Mười hai con giáp: thứ tự, nguồn gốc và chuyện con Mèo của người Việt
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc
Mười hai con giáp theo thứ tự là Tý (Chuột), Sửu (Trâu), Dần (Hổ), Mão (Mèo), Thìn (Rồng), Tỵ (Rắn), Ngọ (Ngựa), Mùi (Dê), Thân (Khỉ), Dậu (Gà), Tuất (Chó), Hợi (Lợn). Mười hai địa chi có trước, con vật được gán vào sau; văn bản truyền đời sớm nhất ghi gần đủ bộ con vật là Luận Hành của Vương Sung, thế kỷ thứ nhất.
Bảng mười hai con giáp
| Thứ tự | Địa chi | Con giáp ở Việt Nam | Ở Trung Hoa | Ngũ hành của chi | Giờ | Tháng âm lịch |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Tý | Chuột | Chuột | Thủy | 23 – 1 giờ | tháng Mười Một |
| 2 | Sửu | Trâu | Bò (chữ "ngưu" chỉ chung trâu bò) | Thổ | 1 – 3 giờ | tháng Chạp |
| 3 | Dần | Hổ | Hổ | Mộc | 3 – 5 giờ | tháng Giêng |
| 4 | Mão | Mèo | Thỏ | Mộc | 5 – 7 giờ | tháng Hai |
| 5 | Thìn | Rồng | Rồng | Thổ | 7 – 9 giờ | tháng Ba |
| 6 | Tỵ | Rắn | Rắn | Hỏa | 9 – 11 giờ | tháng Tư |
| 7 | Ngọ | Ngựa | Ngựa | Hỏa | 11 – 13 giờ | tháng Năm |
| 8 | Mùi | Dê | Dê hoặc cừu (chữ "dương") | Thổ | 13 – 15 giờ | tháng Sáu |
| 9 | Thân | Khỉ | Khỉ | Kim | 15 – 17 giờ | tháng Bảy |
| 10 | Dậu | Gà | Gà | Kim | 17 – 19 giờ | tháng Tám |
| 11 | Tuất | Chó | Chó | Thổ | 19 – 21 giờ | tháng Chín |
| 12 | Hợi | Lợn | Lợn (Nhật Bản: lợn rừng) | Thủy | 21 – 23 giờ | tháng Mười |
Chi lẻ (Tý, Dần, Thìn…) là dương, chi chẵn (Sửu, Mão, Tỵ…) là âm. Năm dương lịch đổi ra con giáp nhanh nhất bằng phép (năm − 4) chia 12 lấy dư: dư 0 là Tý, 1 là Sửu… Năm 2027: 2023 chia 12 dư 7, là Mùi. Phép tính đầy đủ cho cả can lẫn chi có ở bài tính can chi của năm.
Địa chi có trước, con vật đến sau
Mười hai chữ Tý, Sửu, Dần, Mão vốn là ký hiệu đếm, không phải tên con vật. Trên giáp cốt văn đời Thương, người ta đã ghép mười can với mười hai chi để ghi ngày, chu kỳ sáu mươi ngày chạy liên tục. Lúc đó không có dấu vết nào cho thấy chữ "Tý" gắn với con chuột. Lịch sử của bộ ký hiệu này có bài riêng: can chi trên giáp cốt văn.
Con vật xuất hiện muộn hơn nhiều. Bằng chứng khảo cổ đáng chú ý là thẻ tre đời Tần khai quật năm 1975 ở Thụy Hổ Địa (Vân Mộng, Hồ Bắc). Trong phần sách bói ngày gọi là Nhật Thư có một đoạn gán cho mỗi chi một con vật, dùng để đoán hình dạng kẻ trộm theo ngày mất của. Phần lớn trùng bộ ngày nay (Tý chuột, Sửu trâu bò, Dần hổ, Mão thỏ, Hợi lợn), nhưng có mấy chi khác hẳn; theo cách đọc của nhiều nhà nghiên cứu, Ngọ là hươu, Mùi là ngựa, Tuất là dê. Nghĩa là vào cuối thời Chiến Quốc, bộ con vật đã có nhưng chưa định hình.
Đến đời Đông Hán, Vương Sung viết Luận Hành, kể lần lượt con vật của từng chi để tranh luận. Thiên Vật Thế kể mười một con; con Rồng của Thìn nằm ở thiên Ngôn Độc. Đây là văn bản truyền đời sớm nhất có bộ con giáp gần như y hệt hôm nay.
Vì sao thứ tự lại như vậy
Thứ tự con giáp đi theo thứ tự địa chi, nên câu hỏi thật là: vì sao con chuột được gán cho Tý, con trâu cho Sửu. Có ba lời giải hay gặp, và cần tách bạch nguồn của từng cái.
Cuộc đua qua sông của Ngọc Hoàng. Chuột cưỡi lưng trâu rồi nhảy xuống về trước, mèo bị chuột lừa nên lỡ cuộc, vì thế mèo ghét chuột. Đây là truyện dân gian, có nhiều dị bản; không có trong sách cổ nào. Thú vị là truyện này không có con mèo trong mười hai con, tức là truyện kể theo bộ của người Hoa. Ở Việt Nam, nơi Mèo là con giáp, truyện vẫn được kể lại mà ít ai để ý chỗ vênh ấy.
