Ba mươi sáu cầm tinh: mỗi con giáp có ba con vật theo giờ trong sách cổ
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc
Ba mươi sáu cầm tinh (tam thập lục cầm) là phép chia mỗi chi trong mười hai chi thành ba phần, mỗi phần một con vật, tổng cộng ba mươi sáu con. Phần lớn số con vật ấy lấy từ con vật của hai mươi tám tú, cộng thêm tám con để mỗi chi đủ ba. Các bản chép không thống nhất hoàn toàn, nên bảng dưới tách rõ phần kiểm được và phần chưa kiểm.
"Cầm tinh" nghĩa là gì
Người Việt hỏi nhau "cầm tinh con gì" mỗi ngày mà ít ai để ý chữ. "Cầm" là loài vật (như trong "cầm thú"), "tinh" là sao. "Cầm tinh" là con vật ứng với sao. Ngày nay chữ ấy chỉ con giáp của năm sinh, nhưng gốc của nó nằm ở một hệ con vật gắn với các chòm sao, cụ thể là hai mươi tám tú.
Mỗi tú trong hai mươi tám tú có một con vật: Giác Mộc Giao (giao long), Cang Kim Long (rồng), Hư Nhật Thử (chuột)… Tên đầy đủ gồm tên tú, một trong bảy diệu và một con vật; lịch vạn sự Việt in tên này mỗi ngày. Bảng đầy đủ ở bài nhị thập bát tú.
Hai mươi tám tú chia vào mười hai chi
Để hiểu ba mươi sáu cầm, cần một bước trung gian: hai mươi tám tú được chia vào mười hai cung trời theo địa chi, gọi là mười hai thứ. Phép chia này có từ thời Chiến Quốc, Tần Hán, dùng trong thiên văn và phép phân dã. Tên thứ và số tú mỗi thứ như sau:
| Chi | Thứ | Các tú trong thứ | Số tú |
|---|---|---|---|
| Tý | Huyền Hiêu | Nữ, Hư, Nguy | 3 |
| Sửu | Tinh Kỷ | Đẩu, Ngưu | 2 |
| Dần | Tích Mộc | Vĩ, Cơ | 2 |
| Mão | Đại Hoả | Đê, Phòng, Tâm | 3 |
| Thìn | Thọ Tinh | Giác, Cang | 2 |
| Tỵ | Thuần Vĩ | Dực, Chẩn | 2 |
| Ngọ | Thuần Hoả | Liễu, Tinh, Trương | 3 |
| Mùi | Thuần Thủ | Tỉnh, Quỷ | 2 |
| Thân | Thực Trầm | Chủy, Sâm | 2 |
| Dậu | Đại Lương | Vị, Mão, Tất | 3 |
| Tuất | Giáng Lâu | Khuê, Lâu | 2 |
| Hợi | Tưu Tư | Thất, Bích | 2 |
Tổng: bốn chi Tý, Mão, Ngọ, Dậu mỗi chi ba tú (12 tú), tám chi còn lại mỗi chi hai tú (16 tú), cộng 28. Ranh giới giữa các thứ không trùng tuyệt đối ở mọi sách (có sách xếp một phần tú Đê sang Thìn), nhưng cách chia trên là cách phổ biến.
