Mười thiên can: Giáp, Ất, Bính, Đinh… nghĩa gốc từng chữ, âm dương, ngũ hành

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 6 phút đọc

Mười thiên can: Giáp, Ất, Bính, Đinh… nghĩa gốc từng chữ, âm dương, ngũ hành

Mười thiên can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Can lẻ (Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm) thuộc dương, can chẵn thuộc âm; cứ hai can một hành: Giáp Ất Mộc, Bính Đinh Hoả, Mậu Kỷ Thổ, Canh Tân Kim, Nhâm Quý Thuỷ. Người đời Hán giải nghĩa mười chữ như mười chặng sống của cây cỏ, từ hạt nứt vỏ đến lúc thu tàng.

🀄Lá số Bát Tự (Tứ Trụ)
Bốn trụ năm tháng ngày giờ theo tiết khí, Thập Thần, ngũ hành vượng suy.
✨ Dùng thử

Bảng mười thiên can

Thứ tựCanÂm dươngHànhPhươngMùaMàu
1GiápdươngMộcĐôngxuânxanh
2ẤtâmMộcĐôngxuânxanh
3BínhdươngHoảNamhạđỏ
4ĐinhâmHoảNamhạđỏ
5MậudươngThổGiữacuối mỗi mùavàng
6KỷâmThổGiữacuối mỗi mùavàng
7CanhdươngKimTâythutrắng
8TânâmKimTâythutrắng
9NhâmdươngThuỷBắcđôngđen
10QuýâmThuỷBắcđôngđen

Mẹo nhớ: thứ tự lẻ là dương, chẵn là âm; đếm từng cặp theo vòng tương sinh Mộc → Hoả → Thổ → Kim → Thuỷ. Muốn biết can của một năm thì nhìn chữ số cuối của năm: 4 là Giáp, 5 Ất, 6 Bính, 7 Đinh, 8 Mậu, 9 Kỷ, 0 Canh, 1 Tân, 2 Nhâm, 3 Quý (xem cách tính can chi năm).

Nghĩa gốc: ba sách đời Hán giải ba cách

Góc riêng của bài này nằm ở đây. Ba nguồn đời Hán đều giải mười chữ theo vòng sống của cây cỏ trong một năm, nhưng mỗi sách một lời, và đặt cạnh nhau sẽ thấy phép giải của họ.

CanSử Ký, Luật Thư (đại ý)Thuyết Văn Giải Tự (đại ý)Hán Thư, Luật Lịch Chí
Giápmuôn vật xé vỏ mà raphương đông đầu xuân, dương khí nảy động, hình cây đội vỏ hạtxuất giáp ư Giáp (ra khỏi vỏ)
Ấtmuôn vật mọc lên còn cong queo, khó nhọccây cỏ mùa xuân cong queo mà ra, khí âm còn mạnhphấn yết ư Ất (gắng vươn lên)
Bínhdương đạo sáng rõở phương nam, muôn vật thành, sáng rựcminh bỉnh ư Bính (sáng tỏ)
Đinhmuôn vật cứng cáp, tráng kiệnmùa hạ muôn vật đều chắcđại thịnh ư Đinh (rất thịnh)
Mậu(không nhắc)trung cungphong mậu ư Mậu (tốt tươi)
Kỷ(không nhắc)trung cung, muôn vật thu mìnhlý kỷ ư Kỷ (có thứ lớp)
Canhkhí âm làm đổi muôn vậtphương tây, mùa thu muôn vật chắc hạtliễm canh ư Canh (thu lại, đổi)
Tânmuôn vật mới sinh (có bản giải là cay đắng)mùa thu muôn vật chín; vị caytất tân ư Tân (đều mới)
Nhâm"nhâm" là "nhậm": dương khí nuôi muôn vật ở dướiphương bắc, âm cực dương sinh, hình người mang thaihoài nhậm ư Nhâm (ôm mang)
Quý"quý" là "quỹ": muôn vật có thể đo lườngmùa đông, nước đất bằng phẳng, đo đượctrần quỹ ư Quý (bày ra đo xét)

Ba điều đọc ra từ bảng:

Một: Luật Thư bỏ trống Mậu, Kỷ. Đoạn bàn thiên can trong Sử Ký Luật Thư chỉ giải tám can, gắn với tám phương, mà không nhắc Mậu, Kỷ. Lối hiểu phổ biến là Mậu Kỷ thuộc Thổ ở giữa, không chiếm phương nào trong vòng tám phương nên không được đặt vào. Chi tiết nhỏ này cho thấy ngay từ đời Hán, hai can Thổ đã có vị trí đặc biệt, điều về sau thấy lại trong cách Thổ vượng tứ quý.

