"Thệ Pháp" trên thẻ tre Thanh Hoa: một sách bói bát quái thời Chiến Quốc, với Khảm, Ly đổi chỗ

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 10 phút đọc

"Thệ Pháp" trên thẻ tre Thanh Hoa: một sách bói bát quái thời Chiến Quốc, với Khảm, Ly đổi chỗ

Thệ Pháp là một thiên trong tập thẻ tre thời Chiến Quốc do Đại học Thanh Hoa lưu giữ, công bố trong tập bốn đầu năm 2014. Sách gồm 63 thẻ, ghi một phép bói bằng tám quẻ đơn thịnh ở nước Sở, khác phép của Chu Dịch. Trong sách có đồ đặt tám quẻ vào tám phương, sớm nhất từng thấy, giống hậu thiên nhưng Khảm và Ly đổi chỗ.

Bài này tóm những gì đã được công bố về Thệ Pháp, chủ yếu theo bài giới thiệu của Lý Học Cần, người chủ trì việc chỉnh lý, và đặt nó cạnh Thuyết Quái, văn bản mà người học bát quái hôm nay vẫn dựa vào. Chi tiết nào chưa kiểm được trên bản thích văn đầy đủ, chúng tôi nói rõ.

Tập thẻ và thiên Thệ Pháp

Năm 2008, Đại học Thanh Hoa nhận về một lô thẻ tre thời Chiến Quốc, thường gọi là "Thanh Hoa giản". Lô thẻ được chỉnh lý và công bố dần theo từng tập. Tập bốn ra mắt ngày 7/1/2014, gồm ba thiên: Thệ Pháp, Biệt Quái, và một bảng tính được báo chí giới thiệu là bảng nhân thực dụng sớm nhất từng biết.

Về thiên Thệ Pháp, những điều đã được công bố:

  • 63 thẻ, mỗi thẻ dài khoảng 35 cm, gần như không hư hại. Bản gốc không có tên thiên; "Thệ Pháp" (phép bói cỏ thi) là tên người chỉnh lý đặt.
  • Đây là tập thẻ hiếm hoi còn giữ nguyên dạng cuộn, thứ tự các thẻ không lẫn chỗ nào. Mặt sau có dấu vết tơ lụa dán để giữ thẻ, một hình thức lần đầu được thấy.
  • Nội dung là lý thuyết và phương pháp của một lối bói thịnh ở nước Sở thời Chiến Quốc, kèm rất nhiều ví dụ bói có ghi quẻ.

Việc thẻ còn nguyên thứ tự quan trọng hơn người ngoài nghĩ. Với tập thẻ rời dây như Quy Tàng ở Vương Gia Đài (bài Liên Sơn, Quy Tàng), thứ tự phải đoán lại; ở đây, các đồ và các đoạn văn đứng đúng chỗ người xưa đặt.

Hào ghi bằng số

Thệ Pháp không vẽ hào bằng vạch liền, vạch đứt. Nó ghi mỗi hào bằng một con số:

Loại hàoSố chínhSố khác cũng gặp
Dương15, 9
Âm64, 8

Theo Lý Học Cần, trong các ví dụ, ngoài 1 và 6 thì 8 gặp nhiều nhất, rồi đến 5, 9; số 4 chưa thấy trong ví dụ bói thực. Mỗi lần bói ra hai quẻ sáu hào ghi cạnh nhau, mỗi quẻ sáu con số.

Có hai điều đáng để ý. Thứ nhất, quy luật chẵn lẻ vẫn giữ: số lẻ là dương, số chẵn là âm, như trong phép cỏ thi của Hệ Từ (bài bói cỏ thi) nơi 7, 9 là dương, 6, 8 là âm. Thứ hai, bộ số lại khác: Chu Dịch chỉ cho ra 6, 7, 8, 9; Thệ Pháp dùng 1, 4, 5, 6, 8, 9. Tức là cách rút cỏ để ra số ở đây không giống cách Chu Hy dựng lại cho Chu Dịch. Thệ Pháp là bằng chứng rằng thời Chiến Quốc có hơn một phép tính số quẻ.