Phát hiện then chốt: mười hai con giáp đều nằm trong hai mươi tám tú, đúng chi của mình
Ghép bảng trên với con vật của từng tú (lấy từ dữ liệu xem ngày của site), ta được một kết quả gọn đến bất ngờ:
| Chi | Con giáp | Tú mang đúng con vật ấy | Các tú khác trong thứ |
|---|---|---|---|
| Tý | Chuột | Hư Nhật Thử | Nữ Thổ Bức (dơi), Nguy Nguyệt Yến (én) |
| Sửu | Trâu | Ngưu Kim Ngưu | Đẩu Mộc Giải (giải) |
| Dần | Hổ | Vĩ Hoả Hổ | Cơ Thuỷ Báo (báo) |
| Mão | Thỏ | Phòng Nhật Thố | Đê Thổ Lạc (lửng chó), Tâm Nguyệt Hồ (cáo) |
| Thìn | Rồng | Cang Kim Long | Giác Mộc Giao (giao long) |
| Tỵ | Rắn | Dực Hoả Xà | Chẩn Thuỷ Dẫn (giun) |
| Ngọ | Ngựa | Tinh Nhật Mã | Liễu Thổ Chương (hoẵng), Trương Nguyệt Lộc (hươu) |
| Mùi | Dê | Quỷ Kim Dương | Tỉnh Mộc Hãn (hãn) |
| Thân | Khỉ | Chủy Hoả Hầu | Sâm Thuỷ Viên (vượn) |
| Dậu | Gà | Mão Nhật Kê | Vị Thổ Trĩ (trĩ), Tất Nguyệt Ô (quạ) |
| Tuất | Chó | Lâu Kim Cẩu | Khuê Mộc Lang (sói) |
| Hợi | Lợn | Thất Hoả Trư | Bích Thuỷ Du (du) |
Mười hai trên mười hai. Không con giáp nào lạc sang chi khác. Chuyện bộ con giáp hình thành ra sao ở bài mười hai con giáp; trang tú Hư kể riêng về tú mang con chuột. Thêm nữa, các tú cùng thứ thường mang con vật cùng họ với con giáp: Dần có hổ và báo; Thìn có rồng và giao long; Tỵ có rắn và giun; Ngọ có ngựa, hươu, hoẵng; Thân có khỉ và vượn; Tuất có chó và sói; Dậu có ba loài chim. Bốn tú mang diệu Mặt Trời (Hư, Phòng, Tinh, Mão) rơi đúng vào bốn chi chính phương Tý, Mão, Ngọ, Dậu, điều trang tú Phòng đã chỉ ra.
Nghĩa là bảng con vật của hai mươi tám tú được soạn sau và soạn theo bộ mười hai con giáp, chứ không phải ngẫu nhiên. Người soạn đặt con giáp vào tú ở đúng cung của nó, rồi chọn con vật họ hàng cho các tú bên cạnh.
Từ 28 lên 36: tám con thêm vào
Đến đây phép tính tự hiện ra: bốn chi đã có ba tú, tám chi chỉ có hai. Muốn mỗi chi đủ ba con vật thì phải thêm đúng tám con, một con cho mỗi chi thiếu. 28 + 8 = 36. Đó là bộ ba mươi sáu cầm.
Bảng dưới theo bản thường được dẫn lại trong các sách bàn về ba mươi sáu cầm. Cột cuối ghi những chỗ chúng tôi thấy các bản lệch nhau hoặc chưa đối chiếu được với nguyên bản.
| Chi | Ba con vật | Con thêm (ngoài 28 tú) | Ghi chú đối chiếu |
|---|---|---|---|
| Tý | én, chuột, dơi | không | dơi ghi bằng tên khác (phục dực), cùng con vật với tú Nữ |
| Sửu | trâu, cua, ba ba | ba ba | tú Đẩu là "giải" (con giải trãi); bản ba mươi sáu cầm ghi con cua, chữ cũng đọc là "giải", có thể là đổi chữ đồng âm |
| Dần | ly (mèo rừng), báo, hổ | ly | khớp |
| Mão | cáo, thỏ, lửng chó | không | có bản ghi nhím thay cho cáo |
| Thìn | rồng, giao long, cá | cá | khớp |
| Tỵ | lươn, giun, rắn | lươn | khớp |
| Ngọ | hươu, ngựa, hoẵng | không | khớp đủ ba tú |
| Mùi | dê, chim ưng, chim nhạn | chưa rõ | các bản hay dẫn không có con "hãn" của tú Tỉnh mà có hai loài chim, hàng lệch nhất bảng; chưa kiểm được |
| Thân | dứu (khỉ đuôi dài), vượn, khỉ | dứu | khớp |
| Dậu | trĩ, gà, quạ | không | khớp đủ ba tú |
| Tuất | chó, sói, sài (chó rừng) | sài | khớp |
| Hợi | lợn nhà, du, lợn | lợn (thỉ) | tú Thất đã là lợn (trư); con thêm là "thỉ", cũng là lợn, nên Hợi có hai con lợn |
Mười một trên mười hai hàng khớp với lối "28 tú cộng 8 con". Hàng Mùi là ngoại lệ trong bản hay dẫn. Chúng tôi giữ nguyên chỗ lệch ấy thay vì sửa cho đẹp.
