Chín thể chất theo Đông y hiện đại của Vương Kỳ: bảng tra đầy đủ và vì sao đây không phải sách cổ

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc

Chín thể chất theo Đông y hiện đại của Vương Kỳ: bảng tra đầy đủ và vì sao đây không phải sách cổ

Chín thể chất là cách chia người theo khuynh hướng cơ thể do giáo sư Vương Kỳ (Đại học Trung y dược Bắc Kinh) xây dựng, được Hội Trung y dược Trung Hoa ban hành thành tiêu chuẩn năm 2009: bình hoà, khí hư, dương hư, âm hư, đàm thấp, thấp nhiệt, huyết ứ, khí uất, đặc bẩm. Đây là phân loại hiện đại, không có nguyên dạng trong sách cổ.

Kiến thức văn hoá, không thay cho khám chữa bệnh. Bảng dưới mô tả cách phân loại của y học cổ truyền hiện đại. Thể chất là khuynh hướng, không phải bệnh; không tự xếp mình vào một ô rồi tự dùng thuốc. Có triệu chứng thì đi khám.

Bảng chín thể chất

Mã chữ cái A – I là cách đánh số trong tiêu chuẩn. Cột "đặc điểm chính" theo phần "tổng thể đặc trưng" của tiêu chuẩn; cột "xu hướng bệnh" là điều tiêu chuẩn ghi nhận, không phải lời phán cho từng người.

MãThể chấtĐặc điểm chínhHình thể thường gặpDấu hiệu hay gặpTính tình hay gặpXu hướng bệnh (theo tiêu chuẩn)Thích nghi môi trường
ABình hoàâm dương khí huyết điều hoàcân đối, rắn chắcsắc mặt hồng nhuận, ít mệt, ngủ tốt, ăn ngon, chịu được nóng lạnhcởi mở, dễ chịuít ốmtốt
BKhí hưnguyên khí không đủcơ nhão, không chắcnói nhỏ, hụt hơi, dễ mệt, dễ ra mồ hôi, lưỡi có dấu rănghướng nội, ngại mạo hiểmdễ cảm, sa tạng, ốm lâu hồikém chịu gió, lạnh, nóng, ẩm
CDương hưdương khí không đủ, thiên lạnhcơ nhãosợ lạnh, tay chân không ấm, thích ăn uống nóng, lưỡi nhợt bệutrầm lặng, hướng nộiphù, tiêu chảy, đàm ẩm; nhiễm lạnh dễ thành chứng hànchịu hè, không chịu đông
DÂm hưphần nhu nhuận thiếu, thiên nóng khôthiên gầylòng bàn tay chân nóng, khô miệng họng, thích uống lạnh, đại tiện khô, lưỡi đỏ ít rêunóng nảy, hiếu độngmất ngủ, chứng hư lao; nhiễm tà dễ thành chứng nhiệtchịu đông, không chịu hè, nóng, khô
EĐàm thấpđàm thấp ngưng đọngbéo, bụng to mềmda mặt nhiều dầu, mồ hôi dính, tức ngực, nhiều đờm, miệng dính, rêu lưỡi nhớtôn hoà, nhẫn nạitiêu khát, trúng phong, đau tức ngựckém chịu mùa mưa dầm, nơi ẩm
FThấp nhiệtẩm và nóng quyện trongtrung bình hoặc thiên gầymặt bóng dầu, hay mụn, miệng đắng, người nặng, đại tiện dính, tiểu vàngdễ bực bộimụn nhọt, vàng da, tiểu buốtkém chịu cuối hè đầu thu nóng ẩm
GHuyết ứhuyết vận hành không trơngầy béo đều códa sạm, dễ bầm, môi thâm, lưỡi tím sẫm hoặc có điểm ứdễ phiền, hay quênkhối tích, chứng đau, chứng chảy máukém chịu lạnh
HKhí uấtkhí cơ uất trệgầy nhiều hơnvẻ buồn, dễ tủi, hay thở dài, tức ngực sườnnhạy cảm, lo nghĩtrầm uất, cảm giác vướng họng ("mai hạch khí")kém chịu kích thích tinh thần, trời âm u
IĐặc bẩmbẩm sinh khác thường, dị ứngthường không đặc biệthen, nổi mề đay, ngứa họng, ngạt mũi, hắt hơituỳ ngườihen, mề đay, dị ứng phấn hoa, dị ứng thuốc; bệnh bẩm sinhkém

Trong chín loại, chỉ bình hoà là "thể chất cân bằng"; tám loại kia được gọi là thể chất thiên lệch. Người thật thường mang thể chất pha: vừa khí hư vừa dương hư, vừa đàm thấp vừa thấp nhiệt. Tiêu chuẩn chấp nhận chuyện một người có hai, ba loại cùng lúc.