Chỉ tám quẻ đơn, không tên sáu mươi tư quẻ

Dù mỗi lần bói ra hai quẻ sáu hào, toàn thiên Thệ Pháp chỉ dùng tám quẻ đơn, không gọi tên sáu mươi tư quẻ kép. Người bói đọc quẻ sáu hào như hai quẻ ba hào chồng lên nhau, rồi xét quan hệ giữa các quẻ đơn, vị trí của chúng, mùa và việc hỏi.

Lý Học Cần cho rằng đặc điểm này hợp với Quy Tàng, và tên tám quẻ trong Thệ Pháp gần với tên quẻ của Quy Tàng hơn là của Chu Dịch. Thiên Biệt Quái cùng tập lại ghi tên các quẻ kép, mà tên gọi cũng có liên hệ với Quy Tàng.

Hệ quả cho người học hôm nay: hình ảnh quen thuộc "bói Dịch là tra lời của một trong sáu mươi tư quẻ" chỉ đúng với Chu Dịch. Ở nước Sở thời Chiến Quốc, có thầy bói làm việc chỉ với tám quẻ đơn, đọc bằng quan hệ và vị trí.

Đồ tám quẻ tám phương: giống hậu thiên, trừ Khảm và Ly

Đây là phần làm Thệ Pháp nổi tiếng. Trong thiên có một đồ quái vị: tám quẻ đặt vào tám phương. Lý Học Cần nói ông chưa từng thấy đồ quái vị nào sớm hơn.

So với phương vị hậu thiên mà Thuyết Quái chương 5 mô tả ("Đế xuất hồ Chấn…", dẫn ở mục "Sách cổ nói gì"):

PhươngHậu thiên (Thuyết Quái)Thệ Pháp
ĐôngChấnChấn
Đông NamTốnTốn
NamLyKhảm
Tây NamKhônKhôn
TâyĐoàiĐoài
Tây BắcCànCàn
BắcKhảmLy
Đông BắcCấnCấn

Sáu quẻ đứng đúng chỗ của hậu thiên. Chỉ Khảm và Ly đổi chỗ: Khảm ở Nam, Ly ở Bắc. Lý Học Cần kể lúc đầu ông nghĩ người chép vẽ nhầm, nhưng cách đặt ấy lặp lại nhiều lần trong thiên nên không thể là lỗi. Ông nói nguyên nhân còn cần nghiên cứu.

Chỗ này đụng thẳng vào một câu hỏi mà trang đã bàn: vì sao hậu thiên đặt Ly ở Nam, Khảm ở Bắc. Các cách giải quen thuộc đều dựa trên ngũ hành và mùa: Ly là lửa, phương Nam nóng; Khảm là nước, phương Bắc lạnh. Thệ Pháp cho thấy, ít nhất ở một truyền thống bói của nước Sở, người ta đặt ngược lại mà vẫn dùng được. Nghĩa là:

  • Phương vị hậu thiên như ta biết không phải là lối duy nhất thời Chiến Quốc.
  • Lối phối "Ly lửa ở Nam" có thể là kết quả của một quá trình chuẩn hoá về sau, khi Thuyết Quái thành văn bản chính thống, chứ không phải điều hiển nhiên từ đầu.

Chúng tôi không đưa ra cách giải cho việc đổi chỗ; người chỉnh lý chưa đưa ra, và mọi cách giải lúc này đều là đoán.

