Mỗi người có bốn con giáp: năm, tháng, ngày, giờ
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc
Mỗi người có bốn con giáp, ứng với địa chi của năm, tháng, ngày và giờ sinh. Con giáp năm là con giáp quen gọi, chung cho mọi người sinh cùng năm, nên giống lớp "vỏ". Con giáp ngày đổi mỗi ngày và nằm cạnh can ngày, thứ Bát Tự coi là chính bạn, nên gần "ruột" hơn. Bốn chi ấy cộng bốn can là tám chữ của Bát Tự.
Bốn chi từ đâu ra
Lịch can chi đánh số cả bốn đơn vị thời gian bằng cùng một bộ ký hiệu:
- Năm: mười can ghép mười hai chi, sáu mươi năm một vòng. Năm 2027 là Đinh Mùi.
- Tháng: chi của tháng cố định. Tháng Giêng luôn là Dần, tháng Hai là Mão, cứ thế đến tháng Chạp là Sửu. Can của tháng suy từ can năm theo phép Ngũ Hổ Độn.
- Ngày: sáu mươi ngày một vòng, chạy liên tục không ngắt từ hơn hai nghìn năm nay, không phụ thuộc tháng hay năm. Hôm nay, 21/10/2026, là ngày Mậu Thìn. Ngày can chi tính được bằng số ngày Julius.
- Giờ: mỗi ngày mười hai giờ, mỗi giờ hai tiếng đồng hồ, giờ Tý từ 23 giờ đến 1 giờ sáng. Can giờ suy từ can ngày theo phép Ngũ Thử Độn.
Chi năm, chi tháng, chi giờ đều dễ suy; riêng chi ngày phải tính. Tổng cộng, tám chữ có thể ghép thành 60 × 12 × 60 × 12 = 518.400 tổ hợp, vì can tháng đã do can năm quyết định và can giờ do can ngày quyết định.
Một ví dụ tính bằng máy: sinh 9 giờ sáng ngày 10/2/1996
Chúng tôi chọn một ngày sinh có thật trong lịch và chạy bằng bộ âm lịch của site. Ngày này được chọn có chủ ý: nó rơi vào quãng giữa Lập Xuân và Tết, chỗ hai môn tính lệch nhau.
Theo âm lịch Việt Nam, 10/2/1996 là ngày 22 tháng Chạp năm Ất Hợi; Tết Bính Tý năm ấy rơi vào 19/2/1996. Tiết Lập Xuân đã vào từ ngày 4/2/1996.
| Trụ | Theo lịch âm (Tử Vi dùng) | Theo tiết khí (Bát Tự dùng) | Con giáp |
|---|---|---|---|
| Năm | Ất Hợi | Bính Tý | Lợn / Chuột |
| Tháng | Kỷ Sửu (tháng Chạp) | Canh Dần (tháng Lập Xuân) | Trâu / Hổ |
| Ngày | Đinh Sửu | Đinh Sửu | Trâu |
| Giờ | Ất Tỵ (9 – 11 giờ) | Ất Tỵ | Rắn |
Hai cột cho cùng một người. Hỏi người này "tuổi gì", lịch Việt nói tuổi Hợi, lá số Tử Vi cũng lập theo năm Ất Hợi (bản mệnh Sơn Đầu Hỏa). Nhưng thầy Bát Tự sẽ lập trụ năm Bính Tý (nạp âm Giản Hạ Thủy), vì Tử Bình đổi năm ở Lập Xuân chứ không ở Tết. Hai trụ ngày và giờ thì hai bên luôn trùng nhau.
Thêm một ví dụ ngắn cho trụ tháng: người sinh 9 giờ sáng 15/3/1996 (26 tháng Giêng Bính Tý). Lịch âm ghi tháng Canh Dần. Nhưng tiết Kinh Trập đã vào từ ngày 5/3/1996, nên Bát Tự lập trụ tháng Tân Mão. Ngày Tân Hợi, giờ Quý Tỵ. Người này có tháng Hổ theo lịch âm, tháng Mèo theo tiết khí.
Bài học: câu "tôi tuổi gì" có hai đáp án với người sinh khoảng cuối tháng Một đến giữa tháng Hai dương lịch, và chi tháng theo lịch âm với chi tháng theo tiết khí lệch nhau ở khá nhiều ngày trong năm, vì ngày đầu tháng âm (ngày sóc) và ngày vào tiết hiếm khi trùng. Cách lập trụ bằng tay ở bài lập tứ trụ, mốc Lập Xuân ở bài Lập Xuân.