Số móng chân, âm và dương. Một lời giải được gán cho Lang Anh trong Thất Tu Loại Cảo đời Minh: các con giáp xen kẽ con có số móng lẻ (dương) và con có số móng chẵn (âm), khớp với chi dương, chi âm xen kẽ. Chuột đứng đầu vì chân trước và chân sau có số móng khác nhau, vừa âm vừa dương, hợp với giờ Tý là lúc âm cực mà dương bắt đầu sinh. Lời giải khéo, nhưng có sau hơn một nghìn năm so với bộ con vật.
Giờ hoạt động của con vật. Chuột kiếm ăn lúc nửa đêm (giờ Tý), gà về chuồng lúc chiều tối (giờ Dậu), chó canh nhà đầu đêm (giờ Tuất). Lời giải này dễ nhớ, đúng với vài con, nhưng gượng với nhiều con khác: muốn khớp con rồng với giờ Thìn, người ta phải nói rồng làm mưa vào buổi sáng, tức là đã dựng truyện để vừa với giờ.
Điểm chung: cả ba đều là lời giải đến sau để cắt nghĩa một thứ tự đã có sẵn. Văn bản hiện còn chưa cho biết vì sao người đời Tần, Hán chọn đúng những con vật này.
Mão là Mèo hay Thỏ: các thuyết về con Mèo của người Việt
Việt Nam là nơi duy nhất trong vùng văn hoá chữ Hán đặt Mèo vào chỗ của Thỏ. Chưa có văn bản nào ghi lại thời điểm hay lý do của sự thay đổi, nên dưới đây là các thuyết, xếp theo mức thuyết phục.
Thuyết âm đọc. Chữ Mão trong tiếng Việt còn một âm cổ là "Mẹo": người ta vẫn nói "giờ Mẹo", "tuổi Mẹo", "năm Mẹo". Từ "Mẹo" sang "mèo" chỉ cách một thanh điệu. Thêm vào đó, trong tiếng Hán, chữ chỉ con mèo và chữ Mão cũng có âm gần nhau. Một con giáp được gọi theo tên chi lâu ngày, nghe giống tên con vật nào thì dễ thành con vật ấy. Đây là thuyết được nhiều người chấp nhận nhất.
Thuyết đời sống. Thỏ rừng không phải con vật quen của đồng bằng trồng lúa; mèo thì có mặt trong mọi nhà, giữ lúa khỏi chuột. Một con giáp phải là con vật ai cũng hình dung được. Thuyết này không giải thích được vì sao các nước trồng lúa khác vẫn giữ Thỏ, nhưng nó giải thích vì sao sự thay đổi được giữ lại ở Việt Nam.
Thuyết về các con giáp "đổi nghĩa" khác. Mèo không phải trường hợp duy nhất. Chữ "ngưu" của Sửu trong tiếng Hán chỉ chung trâu bò, người Hoa phương Bắc hình dung con bò, người Việt hình dung con trâu. Chữ "dương" của Mùi chỉ chung dê và cừu, người Việt chọn dê. Nhật Bản đọc Hợi là lợn rừng. Mỗi nền văn hoá chọn con vật gần với đồng ruộng của mình. Nhìn trong bức tranh đó, Mèo là trường hợp đổi xa nhất, nhưng cùng một cơ chế.
Các thuyết này không loại trừ nhau. Cách hiểu hợp lý nhất: âm đọc mở đường, đời sống giữ lại.
Chuyện Mèo hay Thỏ không làm thay đổi gì trong phép tính. Lá số Tử Vi, Bát Tự, phép hợp xung đều dùng chữ Mão, không dùng con vật. Người tuổi Mão ở Hà Nội và ở Quảng Châu có cùng một chi, cùng một hành Mộc. Đọc thêm người tuổi Mão theo sách cổ.
Con giáp khác cung hoàng đạo
Hay có người hỏi con giáp có phải "cung hoàng đạo phương Đông" không. Không hẳn: mười hai con giáp đi theo năm (gốc là vòng mười hai năm của Thái Tuế), còn mười hai cung hoàng đạo đi theo tháng (vị trí Mặt Trời trong năm). Hai vòng mười hai trùng số lượng nhưng khác gốc; xem cung hoàng đạo và con giáp.
Sách cổ nói gì
Dần, mộc dã, kỳ cầm hổ dã. Tuất, thổ dã, kỳ cầm khuyển dã.
Dịch: Dần thuộc Mộc, con vật của nó là hổ. Tuất thuộc Thổ, con vật của nó là chó. — Luận Hành, thiên Vật Thế
Vương Sung chép bộ con vật không phải để tin theo mà để bác. Người đương thời nói muôn vật sinh khắc theo ngũ hành, con vật của chi này thắng con vật của chi kia. Ông lật lại:
Thủy thắng hỏa, thử hà bất trục mã? Kim thắng mộc, kê hà bất trác thố?
