụ tháng; nên ghi cả hai khả năng.
  • Lịch trước năm 1645 (Trung Hoa) và trước khoảng 1813 (Việt Nam) chia tiết khí theo lối khác (bình khí), nên ngày tiết khí trong sách cổ có thể lệch một, hai ngày so với cách tính hôm nay.
  • Tiết lệnh và trung khí không "tốt" hay "xấu". Đây là mốc thiên văn và mốc lịch. Những lời gán lành dữ cho một ngày giao tiết là của các phép chọn ngày, không phải của bản thân tiết khí.

Việc nên làm

  1. Khi ghi giờ sinh của con, ghi cả ngày dương, ngày âm và tiết khí đang hiệu lực; nếu sinh trong vòng một ngày quanh giờ vào tiết lệnh, ghi thêm giờ phút chính xác.
  2. Khi so lá số Tử Vi với Bát Tự của cùng một người, nhớ rằng "tháng sinh" ở hai môn có thể là hai tháng khác nhau; đừng coi đó là lỗi của phần mềm.
  3. Muốn biết một ngày đang ở tiết khí nào, tháng âm nào, dùng công cụ lịch âm của site.
📅Lịch âm – lịch vạn niên
Lịch tháng âm dương, can chi, tiết khí, ngày hoàng đạo.
Mở

Nguồn tham khảo

  • Hán Thư, Luật Lịch Chí — câu "sóc bất đắc trung, thị vị nhuận nguyệt" (nguyên văn).
  • Hoài Nam Tử, Thiên Văn Huấn — danh sách 24 tiết khí (đại ý).
  • Uyên Hải Tử Bình và các sách Tử Bình đời sau — lấy tiết làm ranh giới tháng (đại ý).
  • Giờ vào tiết năm 2027 (giờ Việt Nam): tính bằng thư viện thiên văn PyEphem, đối chiếu bộ âm lịch aihuyenhoc.com, chênh vài phút; ngày âm và bảng số ngày lệch tháng 2024 – 2028 tính bằng bộ máy âm lịch của site.

Câu hỏi thường gặp

Tiết lệnh và trung khí khác nhau thế nào?

Tiết lệnh là mười hai tiết ở các góc 15°, 45°, 75°… trên hoàng đạo, mở đầu mỗi tháng theo Mặt Trời và dùng để đổi tháng trong Bát Tự. Trung khí là mười hai tiết ở các góc tròn 0°, 30°, 60°…, nằm giữa tháng, dùng để đặt tên tháng âm và định tháng nhuận.

Mười hai trung khí gồm những tiết nào?

Vũ Thủy, Xuân Phân, Cốc Vũ, Tiểu Mãn, Hạ Chí, Đại Thử, Xử Thử, Thu Phân, Sương Giáng, Tiểu Tuyết, Đông Chí, Đại Hàn. Chúng lần lượt nằm trong tháng Giêng đến tháng Chạp âm lịch.

Vì sao tháng nhuận là tháng không có trung khí?

Vì hai trung khí cách nhau trung bình khoảng 30,44 ngày, dài hơn một tháng âm (khoảng 29,53 ngày). Thỉnh thoảng một tháng âm lọt hẳn giữa hai trung khí; tháng ấy không có tên riêng nên làm tháng nhuận, mang tên tháng trước. Quy tắc này đã được ghi trong Hán Thư.

Sinh ngày mùng Một tháng Giêng thì Bát Tự là tháng Giêng phải không?

Chưa chắc. Bát Tự đổi tháng ở giờ vào tiết Lập Xuân, không ở ngày Tết. Năm 2027, Lập Xuân vào 8 giờ 46 ngày 4/2, tức 28 tháng Chạp, nên người sinh mùng Một Tết 6/2/2027 đã ở tháng Dần; nhưng có năm Tết đến trước Lập Xuân, người sinh mùng Một vẫn ở tháng Sửu.

Tử Vi dùng tiết lệnh hay trung khí?

Tử Vi dùng tháng âm lịch, mà tên tháng âm do trung khí quyết định, nên có thể nói Tử Vi dùng trung khí một cách gián tiếp. Tiết lệnh không trực tiếp làm đổi tháng trong lá số Tử Vi như trong Bát Tự.

Nguồn tham khảo: Hán Thư — Luật Lịch Chí · Hoài Nam Tử — Thiên Văn Huấn (danh sách 24 tiết) · Uyên Hải Tử Bình — lấy tiết làm ranh giới tháng · Giờ vào tiết 2027 tính bằng PyEphem, đối chiếu bộ âm lịch aihuyenhoc.com; ngày âm và thống kê tháng lệch tính bằng bộ máy của site

Vì sao Tết Việt và Tết Trung Quốc có năm lệch nhau: múi giờ 105° và 120°Tết Việt lệch Tết Trung Quốc vì lịch Việt tính theo múi giờ 105° Đông, lịch Trung Quốc theo 120°: ca năm 1985 lệch gần một tháng …
Sáu tiết mùa hạ từ Lập Hạ đến Đại Thử: Mang Chủng, Tiểu Mãn ở đồng bằng sông HồngSáu tiết mùa hạ từ Lập Hạ đến Đại Thử đặt cạnh vụ chiêm, vụ mùa sông Hồng, ca dao nông vụ, khí hậu ba miền: Tiểu Mãn, Mang Chủng …
Lịch 24 tiết khí năm 2027: ngày giờ vào tiết theo giờ Việt Nam, kèm âm lịch và trụ tháng Bát TựBảng 24 tiết khí năm 2027 theo giờ Việt Nam: ngày giờ vào tiết tính từ thiên văn, ngày âm lịch tương ứng, trụ tháng Bát Tự và độ …
Đổi ngày âm lịch sang dương lịch và ngược lại: cách lịch Việt Nam tính theo kinh tuyến 105° Đông và năm cái bẫy hay gặpĐổi ngày âm sang dương và ngược lại theo lịch Việt Nam (kinh tuyến 105° Đông): ví dụ năm 2027, tháng nhuận, ngày sinh trước 1968,…
Tháng đủ, tháng thiếu: vì sao có tháng Chạp 29 ngày và tám cái Tết liền không có ngày ba mươiTháng đủ 30 ngày, tháng thiếu 29 ngày do khoảng cách hai ngày sóc. Vì sao mùa đông tháng dài hơn, tháng Chạp 2024–2031 đều thiếu …
Sáu tiết mùa xuân từ Lập Xuân đến Cốc Vũ: tên gọi Hoa Bắc gặp khí hậu Việt NamSáu tiết mùa xuân Lập Xuân, Vũ Thuỷ, Kinh Trập, Xuân Phân, Thanh Minh, Cốc Vũ đặt cạnh khí hậu Hà Nội, Huế, TP.HCM: tiết nào khớp…