Vỏ và ruột: mỗi con giáp nói về lớp nào của đời
Các sách Tử Bình chia bốn trụ theo lớp quan hệ, từ xa đến gần:
| Trụ | Lớp đời sống | Hình ảnh trong sách |
|---|---|---|
| Năm | Gốc gác, tổ tiên, môi trường xã hội lúc nhỏ | gốc rễ |
| Tháng | Cha mẹ, anh chị em; mùa sinh, thứ quyết định ngũ hành nào mạnh | mầm |
| Ngày | Can ngày là bản thân; chi ngày là người bạn đời, đời sống riêng | hoa |
| Giờ | Con cái, việc làm về sau, tuổi già | quả |
Con giáp năm đúng cho khoảng một phần mười hai dân số. Nó nói về cái nền chung: thế hệ, hoàn cảnh gia đình, nhóm bạn cùng lứa. Đó là lý do nó giống lớp vỏ: ai cũng thấy, ai cũng hỏi, nhưng ít nói về con người bên trong.
Con giáp ngày đứng ngay dưới can ngày, tức nhật chủ, "cái tôi" của cả lá số. Sách gọi chi ngày là cung phối ngẫu: nó cho biết người ấy ứng xử thế nào trong quan hệ gần nhất. Vì thế khi xem hợp hôn bằng Bát Tự, nhiều thầy so chi ngày của hai người trước khi so chi năm.
Con giáp tháng đặc biệt ở chỗ nó là nguyệt lệnh: sinh tháng Dần, tháng Mão là sinh mùa xuân, Mộc nắm quyền, dù năm sinh là con gì. Trong Bát Tự, chi tháng nặng ký nhất khi cân ngũ hành mạnh yếu.
Con giáp giờ khó biết nhất, vì nhiều người không nhớ giờ sinh. Thiếu giờ thì vẫn đọc được phần lớn; xem không có giờ sinh.
Tử Vi dùng bốn con giáp vào đâu
Tử Vi Đẩu Số không gọi là "bốn con giáp" nhưng cũng dùng đủ bốn chi, mỗi chi an một nhóm sao:
- Chi năm: vòng Thái Tuế, các sao Thiên Mã, Đào Hoa, Hoa Cái, Cô Thần, Quả Tú. Người tuổi Tý có Đào Hoa ở Dậu, Thiên Mã ở Dần; tuổi Dần có Đào Hoa ở Mão, Thiên Mã ở Thân.
- Tháng âm: Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Diêu. Tử Vi dùng tháng âm lịch, không dùng tiết khí; đây là chỗ khác Bát Tự.
- Ngày âm: Tam Thai, Bát Tọa, Ân Quang, Thiên Quý.
- Giờ: Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp; giờ cùng tháng còn quyết định cung Mệnh nằm ở đâu.
Nghĩa là trên lá số Tử Vi, con giáp năm cũng chỉ là một trong bốn đầu vào. Hai người cùng tuổi Tý, sinh khác giờ, có cung Mệnh khác hẳn nhau. So sánh hai môn ở bài Tử Vi và Bát Tự khác nhau thế nào.
Hai chỗ hay sai khi tự tính
Giờ Tý. Người sinh từ 23 giờ đến nửa đêm: có phái tính sang ngày hôm sau, có phái giữ ngày hiện tại. Chi giờ vẫn là Tý, nhưng chi ngày có thể khác một bậc. Xem giờ Tý đêm, giờ Tý sớm.
Giờ đồng hồ và giờ mặt trời. Giờ can chi vốn theo mặt trời. Giờ chuẩn Việt Nam đặt theo kinh tuyến 105 độ Đông; người sinh ở các tỉnh xa kinh tuyến này lệch đến mười mấy phút so với giờ mặt trời, chưa kể phần chênh theo mùa của chính Mặt Trời. Sinh sát ranh giới hai giờ thì cần cân nhắc.
Sách cổ nói gì
Nhiếp Đề trinh ư mạnh trâu hề, duy canh dần ngô dĩ giáng.
Dịch: Năm Nhiếp Đề, đúng vào tháng đầu xuân, ngày Canh Dần, ta ra đời. — Khuất Nguyên, Ly Tao
Bình: đây là một trong những lời tự thuật ngày sinh sớm nhất còn lại, và nó ghi bằng ba lớp thời gian: năm, tháng, ngày. Theo lời chú của Vương Dật đời Đông Hán, Nhiếp Đề là năm Dần, "mạnh trâu" là tháng Giêng (tháng Dần), cộng ngày Canh Dần thành ba chữ Dần. Chu Hy đời Tống lại cho rằng Nhiếp Đề ở đây là tên một chòm sao chứ không phải tên năm. Dù theo cách đọc nào, câu thơ cho thấy người xưa thấy cần ghi nhiều hơn một lớp chi khi nói về ngày sinh.
Hàn Dũ đời Đường viết văn bia mộ cho Lý Hư Trung, người được truyền là ông tổ của phép xem mệnh bằng can chi. Đại ý văn bia: Lý Hư Trung lấy can chi của năm, tháng, ngày sinh, xét sinh khắc, vượng suy mà đoán thọ yểu, sang hèn. Văn bia nhắc năm, tháng, ngày; không nhắc giờ. Theo truyền thống, đến Từ Tử Bình (khoảng Ngũ Đại – Tống) mới thêm giờ và lấy ngày làm chủ, thành tứ trụ như ngày nay. Tách bạch hai lớp: văn bia của Hàn Dũ là chứng cứ đời Đường cho lối xem ba trụ; còn chuyện Từ Tử Bình thêm giờ chủ yếu dựa vào lời truyền của các sách đời sau. Các sách mang tên Lý Hư Trung còn lại hôm nay cũng bị nhiều người nghi là đời sau soạn.
