Can chi trên giáp cốt văn đời Thương: ghi ngày trước, ghi năm sau cả nghìn năm

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc

Can chi trên giáp cốt văn đời Thương: ghi ngày trước, ghi năm sau cả nghìn năm

Can chi xuất hiện sớm nhất trên giáp cốt văn đời Thương (khoảng thế kỷ 13 – 11 trước Công nguyên), và lúc ấy nó chỉ dùng để ghi ngày. Việc gọi năm bằng can chi đến tận đời Hán mới ổn định, tức muộn hơn hơn một nghìn năm; gọi tháng và giờ bằng can chi còn muộn nữa. Tên năm "Giáp Tý", "Đinh Mùi" ta quen là lớp sau cùng của một hệ đếm ngày rất cổ.

Trên mai rùa, xương bò: mỗi lời bói mở đầu bằng một ngày

Giáp cốt văn là chữ khắc trên mai rùa và xương bả vai bò, chủ yếu tìm thấy ở Ân Khư (An Dương, Hà Nam), kinh đô cuối đời Thương. Phần lớn là lời bói của nhà vua. Một lời bói chuẩn thường mở đầu bằng ngày can chi, rồi tên người bói, rồi câu hỏi. Dạng phổ biến nhất có thể dịch đại ý:

Ngày Quý Mão bói, [người bói] hỏi: tuần tới không có tai hoạ chăng?

Có ba điều đọc ra từ khuôn ấy:

  1. Đến đời Thương, vòng 60 ngày đã hoàn chỉnh, đủ 10 can ghép 12 chi.
  2. Người Thương có tuần mười ngày (từ ngày Giáp đến ngày Quý). Lời bói "tuần tới có tai hoạ không" thường được làm vào ngày Quý, ngày cuối tuần, để hỏi cho mười ngày tiếp theo.
  3. Năm và tháng trên giáp cốt văn ghi bằng số (tháng thứ mấy, năm thứ mấy của vua), không bằng can chi.

Trong số giáp cốt đã công bố có những mảnh khắc trọn bảng sáu mươi can chi, xếp thành hàng theo thứ tự từ Giáp Tý. Các nhà nghiên cứu cho đó có thể là bảng tra ngày, hoặc bài tập của người học khắc chữ. Dù là gì, nó cho thấy vòng 60 đã là thứ cần thuộc lòng của người làm việc với lịch hơn ba nghìn năm trước.

Vua Thương mang tên can

Một chi tiết lạ của đời Thương: các vua được gọi bằng tên có chữ can. Sử Ký, Ân Bản Kỷ và giáp cốt văn cho ta những tên như Thượng Giáp, Đại Ất (tức Thành Thang), Bàn Canh, Vũ Đinh, Đế Ất, Đế Tân (tức Trụ Vương). Các vương hậu cũng mang tên can.

Vì sao? Có nhiều giả thuyết: tên can là ngày sinh, ngày mất, hoặc là ngày được cúng tế trong vòng tế lễ mười ngày; có người cho rằng hoàng tộc Thương chia thành các nhóm gắn với từng can và ngôi vua luân chuyển giữa các nhóm. Chưa giả thuyết nào được chấp nhận hẳn. Điều chắc là thiên can gắn chặt với lịch tế lễ theo tuần mười ngày của nhà Thương.

Vì sao là mười và mười hai: giả thuyết, chưa phải kết luận

Hai con số này có nhiều lời giải, cần tách bạch:

Con sốGiả thuyết hay được nêuMức tin cậy
10 canứng với mười mặt trời trong thần thoại: Sơn Hải Kinh kể mười mặt trời thay nhau mọc từ cây Phù Tang, Hoài Nam Tử kể chuyện Hậu Nghệ bắn rơi chín mặt trời; mỗi ngày trong tuần là một mặt trờigiả thuyết của một số học giả; có lý nhưng không có văn bản đời Thương nói thẳng
10 canđếm bằng mười ngón tayphổ biến, khó kiểm
12 chimột năm có khoảng mười hai lần trăng tròncó lý, nhưng trên giáp cốt chi chưa dùng cho tháng
12 chisao Mộc đi một vòng trời khoảng 12 nămgắn với lối gọi năm theo sao Mộc ở đời Chu – Hán, muộn hơn giáp cốt

Nói ngắn: trên giáp cốt văn, can và chi đã ghép thành vòng 60 để ghi ngày, còn lý do chọn 10 và 12 thì văn bản thời ấy không giải thích. Các lời giải đều là của đời sau.

Năm can chi: đến tận đời Hán

Thời Xuân Thu, Chiến Quốc, năm được ghi theo đời vua ("năm thứ ba đời Lỗ Ẩn Công"). Đời Chiến Quốc và Tây Hán có thêm lối gọi năm theo vị trí sao Mộc (tuế tinh) và theo một "sao giả" chạy ngược với nó (Thái Tuế), với những tên rất lạ như Nhiếp Đề Cách, Đơn Át, Chấp Từ Cách; xem bài tên tuế dương, tuế âm trong Nhĩ Nhã.