Ba con vật theo giờ: chia thế nào
Vì mỗi chi cũng là một giờ (giờ Tý từ 23 đến 1 giờ, giờ Sửu từ 1 đến 3 giờ…), ba con vật của một chi được hiểu là ba con vật của ba phần trong giờ ấy: đầu giờ, giữa giờ, cuối giờ, mỗi phần chừng bốn mươi phút. Các sách bói phổ thông dựa vào đây để nói kiểu như "sinh đầu giờ Dần cầm tinh con ly, giữa giờ con báo, cuối giờ con hổ".
Chỗ cần nói thẳng: thứ tự ba con trong mỗi giờ không thống nhất giữa các bản. Có bản đặt con giáp ở cuối (như Dần: ly, báo, hổ), có bản đặt ở giữa. Vì vậy bảng trên chỉ ghi nhóm ba con, không ghi con nào ứng phần nào. Nếu bạn gặp một trang tra "36 cầm tinh theo phút sinh", hãy hỏi họ theo bản nào; không có câu trả lời thì đừng dựa vào.
Giờ sinh của bạn ứng chi nào thì tra ở bài bốn con giáp của một người.
Ba mươi sáu cầm được dùng vào việc gì
Trong Phật giáo Thiên Thai. Ma Ha Chỉ Quán của Trí Khải (đời Tuỳ), ở phần bàn về các cảnh ma khi tọa thiền, nói đến loài "thời mị": mỗi giờ có ba loài vật, ma hiện ra vào giờ nào thì mang hình con vật của giờ ấy; người tu biết giờ, gọi đúng tên con vật thì nó lui. Đây là một trong những văn bản sớm nhất có cả bộ ba mươi sáu con theo giờ, và cách dùng của nó là nhận diện để không sợ, không phải để đoán số.
Trong sách ngũ hành. Ngũ Hành Đại Nghĩa của Tiêu Cát, cũng đời Tuỳ, có phần riêng bàn về ba mươi sáu cầm, xếp con vật theo chi và giải thích bằng ngũ hành của chi. Hai văn bản cùng thời mà khác hẳn mục đích gợi ý rằng bộ ba mươi sáu cầm đã lưu hành từ trước cả hai.
Trong phép "diễn cầm". Về sau có lối bói gọi là diễn cầm, dùng con vật của các tú và ba mươi sáu cầm để luận người theo năm, tháng, ngày, giờ sinh. Ở Việt Nam, tên sách Diễn Cầm Tam Thế quen thuộc với người mua sách tướng số; các bản lưu hành khác nhau nhiều, chúng tôi chưa đối chiếu được một bản gốc đáng tin nên không dẫn chi tiết.
Sách cổ nói gì
Ma Ha Chỉ Quán, quyển 8, đại ý: mười hai giờ, mỗi giờ có ba loài, thành ba mươi sáu loài; ma theo giờ mà đến, mang hình loài của giờ ấy; nhận ra nó vào giờ nào, gọi tên loài ấy thì nó tan. — Ma Ha Chỉ Quán, Trí Khải
Bình: đoạn này là lời dặn người tu chứ không phải lời đoán số. Điều đáng học là thái độ: con vật của giờ là một bảng tra để gọi tên cái làm mình sợ, và gọi được tên thì hết sợ. Đem bảng ấy ra để phán "người sinh giờ này tính như con báo" là dùng ngược mục đích của văn bản sớm nhất có nó.
Nhĩ Nhã, thiên Thích Thiên, đại ý: Huyền Hiêu là tú Hư. — Nhĩ Nhã
Bình: một dòng ngắn, nhưng cho thấy từ rất sớm người ta đã gọi một cung trời theo chi bằng tên tú nằm giữa nó. Cầu nối giữa chi và tú, nền của ba mươi sáu cầm, có trước các sách bói rất lâu.
Đọc cho đúng mức
- Phần chắc nhất là cấu trúc. Mười hai con giáp nằm đúng chi trong hai mươi tám tú; 28 + 8 = 36. Cái đó kiểm được bằng bảng tên tú và phép chia mười hai thứ.