Hình người giữa đồ: Ly ở dưới bụng

Ở giữa đồ quái vị có một hình người, các quẻ được gắn vào bộ phận cơ thể. Thuyết Quái chương 9 cũng có một bảng như vậy:

QuẻThuyết Quái chương 9Thệ Pháp
Cànđầunhư Thuyết Quái
Khônbụngnhư Thuyết Quái
Chấnchânnhư Thuyết Quái
Tốnđùinhư Thuyết Quái
Khảmtainhư Thuyết Quái
Lymắtphần dưới bụng
Cấntaynhư Thuyết Quái
Đoàimiệngnhư Thuyết Quái

Theo Lý Học Cần, bảy quẻ khớp với Thuyết Quái; riêng Ly không ở mắt mà ở dưới bụng. Hai chỗ lệch của Thệ Pháp so với Thuyết Quái, phương vị và thân người, đều liên quan đến quẻ Ly. Có phải hai chỗ này có chung một nguyên nhân hay không là câu hỏi mở. Bài bát quái phối người trong nhà bàn một bảng khác của Thuyết Quái, cho thấy văn bản ấy có nhiều lớp phối tượng.

Mười bảy mệnh: bói việc gì

Chu Lễ, ở chức Thệ Nhân, nói người bói có tám "mệnh", tức tám loại việc được đem ra hỏi. Thệ Pháp liệt kê mười bảy mệnh, nhiều gấp đôi, kèm ví dụ bằng hình quẻ cho từng mục. Một mục được Lý Học Cần dẫn làm ví dụ là mục "Quả", có hình quẻ minh hoạ.

Chi tiết từng mục chúng tôi chưa đối chiếu được trên bản thích văn, nên không liệt kê ở đây. Điều cần thấy là: Thệ Pháp không phải sách triết lý. Nó là sách nghề, chia việc hỏi thành loại, mỗi loại có cách đọc riêng, kèm ca mẫu. Gần với Lục Hào đời sau hơn là với Kinh Dịch của Nho gia.

Thệ Pháp đổi cách nhìn những gì

Trước Thệ PhápSau Thệ Pháp
Đồ bát quái tám phương được coi là sản phẩm của Tống học (Trần Đoàn, Thiệu Ung)đã có đồ quái vị trên thẻ tre Chiến Quốc
Phương vị hậu thiên coi như duy nhấtcó ít nhất một biến thể với Khảm, Ly đổi chỗ
Quy Tàng chủ yếu biết qua câu tríchcó thêm một sách bói Sở dùng tám quẻ, tên quẻ gần Quy Tàng
Hào ghi bằng số được biết qua các "quẻ số" lẻ tẻcó cả một sách giải thích cách dùng số

Dòng đầu cần nói rõ để khỏi hiểu lầm: Thệ Pháp không chứng minh Hà Đồ, Lạc Thư hay Tiên Thiên đồ có từ trước đời Tống. Nó chỉ cho thấy việc vẽ quẻ lên sơ đồ phương vị đã có từ thời Chiến Quốc. Luận điểm của Hồ Vị về các đồ Tống học vẫn đứng; chỉ câu "Dịch cổ không dùng đồ" phải nói mềm lại (bài Hồ Vị và Dịch Đồ Minh Biện).

Sách cổ nói gì

Đế xuất hồ Chấn, tề hồ Tốn, tương kiến hồ Ly, trí dịch hồ Khôn, thuyết ngôn hồ Đoài, chiến hồ Càn, lao hồ Khảm, thành ngôn hồ Cấn.

Dịch: Đế ra ở Chấn, chỉnh tề ở Tốn, cùng thấy nhau ở Ly, dốc sức phục dịch ở Khôn, vui nói ở Đoài, giao chiến ở Càn, nhọc nhằn ở Khảm, thành tựu lời nói ở Cấn. — Thuyết Quái, chương 5

Bình: Đoạn này đi một vòng tám quẻ theo bốn mùa và tám phương; đoạn văn tiếp theo trong Thuyết Quái mới nói thẳng "Ly là quẻ phương Nam", "Khảm là quẻ phương Bắc". Thệ Pháp giữ đúng vòng ấy cho sáu quẻ và đổi chỗ đúng hai quẻ được Thuyết Quái gắn phương rõ nhất. Điều đó làm việc đổi chỗ càng khó giải thích là sơ suất.