Dịch: Thủy thắng Hỏa, sao chuột (Tý, Thủy) không đuổi ngựa (Ngọ, Hỏa)? Kim thắng Mộc, sao gà (Dậu, Kim) không mổ thỏ (Mão, Mộc)? — Luận Hành, thiên Vật Thế
Bình: đoạn sách này có giá trị kép. Nó là bằng chứng sớm nhất trong các sách truyền đời cho bộ con giáp, và cũng là bằng chứng rằng ngay từ thế kỷ thứ nhất đã có người tỉnh táo nhắc: con vật chỉ là ký hiệu gắn với chi, đừng suy từ tính con vật ra quy luật. Gần hai nghìn năm sau, lời nhắc ấy vẫn đúng với những bài "tuổi Hổ thì dữ, tuổi Mèo thì lười".
Đọc cho đúng mức
- Con vật là hình ảnh, chi mới là phép tính. Trong Tử Vi, Bát Tự, chọn ngày, mọi quy tắc đều dùng địa chi và ngũ hành của chi. Không phép nào dùng tính nết của con chuột hay con trâu.
- Con giáp năm chỉ là một trong bốn con giáp của mỗi người. Tháng, ngày, giờ sinh cũng có chi riêng; xem bốn con giáp của một người.
- Ranh giới đổi con giáp có hai mốc. Lịch Việt đổi con giáp ở Tết; Bát Tự đổi ở tiết Lập Xuân. Người sinh tháng Một, tháng Hai dương lịch nên kiểm cả hai.
- Những nét tính cách gán cho từng con giáp là lớp diễn giải văn hoá, phần lớn không có trong các sách cổ về can chi. Nó vui và gợi, nhưng không phải luận đoán.
Việc nên làm
- Biết con giáp của mình theo năm âm lịch, rồi biết thêm ba chi tháng, ngày, giờ; đó là bước đầu để đọc lá số cho đúng.
- Khi so tuổi, nhìn vào quan hệ của địa chi (tam hợp, lục hợp, xung, hại) chứ đừng suy từ tính con vật. Bảng các cặp ở bài cặp con giáp hợp nhau.
- Kể cho trẻ con nghe truyện cuộc đua, rồi kể thêm chuyện vì sao Việt Nam có con Mèo; đó là bài học lịch sử văn hoá nhỏ mà rất nhớ.
Xem lá số tử vi của chính bạn
Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.
Lập lá số miễn phíNguồn tham khảo
- Vương Sung, Luận Hành — thiên Vật Thế (bộ con vật theo chi và lời bác thuyết ngũ hành sinh khắc giữa các con vật); thiên Ngôn Độc (Thìn là rồng, Tỵ là rắn).
- Thẻ tre đời Tần khai quật năm 1975 ở Thụy Hổ Địa, Vân Mộng, Hồ Bắc — phần Nhật Thư, đoạn đoán kẻ trộm theo ngày.
- Lang Anh, Thất Tu Loại Cảo (đời Minh) — lời giải thứ tự con giáp theo số móng chân (đại ý, theo các bản trích dẫn).
Câu hỏi thường gặp
Thứ tự 12 con giáp là gì?
Tý (Chuột), Sửu (Trâu), Dần (Hổ), Mão (Mèo), Thìn (Rồng), Tỵ (Rắn), Ngọ (Ngựa), Mùi (Dê), Thân (Khỉ), Dậu (Gà), Tuất (Chó), Hợi (Lợn). Thứ tự này theo thứ tự mười hai địa chi.
Vì sao Việt Nam có con Mèo thay cho con Thỏ?
Chưa có văn bản ghi lại lý do. Thuyết được chấp nhận nhiều nhất là âm đọc: chữ Mão có âm cổ "Mẹo", gần với "mèo". Mèo lại gần gũi với nhà nông hơn thỏ, nên sự thay đổi được giữ lại.
12 con giáp có từ bao giờ?
Địa chi có từ đời Thương, dùng để ghi ngày. Bộ con vật gắn với chi xuất hiện muộn hơn: thẻ tre Tần ở Thụy Hổ Địa đã có một bộ gần giống, và Luận Hành của Vương Sung đời Đông Hán chép bộ gần như hiện nay.
Truyện cuộc đua của Ngọc Hoàng có trong sách cổ không?
Không. Đó là truyện dân gian có nhiều dị bản, kể theo bộ con giáp của người Hoa nên không có con mèo trong mười hai con.
Năm 2027 là năm con gì?
Năm Đinh Mùi, con Dê, bắt đầu từ mùng Một Tết ngày 6/2/2027. Năm này là năm tuổi của người tuổi Mùi.
Nguồn tham khảo: Luận Hành — Vương Sung — thiên Vật Thế · Luận Hành — Vương Sung — thiên Ngôn Độc · Thẻ tre Tần ở Thụy Hổ Địa — Nhật Thư · Thất Tu Loại Cảo — Lang Anh