Cách xác định: thang 60 câu, không phải nhìn mặt

Tiêu chuẩn đi kèm một bảng hỏi khoảng 60 câu (thường gọi tắt là CCMQ), mỗi câu chấm năm mức từ "không có" đến "luôn luôn". Điểm từng nhóm được quy đổi về thang 0 – 100:

Điểm quy đổi = (điểm thô − số câu của nhóm) ÷ (số câu × 4) × 100

LoạiNgưỡngKết luận
Tám thể thiên lệch≥ 40là thể đó
30 – 39có xu hướng
< 30không phải
Bình hoà≥ 60 và tám thể kia đều < 30là bình hoà
≥ 60 và tám thể kia đều < 40cơ bản là bình hoà
còn lạikhông phải

Cấu trúc từng câu, cách tính và những chỗ dễ hiểu sai khi tự làm có ở bài thang đo thể chất 60 câu. Điểm cần nhớ: thang được kiểm độ tin cậy trên quần thể Trung Quốc, chưa được chuẩn hoá cho người Việt.

Ai cũng thiên lệch? Con số khảo sát

Nhóm của Vương Kỳ khảo sát dịch tễ trên khoảng hai vạn người ở nhiều tỉnh Trung Quốc (công bố quanh năm 2009). Kết quả thường được dẫn: khoảng một phần ba là bình hoà, hai phần ba còn lại mang ít nhất một thể thiên lệch, trong đó khí hư là nhóm đông nhất. Bài thể chất bình hoà bàn vì sao con số này không có nghĩa hai phần ba dân số "có bệnh".

Chín thể chất từ đâu ra: cổ và hiện đại

Đây là chỗ nhiều trang viết lẫn: họ gọi chín thể chất là "theo sách cổ". Thực ra:

Sách cổHiện đại
Cách chiaLinh Khu, thiên Âm Dương Nhị Thập Ngũ Nhân: 25 kiểu người theo ngũ hành và ngũ âm; thiên Thông Thiên: năm kiểu thái âm, thiếu âm, thái dương, thiếu dương, âm dương hoà bìnhVương Kỳ: chín loại theo khí huyết âm dương và bệnh lý (đàm, thấp, ứ, uất)
Dựa vàohình dáng, tính tình, cách ứng xử, phương hướng sinh sốngtriệu chứng thường ngày, có bảng hỏi chấm điểm
Mục đíchmô tả loại người, nói cách châm cho hợpsàng lọc, dưỡng sinh, nghiên cứu dịch tễ
Có kiểm địnhkhôngcó thống kê độ tin cậy trên mẫu lớn

Tố Vấn, thiên Dị Pháp Phương Nghi Luận, đại ý: người năm phương sống khác nhau, ăn khác nhau nên bệnh khác nhau, phép chữa cũng phải khác. Ý "người mỗi người một khác" có từ rất sớm, nhưng tên gọi, số lượng và tiêu chí của chín thể chất là sản phẩm cuối thế kỷ 20, dựa trên khái niệm chứng (khí hư, đàm thấp, huyết ứ…) của Đông y đời sau. Gọi đúng như vậy không làm giảm giá trị của nó; chỉ là đừng gán cho Nội Kinh điều Nội Kinh không viết.

Đọc bảng cho đúng

  • Thể chất khác chứng bệnh. Thể chất là khuynh hướng lâu dài; chứng là tình trạng lúc đang ốm. Người thể chất âm hư vẫn có thể bị cảm lạnh.
  • Thể chất đổi được. Tiêu chuẩn coi thể chất "tương đối ổn định nhưng có thể điều chỉnh" theo tuổi, nơi ở, cách sống.
  • Không liên quan tới năm sinh. Mệnh nạp âm không nói gì về thể chất; xem bài thể chất và mệnh ngũ hành.
  • "Xu hướng bệnh" không phải lời báo trước. Người đàm thấp không có nghĩa sẽ bị đái tháo đường; đó là nhóm nên chú ý đo đường huyết, mỡ máu sớm hơn.

Đọc cho đúng mức

  • Chín thể chất là phân loại của y học cổ truyền Trung Quốc hiện đại, có giá trị sàng lọc và nghiên cứu, chưa phải công cụ chẩn đoán bệnh.
  • Thang chấm điểm chưa chuẩn hoá cho người Việt; khí hậu, ăn uống khác có thể làm lệch kết quả.
  • Nhiều dấu hiệu trong bảng (lạnh tay chân, khô miệng, béo bụng, bầm tím, buồn kéo dài) cũng là triệu chứng của bệnh có tên trong y học hiện đại, cần xét nghiệm để phân biệt.
  • Các tác giả khác từng đề xuất cách chia khác (bốn, sáu, bảy loại); chín loại của Vương Kỳ phổ biến nhất vì đã thành tiêu chuẩn.