Hai: phép giải bằng chữ đồng âm. "Nhâm là nhậm", "Quý là quỹ", "Giáp là giáp (vỏ)", "Bính là bỉnh (sáng)". Học giả đời Hán hay giải nghĩa một chữ bằng một chữ đọc giống nó, gọi là thanh huấn. Lối giải này đẹp, dễ nhớ, nhưng không phải bằng chứng về nghĩa gốc.

Ba: nghĩa gốc thật có lẽ khác. Mười chữ can đã có trên giáp cốt văn đời Thương, hơn một nghìn năm trước Sử Ký, dùng làm tên ngày. Hình chữ giáp cốt của Giáp là một dấu chữ thập, của Đinh là một chấm hay ô vuông; các nhà văn tự học hiện đại đưa nhiều giả thuyết (vảy giáp, cây cột, đinh) mà chưa thống nhất. Tức là "Giáp là hạt nứt vỏ" là cách người Hán đọc lại mười ký hiệu cổ theo triết lý âm dương ngũ hành của thời họ. Chuyện can chi trên giáp cốt có ở bài nguồn gốc can chi.

Hình tượng mười can trong Tử Bình

Từ đời Tống trở đi, phái Tử Bình (Bát Tự) gán cho mỗi can một hình tượng tự nhiên để luận tính chất. Lối này phổ biến nhờ các sách như Trích Thiên Tuỷ:

CanHình tượng thường dùngTính chất được nhấn
Giápcây lớn, gỗ cộtthẳng, vươn, cứng
Ấtcỏ hoa, dây leomềm, uốn, bám
Bínhmặt trờisáng, toả, rộng
Đinhngọn đèn, lửa lònhỏ mà bền, soi trong tối
Mậunúi, đất dày, đênặng, chắn, giữ
Kỷđất ruộng vườnẩm, nuôi, chứa
Canhsắt thô, búa rìucứng, quyết
Tânvàng bạc, châu ngọc đã luyệntinh, đẹp, sợ bẩn
Nhâmsông lớn, biểnchảy, rộng, mạnh
Quýmưa móc, sươngnhỏ, thấm, lặng

Đây là lớp hình tượng của đời sau, không phải nghĩa gốc chữ. Nó có ích khi đọc Bát Tự (người can ngày Ất khác người can ngày Giáp ở chỗ "mềm mà bền"), nhưng không nên đem ngược lại để giải chữ Hán.

Can trong đời sống Việt

Người Việt dùng thiên can ở những chỗ không liên quan bói toán, và đó là dấu vết của việc can từng là bộ chữ đánh số:

  • Khoa cử: tiến sĩ chia "đệ nhất giáp", "đệ nhị giáp", "đệ tam giáp"; bảng "Giáp" đứng trên bảng "Ất".
  • "Giáp, Ất, Bính, Đinh" dùng như A, B, C, D trong văn bản hành chính cũ, tên lớp, tên đội.
  • Năm sinh, tên năm lịch sử: Ất Dậu 1945, Mậu Thân 1968, Giáp Ngọ 1954.

Sách cổ nói gì

Xuất giáp ư Giáp, phấn yết ư Ất, minh bỉnh ư Bính, đại thịnh ư Đinh, phong mậu ư Mậu, lý kỷ ư Kỷ, liễm canh ư Canh, tất tân ư Tân, hoài nhậm ư Nhâm, trần quỹ ư Quý.

Dịch: Ra khỏi vỏ ở Giáp, gắng vươn ở Ất, sáng tỏ ở Bính, rất thịnh ở Đinh, tốt tươi ở Mậu, có thứ lớp ở Kỷ, thu lại ở Canh, đổi mới hết ở Tân, ôm mang ở Nhâm, bày ra đo xét ở Quý. — Hán Thư, Luật Lịch Chí

Bình: một câu gói trọn cả vòng mười can như một năm của cây cỏ. Đọc câu này rồi đọc lại bảng ở trên sẽ thấy ba sách giải gần giống nhau vì cùng một lối nghĩ của thời Hán. Đó là giá trị lớn nhất của nó: không phải cho biết chữ Giáp xưa vẽ gì, mà cho biết người Hán nhìn mười can như một chu kỳ sống.

Đọc cho đúng mức

  • Nghĩa "Giáp là vỏ hạt nứt", "Nhâm là mang thai" là cách giải của các sách đời Hán, phần lớn bằng chữ đồng âm; nghĩa gốc trên giáp cốt văn còn tranh luận.
  • Hình tượng "Giáp cây lớn, Bính mặt trời" là của phái Tử Bình đời sau.
  • Âm dương, ngũ hành của mười can là quy ước thống nhất, dùng chung cho mọi môn.