Chỗ cho thấy rõ nhất năm can chi chưa ổn định thời Tây Hán: Sử Ký, Lịch Thư gọi năm Thái Sơ thứ nhất (104 trước Công nguyên) bằng tên tương đương Giáp Dần; còn nếu đếm ngược theo vòng can chi liên tục mà ta dùng ngày nay, năm ấy là Đinh Sửu (đã tính bằng máy). Hai cách gọi lệch nhau vì lối gọi năm theo sao Mộc phải "nhảy" một bậc sau mỗi khoảng tám mươi mấy năm, còn vòng can chi thì không nhảy.

Từ đời Đông Hán, việc gọi năm bằng vòng 60 liên tục mới thành nếp, thường được nêu gắn với mốc ban hành lịch Tứ Phân năm 85 Công nguyên. Từ đó tên năm can chi không đứt nữa, và các năm sớm hơn được tính ngược theo vòng ấy. Muốn biết tên năm theo cách tính ngược, xem bài cách tính can chi năm.

Tháng và giờ: hai lớp sau cùng

Đơn vịBắt đầu dùng can chiGhi chú
Ngàyđời Thương (giáp cốt văn)liên tục, kiểm được ít nhất từ thời Xuân Thu, xem can chi ngày
Nămổn định từ đời Đông Hántrước đó gọi theo đời vua, theo sao Mộc
Thángchi tháng (nguyệt kiến) có sớm; can tháng theo phép Ngũ Hổ Độn là của đời sauxem nguyệt kiến, tên tháng
Giờcan giờ theo Ngũ Thử Độn, phổ biến cùng phép Tứ Trụtương truyền Từ Tử Bình đời Tống thêm trụ giờ vào ba trụ năm, tháng, ngày

Bốn trụ của lá Bát Tự (năm, tháng, ngày, giờ) vì thế không ra đời cùng lúc: trụ ngày cổ nhất, trụ giờ mới nhất, cách nhau khoảng hai nghìn năm.

Ở Việt Nam: can chi trong sử và trong truyền thuyết

Sử Việt dùng can chi ghi năm suốt từ các bộ sử đầu tiên. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi Kinh Dương Vương lên ngôi năm Nhâm Tuất; người đời sau đổi ra năm 2879 trước Công nguyên, và nếu tính ngược theo vòng 60 thì năm ấy đúng là Nhâm Tuất. Nhưng cần tách bạch: đây là niên đại truyền thuyết do sử thần đời Lê đặt theo cách tính ngược, không phải ghi chép của người đương thời. Năm can chi thật sự ghi kịp lúc sự việc xảy ra chỉ có từ khi có văn bản, và trên đất Việt thì muộn hơn nhiều. Đọc lịch sử Việt qua tên năm có ở bài can chi trong lịch sử Việt.

Sách cổ nói gì

Sơn Hải Kinh, Đại Hoang Nam Kinh, đại ý: ngoài biển Đông Nam có nước Hy Hoà; có người con gái tên Hy Hoà, là vợ của Đế Tuấn, sinh ra mười mặt trời.

Hoài Nam Tử, thiên Bản Kinh Huấn, đại ý: đời vua Nghiêu, mười mặt trời cùng mọc, cây cỏ cháy khô; vua sai Nghệ bắn rơi chín mặt trời.

Bình: hai đoạn này là chỗ dựa của giả thuyết "mười can là mười mặt trời". Chúng có thật trong văn bản, nhưng văn bản là của đời Chiến Quốc, Hán, cách giáp cốt văn cả nghìn năm. Dùng chúng để giải thích con số mười là một cách đọc đẹp, chưa phải bằng chứng.

Đọc cho đúng mức

  • Đã rõ: đời Thương đã dùng vòng 60 ngày can chi và tuần mười ngày; năm can chi ổn định từ đời Hán.
  • Chưa chắc: vì sao chọn 10 và 12; vì sao vua Thương mang tên can.
  • Can chi gán cho các năm trước đời Hán, kể cả niên đại các vua truyền thuyết, là tính ngược.
  • Thời điểm can tháng, can giờ ra đời chỉ biết khoảng; "Từ Tử Bình thêm trụ giờ" là theo truyền thống.

