Bảng tính hàn – nhiệt của 50 món ăn Việt theo sách cổ: xoài, vải, cua, mướp đắng…

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc

Bảng tính hàn – nhiệt của 50 món ăn Việt theo sách cổ: xoài, vải, cua, mướp đắng…

Theo Bản Thảo Cương Mục (Lý Thời Trân, 1578), nhiều món người Việt gọi là "nóng" lại được ghi tính bình: vải, nhãn, mít; xoài có ý kiến ghi ôn, có ý kiến ghi hơi hàn. Các món "mát" quen thuộc như mướp đắng, bí đao, rau má, cua, ốc được ghi hàn. Bảng dưới tra từng món, ghi cả những chỗ sách tự mâu thuẫn.

Kiến thức văn hoá, không thay cho khám chữa bệnh. Đây là bảng tra sách cổ, không phải lời khuyên dinh dưỡng. Người có bệnh (tiểu đường, bệnh thận, gout, dạ dày, đang mang thai…) ăn uống theo chỉ định của bác sĩ và chuyên gia dinh dưỡng.

Cách đọc bảng

Mỗi mục thuốc trong Bản Thảo Cương Mục có phần khí vị (vị và tính), ghi ý kiến chính trước, rồi các ý kiến của thầy thuốc đời trước sau. Chúng tôi tra bản chữ Hán, chép ý kiến chính ở cột thứ ba và các ý kiến khác trong cùng mục ở cột thứ tư. Thang tính từ lạnh đến nóng: đại hàn, hàn, lạnh (lãnh), hơi hàn, mát (lương), bình, hơi ôn, ôn, nhiệt, đại nhiệt.

"Hàn, nhiệt" ở đây là tính của thức ăn theo lý luận Đông y, không phải nhiệt độ khi ăn, và không phải lời phán thức ăn ấy tốt hay xấu.

Quả

MónTên trong sáchBản Thảo Cương Mục ghiÝ kiến khác trong cùng mục
XoàiAm la quảngọt, ônSĩ Lương: chua, hơi hàn
VảiLệ chingọt, bìnhcó ý kiến ngọt chua, nhiệt; Lý Thời Trân: ăn tươi nhiều thì sưng lợi, đau miệng, chảy máu cam
NhãnLong nhãnngọt, bìnhTô Cung: ngọt chua, ôn
Dưa hấu (ruột)Tây quangọt nhạt, hàncó ý kiến: có độc nhẹ, ăn nhiều nôn, tiêu chảy; vỏ dưa ngọt, mát
MíaCam giángọt, bình, sápĐại Minh: lạnh
DừaDa tửcùi: ngọt, bình; nước: ngọt, ônMạnh Sằn: uống nhiều thì lạnh; Lý Thời Trân: tính nhiệt
MítBa la mậtngọt, thơm, hơi chua, bình
BưởiDữuchua, hànvỏ: ngọt cay, bình
CamChanh (橙)chua, hànSĩ Lương: ấm
QuýtQuấtngọt chua, ônĐào Hoằng Cảnh: ăn nhiều sinh đờm
HồngThịtươi: ngọt, hàn, sápphơi khô: ngọt, bình; sấy khói: ngọt, ôn
LêLêngọt hơi chua, hànăn nhiều lạnh bụng
KhếNgũ liễm tửchua ngọt sáp, bìnhchủ phong nhiệt, sinh tân chỉ khát
Táo tàu khôĐại táongọt, bìnhtáo tươi (sinh táo): ngọt cay, nhiệt
Ngó senNgẫungọt, bìnhĐại Minh: ôn

Rau, củ

MónTên trong sáchBản Thảo Cương Mục ghiÝ kiến khác trong cùng mục
Mướp đắngKhổ quađắng, hàn
Bí đaoĐông quangọt, hơi hànĐào Hoằng Cảnh: lạnh, lợi tiểu
Bí đỏNam quangọt, ôn
MướpTi quangọt, bình
Dưa chuộtHồ quangọt, hàn, có độc nhẹMạnh Sằn: không nên ăn nhiều
Cà tímGiangọt, hànngười lạnh lâu không nên ăn nhiều
Rau muốngÚng tháingọt, bìnhchủ giải độc cây "hồ mạn thảo" (lá ngón)
Rau dềnHiệnngọt, lạnh, trơndền đỏ: cay, hàn
Rau samMã xỉ hiệnchua, hànTô Cung: cay, ôn
Mồng tơiLạc quỳchua, hàn, trơnLý Thời Trân: ngọt hơi chua, lạnh trơn; tỳ lạnh không nên ăn
Diếp cáTập tháicay, hơi ôn, có độc nhẹBiệt Lục: ăn nhiều sinh suyễn
Củ cảiLai phụccay ngọt, ônMạnh Sằn: lạnh; Tôn Tư Mạc: bình
Cải trắngTùngngọt, ônĐại Minh: mát; Mạnh Sằn cho rằng tính lạnh
Rau mùiHồ tuycay, ônMạnh Sằn: bình, hơi hàn
TỏiHồ (葫)cay, ôn, có độcăn lâu hại mắt
Gừng tươiSinh khươngcay, hơi ônTrần Tàng Khí: muốn nóng thì bỏ vỏ, muốn mát thì để vỏ; vỏ gừng cay, mát
HẹCửucay hơi chua, ônĐại Minh: nhiệt
Rau máTích tuyết thảođắng, hànTô Tụng: ngọt, bình

