Thang đo chín thể chất 60 câu (CCMQ): cách chấm điểm và vì sao không nên tự kết luận
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc
Thang đo thể chất Đông y (CCMQ) gồm 60 câu chia chín nhóm, mỗi câu chấm năm mức. Điểm thô từng nhóm được quy đổi về 0 – 100; từ 40 trở lên là "thuộc thể ấy", 30 – 39 là "có xu hướng". Thang có độ tin cậy chấp nhận được ở người Trung Hoa, nhưng phân loại từng người dao động khá nhiều và chưa được chuẩn hoá cho người Việt.
Kiến thức văn hoá, không thay cho khám chữa bệnh. Bài giải thích một công cụ nghiên cứu, không phải bài test để tự chẩn đoán. Mệt kéo dài, sợ lạnh, nóng trong, mụn, buồn kéo dài… đều có thể là dấu hiệu bệnh cần bác sĩ khám.
Thang này là gì và ai làm ra
Thang là phần đi kèm bộ tiêu chuẩn ZYYXH/T157-2009 "Phân loại và xác định thể chất Trung y" của Hội Trung y dược Trung Hoa, xây dựng từ công trình của nhóm giáo sư Vương Kỳ. Trong tài liệu tiếng Anh nó thường được gọi là CCMQ (Constitution in Chinese Medicine Questionnaire). Chín thể chất mà thang đo đến đã có bảng riêng ở bài chín thể chất Đông y.
Người trả lời được hỏi về cảm nhận và trải nghiệm trong khoảng một năm gần đây, không phải về hôm nay. Đây là chỗ hay bị bỏ qua: thang đo khuynh hướng lâu dài, không đo một đợt cảm cúm hay một tuần mất ngủ.
Cấu trúc: 60 câu, chín nhóm
Theo bản dùng trong nghiên cứu kiểm định ở Hồng Kông (2013), số câu của từng nhóm như sau:
| Nhóm | Số câu | Nội dung các câu xoay quanh |
|---|---|---|
| Bình hoà | 8 | sức lực, giấc ngủ, khả năng chịu nóng lạnh, tinh thần |
| Khí hư | 8 | dễ mệt, hụt hơi, nói nhỏ, dễ ra mồ hôi, dễ cảm |
| Dương hư | 7 | sợ lạnh, tay chân lạnh, ăn đồ lạnh khó chịu |
| Âm hư | 8 | lòng bàn tay chân nóng, khô miệng, da khô, táo |
| Đàm thấp | 8 | nặng nề, bụng mỡ, nhiều đờm, miệng dính |
| Thấp nhiệt | 6 | mặt bóng dầu, mụn, miệng đắng, tiểu vàng |
| Huyết ứ | 7 | dễ bầm, da sạm, môi thâm, đau cố định |
| Khí uất | 7 | buồn bã, lo âu, hay thở dài, vướng họng |
| Đặc bẩm | 7 | hắt hơi, ngạt mũi, nổi mề đay, dị ứng |
Cộng lại là 66 lượt câu trên 60 câu, tức có vài câu được tính ở hai nhóm. Phần trùng nằm chủ yếu ở nhóm bình hoà: một số câu của nhóm này hỏi ngược lại câu của nhóm khác (ví dụ "có dễ mệt không") và được chấm ngược khi tính điểm bình hoà. Chúng tôi không chép nguyên văn 60 câu ở đây; bảng chỉ tóm nội dung.
Mỗi câu có năm mức trả lời, chấm 1 đến 5: không bao giờ, hiếm khi, đôi khi, thường xuyên, luôn luôn.
Công thức điểm quy đổi
Với mỗi nhóm:
Điểm thô = tổng điểm các câu trong nhóm (câu chấm ngược thì đảo 1 ↔ 5, 2 ↔ 4).
Điểm quy đổi = (điểm thô − số câu) ÷ (số câu × 4) × 100
Công thức này kéo mọi nhóm về cùng thang 0 – 100, dù nhóm có 6 hay 8 câu. Ví dụ:
| Nhóm | Số câu | Điểm thô | Quy đổi | Đọc |
|---|---|---|---|---|
| Thấp nhiệt | 6 | 18 | (18 − 6) ÷ 24 × 100 = 50 | ≥ 40: thuộc thể thấp nhiệt |
| Khí hư | 8 | 18 | (18 − 8) ÷ 32 × 100 ≈ 31,3 | 30 – 39: có xu hướng khí hư |
| Dương hư | 7 | 12 | (12 − 7) ÷ 28 × 100 ≈ 17,9 | < 30: không phải |
Để ý hàng đầu và hàng hai: cùng 18 điểm thô, nhưng nhóm ít câu cho điểm quy đổi cao hơn hẳn. Đó là lý do không được so điểm thô giữa các nhóm.