Việc nên làm

  1. Thuộc bảng theo cặp: hai can một hành, lẻ dương chẵn âm.
  2. Khi đọc một lời giải "nghĩa gốc" của can, hỏi lại: theo sách nào, đời nào.
  3. Xem can ngày sinh của mình trong lá Bát Tự bằng công cụ ở đầu bài, rồi đối chiếu với bảng hình tượng.

Nguồn tham khảo

  • Tư Mã Thiên — Sử Ký, Luật Thư, đoạn bàn thập mẫu (đại ý).
  • Hứa Thận — Thuyết Văn Giải Tự, các mục chữ can (đại ý).
  • Ban Cố — Hán Thư, Luật Lịch Chí (trích nguyên văn).
  • Trích Thiên Tuỷ — phần Thiên can, hình tượng mười can (đại ý).

Câu hỏi thường gặp

Mười thiên can gồm những can nào?

Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Can lẻ là dương, can chẵn là âm; hai can một hành theo thứ tự Mộc, Hoả, Thổ, Kim, Thuỷ.

Thiên can Giáp nghĩa là gì?

Sử Ký và Thuyết Văn giải là muôn vật xé vỏ mà ra, hình cây đội vỏ hạt đầu xuân. Đây là cách giải đời Hán; nghĩa gốc của chữ trên giáp cốt văn còn tranh luận.

Can nào thuộc hành gì?

Giáp, Ất thuộc Mộc; Bính, Đinh thuộc Hoả; Mậu, Kỷ thuộc Thổ; Canh, Tân thuộc Kim; Nhâm, Quý thuộc Thuỷ.

Vì sao Sử Ký không giải Mậu, Kỷ?

Đoạn thiên can trong Luật Thư gắn tám can với tám phương; Mậu Kỷ thuộc Thổ ở giữa nên không được đặt vào. Đây là cách hiểu phổ biến, sách không tự nói lý do.

Nhìn năm sinh biết can thế nào?

Nhìn chữ số cuối của năm: 0 Canh, 1 Tân, 2 Nhâm, 3 Quý, 4 Giáp, 5 Ất, 6 Bính, 7 Đinh, 8 Mậu, 9 Kỷ. Người sinh tháng Một, đầu tháng Hai dương lịch phải xem đã qua Tết chưa.

Nguồn tham khảo: Tư Mã Thiên — Sử Ký, Luật Thư · Hứa Thận — Thuyết Văn Giải Tự · Ban Cố — Hán Thư, Luật Lịch Chí · Trích Thiên Tuỷ — phần Thiên can

Vòng Trường Sinh mười hai giai đoạn: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới… Tuyệt, Thai, DưỡngVòng Trường Sinh là mười hai giai đoạn của khí từ sinh đến tàn rồi thai dưỡng. Bảng mười can, tranh luận dương thuận âm nghịch, c…
Lục giáp và tuần không: sáu tuần mười ngày, bảng không vong và cách tính nhẩm cho ngày, năm bất kỳLục giáp là sáu tuần mười ngày trong vòng 60 can chi; mỗi tuần dư hai chi gọi là tuần không. Bảng tra, công thức nhẩm, và cách Lụ…
Tháng Giêng, tháng Một, tháng Chạp và "nguyệt kiến": vì sao tháng Giêng là tháng DầnTháng Giêng gốc từ chữ chính, tháng Chạp từ chữ lạp; tháng Giêng là tháng Dần vì nguyệt kiến cán Bắc Đẩu và phép tam chính: Hạ ki…
Thiên can có "xung" không: Giáp Canh, Ất Tân, Bính Nhâm, Đinh Quý và cách sách cổ gọi đúng tênThiên can có xung không: Tam Mệnh Thông Hội nói can thứ bảy là sát, chi thứ bảy mới là xung; Giáp Canh, Ất Tân, Bính Nhâm, Đinh Q…
Can chi của tháng: tháng tính theo tiết khí hay theo mùng Một — hai hệ trên cùng tờ lịchCan chi tháng có hai hệ: lịch âm đổi tháng ở mùng Một, Tử Bình đổi ở tiết khí. Bảng 12 tháng năm 2027 hai hệ song song và ví dụ s…
Canh Tý, Mậu Thân, Ất Dậu: đọc lịch sử Việt qua tên năm can chiNăm can chi trong lịch sử Việt: Mậu Thân 1968, Ất Dậu 1945, Đinh Mùi 1427… Bảng sự kiện, cách đổi năm và phép đếm cho thấy câu nă…