Càn vi thủ, Khôn vi phúc, Chấn vi túc, Tốn vi cổ, Khảm vi nhĩ, Ly vi mục, Cấn vi thủ, Đoài vi khẩu.

Dịch: Càn là đầu, Khôn là bụng, Chấn là chân, Tốn là đùi, Khảm là tai, Ly là mắt, Cấn là tay, Đoài là miệng. — Thuyết Quái, chương 9

Bình: Bảng phối thân người này là thứ các phép đoán bệnh, đoán tướng đời sau vẫn dùng. Thệ Pháp khớp bảy trên tám quẻ, cho thấy bảng ấy đã thành hình từ thời Chiến Quốc, và cũng cho thấy chưa thống nhất hoàn toàn.

Đọc cho đúng mức

  • Nguồn chính của bài là bài giới thiệu của Lý Học Cần và các bản tin khi công bố tập bốn; chúng tôi chưa đối chiếu bản thích văn đầy đủ trong sách Thanh Hoa giản tập bốn. Các chi tiết như tên tám quẻ trong Thệ Pháp, nội dung mười bảy mệnh, chưa ghi vào bài vì lý do ấy.
  • Thẻ Thanh Hoa không có nguồn gốc khai quật (lô thẻ được trường nhận về, không phải do đào được tại chỗ có ghi chép), nên niên đại dựa trên giám định thẻ và chữ viết. Đa số giới nghiên cứu chấp nhận niên đại Chiến Quốc.
  • Khảm, Ly đổi chỗ là điều người chỉnh lý xác nhận; nguyên nhân chưa có lời giải được chấp nhận.
  • Thệ Pháp là tư liệu lịch sử về một phép bói; không có cơ sở để coi lối đặt quẻ của nó "đúng hơn" hay "sai hơn" hậu thiên khi dùng trong phong thuỷ, bói toán hôm nay.

Việc nên làm

  1. Vẽ hai vòng bát quái cạnh nhau, hậu thiên và Thệ Pháp, để tự thấy chỉ một trục Nam Bắc thay đổi.
  2. Khi gặp câu "phương vị hậu thiên có từ Văn Vương", nhớ rằng thời Chiến Quốc còn có biến thể khác; câu ấy là truyền thống.
  3. Theo dõi các công bố thích văn và nghiên cứu mới về Thệ Pháp trước khi trích chi tiết từng thẻ.

Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?

Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.

Xem lịch các thầy

Nguồn tham khảo

  • Thanh Hoa Đại học tàng Chiến Quốc trúc giản, tập bốn: thiên Thệ Pháp, Biệt Quái (đại ý, qua bài giới thiệu; chưa đối chiếu bản thích văn).
  • Lý Học Cần — bài giới thiệu tập bốn thẻ tre Thanh Hoa, Trung Quốc Văn Hoá Báo, 14/1/2014: số hào, đồ quái vị, hình người, mười bảy mệnh (đại ý).
  • Bản tin công bố tập bốn ngày 7/1/2014 của Đại học Thanh Hoa: số thẻ, kích thước, hình thức cuộn (đại ý).
  • Chu Dịch — Thuyết Quái, chương 5 và chương 9 (nguyên văn).
  • Chu Lễ — Xuân Quan, chức Thệ Nhân: tám mệnh (đại ý).

Câu hỏi thường gặp

Thệ Pháp trên thẻ tre Thanh Hoa là gì?

Là một thiên sách bói thời Chiến Quốc gồm 63 thẻ tre, nằm trong lô thẻ Đại học Thanh Hoa lưu giữ, công bố trong tập bốn đầu năm 2014. Sách ghi một lối bói bằng tám quẻ đơn thịnh ở nước Sở, khác phép Chu Dịch.

Đồ bát quái trong Thệ Pháp khác hậu thiên ở đâu?

Sáu quẻ đứng đúng như hậu thiên của Thuyết Quái, riêng Khảm và Ly đổi chỗ: Khảm ở Nam, Ly ở Bắc. Người chỉnh lý xác nhận đây không phải lỗi chép vì lặp lại nhiều lần.