Ngưỡng xác định
| Loại | Điều kiện | Kết luận |
|---|---|---|
| Tám thể thiên lệch | quy đổi ≥ 40 | là thể đó |
| 30 – 39 | có xu hướng | |
| < 30 | không phải | |
| Bình hoà | ≥ 60 và cả tám thể kia < 30 | là bình hoà |
| ≥ 60 và cả tám thể kia < 40 | cơ bản là bình hoà | |
| các trường hợp còn lại | không phải bình hoà |
Một người có thể đạt ngưỡng ở hai, ba nhóm cùng lúc, gọi là thể chất pha. Khi nhiều nhóm có điểm cao bằng nhau, tiêu chuẩn để thầy thuốc quyết định thể chính.
Kiểm định cho thấy gì
Nghiên cứu kiểm định thang ở Hồng Kông (Wong và cộng sự, 2013) trên 1.084 bệnh nhân tại một phòng khám Tây y và hai phòng khám Đông y cho các con số đáng đọc kỹ:
| Chỉ số | Kết quả | Nghĩa là |
|---|---|---|
| Độ nhất quán nội tại (alpha) | toàn thang 0,89; từng nhóm 0,66 (thấp nhiệt) đến 0,84 (khí uất) | các câu trong mỗi nhóm đo cùng một thứ, chấp nhận được |
| Độ ổn định điểm sau 2 tuần (ICC) | 0,71 (huyết ứ) đến 0,88 (dương hư) | điểm số khá ổn định |
| Độ trùng phân loại sau 2 tuần (kappa) | 0,318 đến 0,531 | xếp người vào thể nào thì dao động nhiều; tác giả gọi là độ lặp lại kém |
| So với chẩn đoán của thầy thuốc Đông y | độ nhạy, độ đặc hiệu 42,7% đến 82,7% | khớp vừa phải |
| Tỷ lệ có ít nhất một thể thiên lệch (ngưỡng 30) | 98,6% | gần như ai cũng "lệch" |
| Tỷ lệ có từ hai thể thiên lệch trở lên | 64,9% | pha là chuyện thường |
Một nghiên cứu kiểm định bản tiếng Nhật cũng cho alpha từng nhóm khoảng 0,65 – 0,79.
Bảng ấy nói một điều rất cụ thể: điểm số thì khá vững, nhưng cái nhãn "bạn là thể X" thì không vững. Hôm nay có thể ra khí hư, hai tuần sau ra khí hư kèm âm hư. Nhãn phụ thuộc vào ngưỡng cắt, mà chính nhóm tác giả cũng nói ngưỡng có thể cần chỉnh lại.
Vì sao không nên tự kết luận
Triệu chứng trùng bệnh. Câu hỏi về mệt mỏi, sợ lạnh, khô miệng, bầm da, buồn bã là những dấu hiệu của thiếu máu, suy giáp, đái tháo đường, rối loạn đông máu, trầm cảm. Thang không được thiết kế để loại trừ bệnh. Điểm khí hư cao ở một người thiếu máu không nói gì về "thể chất"; nó nói người ấy cần xét nghiệm máu.
Nhãn dao động. Như bảng kiểm định cho thấy, phân loại lặp lại kém sau hai tuần. Mùa, công việc, một đợt ốm đều làm điểm thay đổi.
Ai cũng "lệch". Khi gần như mọi người đều có ít nhất một thể thiên lệch, nhãn thiên lệch mất sức phân biệt. Bài thể chất bình hoà bàn vì sao "lệch" không có nghĩa là "bệnh".
Chưa chuẩn hoá cho người Việt. Thang được xây dựng và kiểm định trên người Trung Hoa (đại lục, Hồng Kông) và đã có kiểm định ở Nhật. Chúng tôi chưa tìm thấy công bố về một bản tiếng Việt được dịch, thích nghi văn hoá và kiểm định trên người Việt. Câu chữ như "miệng dính", "người nặng" khi dịch có thể được hiểu rất khác nhau.
Tự gán nhãn dễ dẫn tới tự dùng thuốc. Đây là rủi ro thật nhất: thấy "âm hư" là mua thuốc bổ âm, thấy "thấp nhiệt" là uống thuốc mát kéo dài. Bài cơ địa và thể chất bàn chuyện người ta hay dùng một cái nhãn để khỏi đi khám.
Dùng thang thế nào cho đúng
- Như một cuốn sổ quan sát: đọc các nhóm câu để biết Đông y hỏi về những gì, rồi tự ghi lại thói quen ngủ, ăn, sức chịu nóng lạnh của mình trong vài tháng.
- Như tài liệu mang đi khám: thầy thuốc y học cổ truyền có thể dùng thang trong buổi khám, cùng với hỏi bệnh, xem lưỡi, bắt mạch và xét nghiệm khi cần.