Các sách Tử Bình đời sau, như Uyên Hải Tử Bình và Tam Mệnh Thông Hội, ví bốn trụ như cây: năm là gốc, tháng là mầm, ngày là hoa, giờ là quả (đại ý). Hình ảnh ấy chính là bảng "vỏ và ruột" ở trên.
Đọc cho đúng mức
- Bốn con giáp không cộng lại thành tính cách. Bát Tự không đếm "hai con Trâu, một con Rắn" mà xét can chi sinh khắc, mùa sinh, can tàng trong chi. Đếm con vật là cách đọc dân gian, không phải phép Tử Bình.
- Hai môn, hai mốc năm. Tử Vi và lịch Việt theo Tết; Bát Tự theo Lập Xuân. Không bên nào sai; mỗi môn tự nhất quán trong hệ của mình. Chỉ đừng trộn: lấy năm theo Tết rồi đem đi luận Bát Tự.
- Giờ sinh trong giấy khai sinh có thể sai. Giờ ghi tròn, giờ nhớ lại sau nhiều năm, đều làm lệch chi giờ. Chi giờ là trụ cần thận trọng nhất.
- Ai cũng có bốn chi, nên ai cũng "có" vài quan hệ xung, hợp trong lá số. Thấy chi ngày xung chi năm không có nghĩa là có chuyện; đó là cấu trúc cần đọc trong toàn cục.
Việc nên làm
- Lấy ngày giờ sinh dương lịch, ghi luôn nơi sinh, rồi tra cả hai cột: theo lịch âm và theo tiết khí. Người sinh tháng Một, tháng Hai càng nên làm.
- Nếu đã quen đọc tử vi theo tuổi, thử đọc thêm về nhật chủ của mình; đó là bước từ "vỏ" vào "ruột".
- Hỏi lại cha mẹ về giờ sinh khi còn có thể. Một giờ sinh đúng có giá trị hơn mọi bài đọc chung.
- Lập lá số để thấy bốn chi của mình nằm ở đâu và an những sao nào.
Xem lá số tử vi của chính bạn
Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.
Lập lá số miễn phíNguồn tham khảo
- Khuất Nguyên, Ly Tao (trong Sở Từ); lời chú của Vương Dật (Sở Từ Chương Cú) và của Chu Hy (Sở Từ Tập Chú).
- Hàn Dũ — văn bia mộ Lý Hư Trung (đại ý).
- Uyên Hải Tử Bình; Vạn Dân Anh, Tam Mệnh Thông Hội — phần luận tứ trụ (đại ý).
- Ví dụ ngày sinh: tính bằng bộ âm lịch và bộ lập lá số của aihuyenhoc.com (thuật toán âm lịch Việt Nam của Hồ Ngọc Đức, tiết khí theo kinh độ Mặt Trời).
Câu hỏi thường gặp
Con giáp tháng sinh tính thế nào?
Theo lịch âm, tháng Giêng là Dần, tháng Hai là Mão, lần lượt đến tháng Chạp là Sửu. Bát Tự thì đổi tháng theo tiết khí: từ Lập Xuân là tháng Dần, từ Kinh Trập là tháng Mão, và cứ thế.
Con giáp ngày sinh có quan trọng hơn con giáp năm không?
Trong Bát Tự, trụ ngày quan trọng hơn vì can ngày là bản thân và chi ngày là cung phối ngẫu. Con giáp năm nói về lớp gia đình, xã hội; nó vẫn có ý nghĩa nhưng là lớp ngoài.
Sinh trước Tết nhưng sau Lập Xuân thì tuổi gì?
Theo lịch Việt và Tử Vi, bạn mang con giáp của năm cũ. Theo Bát Tự, bạn mang con giáp của năm mới. Ví dụ người sinh ngày 10/2/1996 là tuổi Hợi theo lịch âm, nhưng trụ năm Bát Tự là Bính Tý.
Không biết giờ sinh thì có tính được bốn con giáp không?
Tính được ba: năm, tháng, ngày. Thiếu chi giờ thì mất phần đọc về con cái, tuổi già, và với Tử Vi thì không định được cung Mệnh.
Bốn con giáp giống nhau có phải là đặc biệt?
Bốn chi trùng nhau là hiếm, một số sách gọi là "địa chi nhất khí", nhưng hiếm không đồng nghĩa với tốt hay xấu. Cần xem can đi kèm và mùa sinh mới nói được gì.
Nguồn tham khảo: Sở Từ — Khuất Nguyên — Ly Tao · Hàn Dũ — văn bia mộ Lý Hư Trung · Tam Mệnh Thông Hội — Vạn Dân Anh — phần luận tứ trụ · Uyên Hải Tử Bình