Đồ uống, gia vị

MónTên trong sáchBản Thảo Cương Mục ghiÝ kiến khác trong cùng mục
Lá chè (trà)Mínhđắng ngọt, hơi hànTrần Tàng Khí: đắng, hàn; uống nên uống nóng, nguội thì tụ đờm
Hồ tiêuHồ tiêucay, đại ônLý Thời Trân: cay nhiệt, thuần dương
Mật ongPhong mậtngọt, bìnhBiệt Lục: hơi ôn; Lý Thời Trân: sống thì mát, chín thì ấm

Thủy sản, thịt, trứng

MónTên trong sáchBản Thảo Cương Mục ghiÝ kiến khác trong cùng mục
CuaGiảimặn, hàn, có độc nhẹLý Thời Trân: các loài cua đều lạnh, không độc lắm, ăn tươi với gừng, giấm thì không hại; hại là ăn quá nhiều
Ốc ruộngĐiền loangọt, đại hànvỏ ốc: ngọt, bình
HếnHiện (蜆)ngọt mặn, lạnhTrần Tàng Khí: có độc nhẹ, ăn nhiều sinh ho
TômHàngọt, ôn, có độc nhẹ
Cá chépLý ngưngọt, bìnhNhật Hoa: mát, có độc nhẹ
Cá diếcTức ngưngọt, ôn
Cá lócLễ ngưngọt, hànBiệt Lục: người có mụn nhọt không nên ăn
LươnThiện ngưngọt, đại ônĐào Hoằng Cảnh: tính nhiệt, bổ
Thịt lợnTrư nhụcthịt lợn nói chung: đắng, hơi hàn, có độc nhẹthịt lợn đực: chua, lạnh
Thịt bòNgưu nhụcbò vàng: ngọt, ôn; trâu: ngọt, bìnhNhật Hoa: thịt trâu lạnh
Thịt gàKê nhụcgà trống đỏ: ngọt, hơi ôngà trống trắng: chua, hơi ôn; Trần Tàng Khí: ngọt, hàn
Thịt vịtỐc nhục (鶩)ngọt, lạnh, có độc nhẹĐào Hoằng Cảnh: vịt mái vàng bổ nhất
Thịt dêDương nhụcđắng ngọt, đại nhiệtMạnh Sằn: ôn
Trứng gàKê tửngọt, bìnhTôn Tư Mạc: hơi hàn

Tổng cộng 50 món. Hai món "mát" quen thuộc của vùng Nam Bộ, rau má và bí đao, có bàn thêm ở bài thể chất thấp nhiệt.

Năm điều bảng cho thấy

Một: nhiều món "nóng" của dân gian, sách ghi "bình". Vải, nhãn, mít đều được Bản Thảo Cương Mục ghi bình. Ấn tượng "ăn vải nổi mụn, chảy máu cam" có thật trong sách, nhưng đi kèm điều kiện: ăn tươi, ăn nhiều. Lý Thời Trân nói vải "khí vị thuần dương", nên ông dặn đừng ăn quá nhiều; ông không xếp nó vào loại nhiệt như thịt dê.

Hai: một số món "mát" của dân gian, sách lại ghi ôn. Diếp cá được dùng như rau "mát" ở ta, nhưng Bản Thảo Cương Mục ghi cay, hơi ôn, có độc nhẹ. Đây là chỗ kinh nghiệm dân gian Việt và sách Trung Hoa đi hai ngả, và chưa ngả nào được kiểm bằng thực nghiệm.

Ba: chính sách cổ không thống nhất. Rau sam: hàn hay ôn. Cải trắng: ôn hay mát. Củ cải: ôn, lạnh hay bình. Xoài: ôn hay hơi hàn. Mỗi mục là một cuộc tranh luận của nhiều đời thầy thuốc, mà Lý Thời Trân chép lại đủ. Ai đưa ra một bảng "món này hàn, món kia nhiệt" gọn gàng là đã bỏ bớt phần tranh luận ấy.