- Phần chưa chắc là danh sách tám con thêm và thứ tự trong giờ. Bảng trên theo bản hay dẫn, có ghi chỗ lệch. Chúng tôi chưa đối chiếu được nguyên bản Ngũ Hành Đại Nghĩa và Ma Ha Chỉ Quán từng chữ.
- Ba mươi sáu cầm không có trong Tử Vi Đẩu Số hay Bát Tự. Hai môn chính của lá số không dùng nó. Lá số của bạn không đổi gì vì bạn sinh đầu hay cuối giờ Dần, trừ khi giờ sinh sát ranh giờ.
- Tính cách theo con vật là lớp diễn giải muộn. Như với con giáp năm, gán tính con báo, con ly cho người là lối đọc dân gian, không có trong các văn bản sớm. Con vật sống trong văn hoá Việt theo cách khác hẳn, xem con giáp trong văn hoá Việt.
Việc nên làm
- Dùng bảng thứ và tú để đọc lịch vạn sự cho hiểu: khi lịch ghi "Phòng Nhật Thố", bạn biết đó là tú giữa phương Đông, mang con thỏ của chi Mão.
- Khi gặp lời đoán "36 cầm tinh theo phút sinh", hỏi nguồn và hỏi thứ tự ba con theo bản nào.
- Nếu muốn hiểu giờ sinh tác động thế nào trong lá số thật, hãy lập lá số và xem cung Mệnh, cung Thân đổi theo giờ, thay vì tìm con vật của phút sinh.
Xem lá số tử vi của chính bạn
Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.
Lập lá số miễn phíNguồn tham khảo
- Tiêu Cát, Ngũ Hành Đại Nghĩa (đời Tuỳ) — phần bàn về ba mươi sáu cầm (đại ý, theo các bản trích dẫn).
- Trí Khải, Ma Ha Chỉ Quán — quyển 8, phần quán cảnh ma sự, đoạn về thời mị và ba mươi sáu loài theo giờ (đại ý, theo các bản trích dẫn).
- Nhĩ Nhã — thiên Thích Thiên, tên các thứ (đại ý).
- Tên và con vật của 28 tú: dữ liệu bộ máy xem ngày aihuyenhoc.com, trùng bảng trong các bản Ngọc Hạp phổ biến.
Câu hỏi thường gặp
36 cầm tinh là gì?
Là bộ ba mươi sáu con vật chia đều cho mười hai chi, mỗi chi ba con. Phần lớn lấy từ con vật của hai mươi tám tú, thêm tám con để các chi chỉ có hai tú cũng đủ ba.
36 cầm tinh có liên quan gì đến 28 tú?
Hai mươi tám tú được chia vào mười hai chi; con vật của các tú trong mỗi chi trở thành cầm tinh của chi ấy. Mười hai con giáp đều có mặt trong hai mươi tám tú, đúng chi của mình.
Sinh đầu giờ hay cuối giờ thì cầm tinh khác nhau sao?
Theo lối chia ba mươi sáu cầm thì có: mỗi phần ba của giờ ứng một con. Nhưng thứ tự ba con không thống nhất giữa các bản, và Tử Vi, Bát Tự không dùng phép này.
Sách nào ghi 36 cầm tinh sớm nhất?
Hai văn bản đời Tuỳ hay được dẫn là Ngũ Hành Đại Nghĩa của Tiêu Cát và Ma Ha Chỉ Quán của Trí Khải. Bộ con vật có lẽ đã có trước đó, vì hai sách dùng nó vào hai mục đích khác nhau.
Vì sao giờ Hợi có hai con lợn?
Vì tú Thất mang con lợn (trư), và con vật được thêm cho chi Hợi cũng là một tên khác của lợn (thỉ). Đây là chỗ cho thấy người soạn ưu tiên con vật cùng họ với con giáp.
Nguồn tham khảo: Ngũ Hành Đại Nghĩa — Tiêu Cát (đời Tuỳ) — phần bàn về ba mươi sáu cầm · Ma Ha Chỉ Quán — Trí Khải (Thiên Thai tông, đời Tuỳ) — quyển 8, phần quán cảnh ma sự · Nhĩ Nhã — thiên Thích Thiên · Bảng tên 28 tú: dữ liệu bộ máy xem ngày aihuyenhoc.com