Việc nên làm

  1. Khi gặp một niên đại can chi rất cổ, hỏi lại: người thời ấy ghi hay đời sau tính ngược.
  2. Nhớ thứ tự ra đời: ngày, rồi năm, rồi tháng và giờ.
  3. Thử tự tính can chi ngày bằng công thức số ngày Julius để thấy vòng 60 ngày liền mạch thế nào.
📅Lịch âm – lịch vạn niên
Lịch tháng âm dương, can chi, tiết khí, ngày hoàng đạo.
Mở

Nguồn tham khảo

  • Giáp cốt văn Ân Khư — khuôn bốc từ có ngày can chi và lời bói tuần (đại ý).
  • Tư Mã Thiên — Sử Ký, Ân Bản Kỷ (tên các vua Thương), Lịch Thư (tên năm Thái Sơ) (đại ý).
  • Sơn Hải Kinh, Đại Hoang Nam Kinh; Hoài Nam Tử, Bản Kinh Huấn (đại ý).
  • Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngoại Kỷ — năm Nhâm Tuất của Kinh Dương Vương (đại ý).
  • Can chi năm 104 TCN, 2879 TCN: tính bằng bộ lịch của aihuyenhoc.com.

Câu hỏi thường gặp

Can chi có từ bao giờ?

Can chi thấy sớm nhất trên giáp cốt văn đời Thương, khoảng thế kỷ 13 – 11 trước Công nguyên, dùng để ghi ngày theo vòng 60.

Năm can chi bắt đầu dùng từ khi nào?

Việc gọi năm bằng vòng can chi liên tục thành nếp từ đời Đông Hán, thường gắn với lịch Tứ Phân năm 85 Công nguyên. Trước đó năm được gọi theo đời vua hoặc theo vị trí sao Mộc.

Vì sao có 10 thiên can?

Văn bản đời Thương không giải thích. Có giả thuyết gắn với mười mặt trời trong thần thoại, mỗi ngày một mặt trời trong tuần mười ngày, hoặc với mười ngón tay; đều là lời giải của đời sau.

Người Thương có tuần lễ không?

Có, nhưng là tuần mười ngày, từ ngày Giáp đến ngày Quý. Nhiều lời bói được làm vào ngày Quý để hỏi tuần tới có tai hoạ gì không.

Năm Kinh Dương Vương lên ngôi là năm Nhâm Tuất có đúng không?

Đó là niên đại truyền thuyết sử thần đời Lê đặt, tính ngược theo vòng can chi. Tính lại thì năm 2879 trước Công nguyên đúng là Nhâm Tuất, nhưng không có ghi chép đương thời nào.

Nguồn tham khảo: Giáp cốt văn Ân Khư (An Dương) — các bản bốc từ có ghi ngày can chi · Tư Mã Thiên — Sử Ký, Ân Bản Kỷ; Lịch Thư · Sơn Hải Kinh — Đại Hoang Nam Kinh; Hoài Nam Tử — Bản Kinh Huấn · Ngô Sĩ Liên và sử thần — Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngoại Kỷ

"Canh" khác "giờ": năm canh của đêm, trống canh, và vì sao canh mùa đông dài hơn canh mùa hèNăm canh của đêm là gì, khác mười hai canh giờ ra sao: canh một đến canh năm, trống canh, mõ cầm canh, độ dài canh theo mùa ở Hà …
Tính can chi của năm bất kỳ: hai phép tính, bảng đối chiếu và chỗ hay sai với người sinh tháng Một, tháng HaiCách tính can chi năm bất kỳ: chữ số cuối ra can, chia 12 ra chi, công thức (năm − 4) chia 60; năm trước Công nguyên, người sinh …
Thiên can có "xung" không: Giáp Canh, Ất Tân, Bính Nhâm, Đinh Quý và cách sách cổ gọi đúng tênThiên can có xung không: Tam Mệnh Thông Hội nói can thứ bảy là sát, chi thứ bảy mới là xung; Giáp Canh, Ất Tân, Bính Nhâm, Đinh Q…
Tứ sinh, tứ vượng, tứ mộ: ba nhóm Dần Thân Tỵ Hợi, Tý Ngọ Mão Dậu, Thìn Tuất Sửu MùiTý Ngọ Mão Dậu là tứ vượng, Dần Thân Tỵ Hợi là tứ sinh, Thìn Tuất Sửu Mùi là tứ mộ. Gốc ở câu sinh, tráng, tử của Hoài Nam Tử và …
Tính can chi bằng bàn tay: mẹo đốt ngón của thầy xưa và cách kiểm lại bằng máyTính can chi bằng tay: đặt mười hai chi lên đốt ngón, mười can lên mười ngón rồi đếm. Ba ví dụ năm, ngày, giờ, đối chiếu lịch của…
Can chi của tháng: tháng tính theo tiết khí hay theo mùng Một — hai hệ trên cùng tờ lịchCan chi tháng có hai hệ: lịch âm đổi tháng ở mùng Một, Tử Bình đổi ở tiết khí. Bảng 12 tháng năm 2027 hai hệ song song và ví dụ s…