Việc nên làm

  • Dùng bảng để hiểu khái niệm, không để tự chẩn đoán.
  • Nếu nhận ra mình gần một thể thiên lệch, việc nên làm trước tiên là khám sức khoẻ định kỳ: đo huyết áp, đường huyết, mỡ máu, công thức máu, chức năng tuyến giáp khi bác sĩ chỉ định.
  • Muốn được xác định thể chất bài bản, gặp bác sĩ y học cổ truyền; xem bài phân biệt lương y, y sĩ, bác sĩ để chọn đúng người.

Nguồn tham khảo

  • Hội Trung y dược Trung Hoa — Tiêu chuẩn ZYYXH/T157-2009, Phân loại và xác định thể chất Trung y (2009).
  • Vương Kỳ — Trung y thể chất học (các bản in và bài nghiên cứu của nhóm Đại học Trung y dược Bắc Kinh).
  • Hoàng Đế Nội Kinh, Linh Khu — Âm Dương Nhị Thập Ngũ Nhân; Thông Thiên (đại ý).
  • Hoàng Đế Nội Kinh, Tố Vấn — Dị Pháp Phương Nghi Luận (đại ý).

Câu hỏi thường gặp

Chín thể chất Đông y gồm những loại nào?

Bình hoà, khí hư, dương hư, âm hư, đàm thấp, thấp nhiệt, huyết ứ, khí uất và đặc bẩm. Bình hoà là thể cân bằng, tám loại còn lại là thể thiên lệch.

Chín thể chất có trong Hoàng Đế Nội Kinh không?

Không. Nội Kinh có cách chia người riêng (25 kiểu người, năm kiểu âm dương). Chín thể chất do Vương Kỳ xây dựng cuối thế kỷ 20 và thành tiêu chuẩn năm 2009.

Một người có thể mang nhiều thể chất không?

Có. Tiêu chuẩn chấp nhận thể chất pha, ví dụ vừa khí hư vừa dương hư; đây là trường hợp thường gặp hơn là chỉ một loại thuần.

Thể chất có thay đổi được không?

Có. Thể chất được coi là tương đối ổn định nhưng đổi theo tuổi, nơi ở, ăn uống, vận động, giấc ngủ và bệnh tật.

Tự làm bảng hỏi trên mạng có tin được không?

Chỉ nên coi là tham khảo. Thang chưa chuẩn hoá cho người Việt, và nhiều dấu hiệu trùng với triệu chứng bệnh cần xét nghiệm; kết quả nên được bác sĩ đọc cùng.

Nguồn tham khảo: Tiêu chuẩn ZYYXH/T157-2009 Phân loại và xác định thể chất Trung y — Hội Trung y dược Trung Hoa · Vương Kỳ — Trung y thể chất học · Hoàng Đế Nội Kinh — Linh Khu — Âm Dương Nhị Thập Ngũ Nhân; Thông Thiên · Hoàng Đế Nội Kinh — Tố Vấn — Dị Pháp Phương Nghi Luận

Thể chất bình hoà: “người bình thường” theo Đông y trông ra saoThể chất bình hoà theo tiêu chí Vương Kỳ: dáng, sắc, ngủ, ăn, tính tình; vì sao khảo sát chỉ thấy khoảng một phần ba người bình h…
Thể chất thấp nhiệt: da dầu, hay mụn, miệng đắng — Đông y đọc thế nàoThể chất thấp nhiệt: mặt bóng dầu, hay mụn, miệng đắng, người nặng, đại tiện dính. Sáu câu hỏi trong thang đo, ăn uống hợp khí hậ…
Thể chất khí uất: hay thở dài, dễ buồn — mối nối giữa can khí và tâm lýThể chất khí uất: hay buồn, lo nghĩ, thở dài, vướng họng. Can chủ sơ tiết, lục uất của Chu Đan Khê, và vì sao buồn kéo dài trên h…
Thể chất đàm thấp: nặng nề, dễ tăng cân — Đông y mô tả thế nào và mối nối với hội chứng chuyển hoáThể chất đàm thấp là gì: béo bụng, người nặng nề, da dầu, miệng dính, nhiều đờm; Tố Vấn nói gì về đồ béo ngọt và vì sao nên đo vò…
Thể chất dương hư: hay lạnh tay chân — Đông y mô tả thế nào và khi nào là dấu hiệu tuyến giáp, thiếu máuThể chất dương hư là gì: sợ lạnh, tay chân không ấm, ăn lạnh dễ tiêu chảy; cách Đông y mô tả và những dấu hiệu cần thử tuyến giáp…
Thể chất huyết ứ: da sạm, môi thâm — khái niệm “ứ” và giới hạn tự nhậnThể chất huyết ứ theo Vương Kỳ: da sạm, môi thâm, dễ bầm; đối chiếu Y Lâm Cải Thác của Vương Thanh Nhiệm, và vì sao bầm tím bất t…