- Không như một bài test trên mạng cho ra một kết luận kèm danh sách thuốc nên mua.
Sách cổ nói gì
Dư văn nhân chi sinh dã, hữu cương hữu nhu, hữu nhược hữu cường, hữu đoản hữu trường, hữu âm hữu dương.
Dịch: Ta nghe con người sinh ra có cứng có mềm, có yếu có mạnh, có ngắn có dài, có âm có dương. — Linh Khu, thiên Thọ Yểu Cương Nhu
Bình: ý "người mỗi người một khác" có từ Nội Kinh, nhưng Nội Kinh mô tả bằng lời, không chấm điểm. Thang 60 câu là nỗ lực của thế kỷ hai mươi mốt để đo cái khác ấy bằng con số, và vì vậy phải chịu kiểm định như mọi thang đo khoa học. Kết quả kiểm định là một phần của câu chuyện, không phải lời chê.
Đọc cho đúng mức
- Số câu từng nhóm theo bản trong nghiên cứu Hồng Kông 2013; các bản thang khác (bản rút gọn, bản tiếng nước khác) có thể khác.
- Công thức và ngưỡng theo tiêu chuẩn 2009 như được trình bày trong các tài liệu hướng dẫn; nghiên cứu Hồng Kông dùng một ngưỡng 30 để xác định ca.
- Thang đo thể chất là công cụ dưỡng sinh và nghiên cứu, không phải công cụ chẩn đoán bệnh.
Việc nên làm
- Có triệu chứng kéo dài (mệt trên vài tuần, sụt cân, sợ lạnh bất thường, buồn trên hai tuần, mụn nặng): đi khám để loại trừ bệnh trước khi nghĩ đến thể chất.
- Muốn biết thể chất theo Đông y: gặp bác sĩ y học cổ truyền có chứng chỉ hành nghề, kể đủ tiền sử và các thuốc đang dùng.
- Nếu đã làm một bài test thể chất trên mạng: coi kết quả là một câu hỏi để mang đi khám, không phải một chẩn đoán.
Nguồn tham khảo
- Hội Trung y dược Trung Hoa — Tiêu chuẩn ZYYXH/T157-2009 về phân loại và xác định thể chất Trung y.
- Wong W., Lam C.L.K. và cộng sự (2013), Validation of the Constitution in Chinese Medicine Questionnaire: Does the Traditional Chinese Medicine Concept of Body Constitution Exist?, Evidence-Based Complementary and Alternative Medicine — số câu từng nhóm, độ tin cậy, kappa, tỷ lệ các thể.
- Các nghiên cứu kiểm định bản tiếng Nhật của CCMQ (alpha từng nhóm khoảng 0,65 – 0,79).
- Hoàng Đế Nội Kinh, Linh Khu — thiên Thọ Yểu Cương Nhu.
Câu hỏi thường gặp
Thang đo thể chất Đông y 60 câu là gì?
Là bảng câu hỏi đi kèm tiêu chuẩn phân loại chín thể chất của Hội Trung y dược Trung Hoa (2009), hỏi về trải nghiệm khoảng một năm gần đây, mỗi câu chấm năm mức, chia chín nhóm.
Điểm thể chất tính thế nào?
Lấy tổng điểm các câu của nhóm (câu chấm ngược thì đảo điểm), trừ đi số câu, chia cho số câu nhân bốn, rồi nhân 100. Từ 40 trở lên là thuộc thể ấy, 30 – 39 là có xu hướng.
Có thể tự làm thang đo để biết mình thể gì không?
Có thể đọc để hiểu, nhưng không nên tự kết luận. Kiểm định cho thấy cách xếp loại dao động khá nhiều sau hai tuần, và các triệu chứng trong thang trùng với nhiều bệnh cần khám.
Vì sao làm test ra nhiều thể chất cùng lúc?
Vì thể chất pha là chuyện thường. Trong nghiên cứu Hồng Kông, gần hai phần ba người tham gia đạt ngưỡng ở từ hai thể thiên lệch trở lên.
Thang này đã dùng được cho người Việt chưa?
Chúng tôi chưa tìm thấy công bố về bản tiếng Việt được thích nghi và kiểm định trên người Việt. Thang đã được kiểm định trên người Trung Hoa và người Nhật.
Nguồn tham khảo: Tiêu chuẩn ZYYXH/T157-2009 Phân loại và xác định thể chất Trung y — Hội Trung y dược Trung Hoa · Wong W., Lam C.L.K. và cộng sự — Validation of the Constitution in Chinese Medicine Questionnaire (Evidence-Based Complementary and Alternative Medicine, 2013) · Hoàng Đế Nội Kinh — Linh Khu — thiên Thọ Yểu Cương Nhu