Bốn: cách chế biến đổi tính. Hồng tươi hàn, phơi khô thành bình, sấy khói thành ôn. Gừng giữ vỏ thì mát, bỏ vỏ thì nóng. Mật ong sống mát, nấu chín ấm. Táo tàu tươi nhiệt, phơi khô bình. Nói "món X tính Y" mà không nói ăn thế nào thì thiếu.

Năm: nhiều món quen thuộc không có trong sách. Ổi, dứa, đu đủ, bơ, thanh long là cây gốc châu Mỹ; chúng tôi không tìm thấy mục riêng cho chúng trong Bản Thảo Cương Mục, và cũng không thấy mục sầu riêng, chôm chôm. Chữ "mộc qua" trong sách là một loại quả khác, không phải đu đủ. Vì vậy mọi lời "ổi tính nóng", "dứa tính hàn" không thể dẫn về sách cổ này; đó là suy diễn đời sau.

Lĩnh Nam Bản Thảo: phần chúng tôi chưa đối chiếu được

Lĩnh Nam Bản Thảo thường được nói là của Tuệ Tĩnh, nhưng tác phẩm mang tên ấy nằm trong bộ Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh của Hải Thượng Lãn Ông, viết bằng thơ Nôm, tiếp nối và bổ sung phần thuốc nam của Tuệ Tĩnh (xem bài Tuệ Tĩnh). Đây là nguồn quý nhất để biết người Việt xưa xếp tính các món ăn bản địa thế nào. Chúng tôi chưa có bản để tra từng món, nên chưa đưa cột Lĩnh Nam Bản Thảo vào bảng; sẽ bổ sung khi đối chiếu được, thay vì điền theo trí nhớ.

Sách cổ nói gì

Lệ chi khí vị thuần dương, kỳ tính úy nhiệt. Tiên giả thực đa, tức ngân thũng khẩu thống, hoặc nục huyết dã.

Dịch: Vải khí vị thuần dương, tính nó sợ nóng. Ăn tươi nhiều thì sưng lợi, đau miệng, hoặc chảy máu cam. — Lý Thời Trân, Bản Thảo Cương Mục, mục Lệ chi

Tiên giải hòa dĩ khương, thố, hựu lược thưởng phong vị, hà độc chi hữu?

Dịch: Cua tươi ăn với gừng, giấm, thưởng chút phong vị, thì có độc gì? — Lý Thời Trân, Bản Thảo Cương Mục, mục Giải

Bình: hai lời bình của Lý Thời Trân cho thấy thái độ của ông: không cấm món nào, chỉ dặn lượng và cách ăn. Ngay sau câu về cua, ông chê người tham ăn một lúc mười mấy con lại uống rượu, ăn đồ tanh béo, nên mới sinh bệnh. Bài học ấy hợp với hôm nay hơn mọi bảng "kiêng" cứng nhắc.

Đọc cho đúng mức

  • Bảng ghi điều sách cổ viết, không phải kết quả nghiên cứu dinh dưỡng. "Tính hàn, nhiệt" chưa có phép đo khách quan tương ứng.
  • Chữ "có độc" trong sách cổ thường chỉ tác dụng phụ khi ăn nhiều hoặc ăn sống, không có nghĩa món ấy độc theo nghĩa hiện đại; ngược lại, sách cũng không biết những nguy cơ mà y học hiện đại biết (ví dụ ký sinh trùng trong ốc, cua sống).
  • Tên trong sách và tên món Việt không phải lúc nào cũng trùng một loài; chúng tôi đối chiếu theo cách hiểu phổ biến.
  • Người có bệnh: tính hàn nhiệt không thay được lời dặn của bác sĩ về đường, muối, đạm, purin.

Việc nên làm

  • Dùng bảng để hiểu vì sao ông bà dặn "đừng ăn nhiều vải", "ăn cua phải có gừng", không để kiêng khem cứng nhắc.
  • Ăn đa dạng, chín, sạch; nhiều rau và quả; ít đường, ít muối. Đây là lời khuyên chung đúng với mọi "tính".
  • Muốn chọn món theo thể chất của mình, nhờ bác sĩ y học cổ truyền đánh giá thể chất trước (xem chín thể chất Đông y), đừng chọn theo năm sinh hay mệnh.
  • Ốc, cua, cá: luôn nấu chín kỹ, bất kể tính gì.