Thệ Pháp ghi hào như thế nào?

Mỗi hào là một con số: hào dương chủ yếu ghi 1, cũng có 5, 9; hào âm chủ yếu ghi 6, cũng có 4, 8. Mỗi lần bói ra hai quẻ sáu hào ghi cạnh nhau.

Thệ Pháp có liên quan đến Quy Tàng không?

Lý Học Cần cho rằng có: Thệ Pháp chỉ dùng tám quẻ đơn, tên quẻ gần với Quy Tàng, và thiên Biệt Quái cùng tập có tên quẻ kép liên hệ với Quy Tàng.

Thệ Pháp có chứng minh Hà Đồ, Lạc Thư có từ thời cổ không?

Không. Thệ Pháp có đồ đặt tám quẻ vào tám phương, nhưng không có hình chấm Hà Đồ, Lạc Thư. Nó chỉ cho thấy việc vẽ quẻ lên sơ đồ phương vị đã có từ thời Chiến Quốc.

Nguồn tham khảo: Thanh Hoa Đại học tàng Chiến Quốc trúc giản, tập bốn — thiên Thệ Pháp · Lý Học Cần — bài giới thiệu tập bốn, Trung Quốc Văn Hoá Báo (14/1/2014) · Chu Dịch — Thuyết Quái truyện, chương 5 và chương 9 · Chu Lễ — Xuân Quan, chức Thệ Nhân — tám mệnh

Liên Sơn, Quy Tàng, Chu Dịch: ba bộ Dịch của Chu Lễ, và thẻ tre Quy Tàng tìm thấy ở Vương Gia ĐàiLiên Sơn, Quy Tàng là hai bộ Dịch mà Chu Lễ đặt cạnh Chu Dịch. Quy Tàng mở đầu bằng quẻ Khôn, mất từ lâu, rồi thẻ tre Vương Gia Đ…
Tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái: hai cách xếp, hai cách dùng, và vì sao phong thuỷ dùng hậu thiênTiên thiên bát quái xếp theo cặp đối đãi, hậu thiên theo vòng mùa. Bảng hai vòng theo phương, môn nào dùng vòng nào, vì sao phong…
Bốn quẻ trên quốc kỳ Hàn Quốc: Càn, Khôn, Khảm, Ly xếp theo tiên thiên và lá cờ Thái CựcQuốc kỳ Hàn Quốc có bốn quẻ Càn, Khôn, Khảm, Ly: lịch sử lá cờ từ 1882, vì sao chọn bốn quẻ ấy, cách xếp tiên thiên xoay 45 độ, s…
Lạc Thư là ma phương 3×3: vì sao mọi hàng bằng 15, vì sao 5 phải ở giữa, và đường bay Cửu tinh từ đâu raLạc Thư là ma phương 3×3 duy nhất: chứng minh số 5 ở giữa, số chẵn ở góc, tổng 15; đường bay Cửu tinh, công thức tinh bàn, phục n…
Hồ Vị và Dịch Đồ Minh Biện: cuốn sách tách Hà Đồ, Lạc Thư khỏi Kinh Dịch, và phần nào nay vẫn đứng đượcDịch Đồ Minh Biện của Hồ Vị đời Thanh truy Hà Đồ, Lạc Thư, Tiên Thiên đồ về dòng Trần Đoàn, tách khỏi kinh văn. Phần nào khảo cổ …
Tám quẻ phối ngũ hành: vì sao Càn Đoài Kim, Chấn Tốn Mộc, Khôn Cấn Thổ — dựng lại từ vòng hậu thiênVì sao Càn Đoài thuộc Kim, Chấn Tốn Mộc, Khôn Cấn Thổ, Khảm Thuỷ, Ly Hoả: dựng từ hậu thiên trên Lạc Thư, chỗ Chu Hy còn ngờ, các…