Nguồn tham khảo

  • Lý Thời Trân, Bản Thảo Cương Mục (1578) — các mục: Am la quả, Lệ chi, Long nhãn, Tây qua, Cam giá, Da tử, Ba la mật, Dữu, Chanh, Quất, Thị, Lê, Ngũ liễm tử, Đại táo, Liên ngẫu, Khổ qua, Đông qua, Nam qua, Ti qua, Hồ qua, Gia, Úng thái, Hiện, Mã xỉ hiện, Lạc quỳ, Tập thái, Lai phục, Tùng, Hồ tuy, Hồ, Sinh khương, Cửu, Tích tuyết thảo, Mính, Hồ tiêu, Phong mật, Giải, Điền loa, Hiện, Hà, Lý ngư, Tức ngư, Lễ ngư, Thiện ngư, Thỉ, Ngưu, Kê, Ốc, Dương (tra trên bản chữ Hán ở Wikisource, 21/10/2026).
  • Lê Hữu Trác, Lĩnh Nam Bản Thảo, trong Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh — nhắc tới, chưa đối chiếu từng món.

Câu hỏi thường gặp

Vải có nóng không?

Bản Thảo Cương Mục ghi vải ngọt, tính bình, nhưng có ý kiến ghi nhiệt, và Lý Thời Trân dặn ăn vải tươi quá nhiều dễ sưng lợi, đau miệng, chảy máu cam. Nghĩa là ăn vừa phải thì không đáng lo.

Xoài tính nóng hay mát?

Sách ghi xoài ngọt, ôn; một ý kiến khác trong cùng mục ghi chua, hơi hàn. Hai ý kiến được chép song song, chưa ngã ngũ.

Vì sao ăn cua hay dùng gừng, tía tô?

Sách ghi cua tính hàn, có độc nhẹ. Đào Hoằng Cảnh nêu nước tía tô, nước tỏi, nước đậu xị, nước rễ lau để giải; Lý Thời Trân nói cua tươi ăn với gừng, giấm thì không hại gì, cái hại là ăn quá nhiều. Cách ăn cua kèm gừng, tía tô của người Việt khớp với các lời ấy.

Ổi, dứa tính gì theo sách cổ?

Chúng tôi không tìm thấy mục riêng cho ổi, dứa, đu đủ, bơ, thanh long trong Bản Thảo Cương Mục; phần lớn là cây gốc châu Mỹ. Các nhận định về tính của chúng là suy diễn đời sau.

Người "nóng trong" có nên tránh hết đồ tính ôn, nhiệt?

Không nên kiêng cứng nhắc. "Nóng trong" là chữ gom nhiều thứ; nên tìm nguyên nhân cụ thể, ăn đa dạng, và đi khám nếu triệu chứng kéo dài.

Nguồn tham khảo: Lý Thời Trân — Bản Thảo Cương Mục (1578) — các bộ Quả, Rau, Cỏ, Cây, Vảy, Vỏ, Chim, Thú, Sâu bọ · Lê Hữu Trác — Lĩnh Nam Bản Thảo (trong Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh) · Bản Bản Thảo Cương Mục chữ Hán trên Wikisource (truy xuất 21/10/2026), dùng để tra mục từng món

Thể chất dương hư: hay lạnh tay chân — Đông y mô tả thế nào và khi nào là dấu hiệu tuyến giáp, thiếu máuThể chất dương hư là gì: sợ lạnh, tay chân không ấm, ăn lạnh dễ tiêu chảy; cách Đông y mô tả và những dấu hiệu cần thử tuyến giáp…
Thể chất khí hư: hay mệt, nói ít, dễ ra mồ hôi — sách cổ mô tả và đời sống nên chỉnh gìThể chất khí hư theo tiêu chuẩn Trung y 2009: hay mệt, hụt hơi, nói nhỏ, dễ ra mồ hôi, dễ cảm. Nội Kinh nói gì, đời sống nên chỉn…
Thể chất bình hoà: “người bình thường” theo Đông y trông ra saoThể chất bình hoà theo tiêu chí Vương Kỳ: dáng, sắc, ngủ, ăn, tính tình; vì sao khảo sát chỉ thấy khoảng một phần ba người bình h…
"Nóng trong", "người hàn": Đông y gọi là gì và dân gian hay dùng sai chỗ nàoNóng trong, người hàn trong Đông y là gì: thực nhiệt, hư nhiệt, thấp nhiệt khác nhau ra sao, vì sao Tố Vấn tự cảnh báo chuyện uốn…
"Thuần dương chi thể": trẻ em trong mắt Đông y và vì sao không tự cho trẻ uống thuốc mátThể chất trẻ em theo Đông y: thuần dương, tạng phủ non, dễ hư dễ thực, dễ hàn dễ nhiệt theo Tiền Ất. Vì sao không tự cho trẻ uống…
Thể chất Đông y và mệnh ngũ hành theo năm sinh: hai thứ khác nhau hoàn toànThể chất và mệnh ngũ hành khác nhau: thể chất xét triệu chứng hiện tại, nạp âm năm sinh là ký hiệu lịch pháp. Vì sao lối mệnh Hỏa…