Cùng Thông Bảo Giám (Lan Giang Võng): sách điều hậu, bảng mười can × mười hai tháng

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc

Cùng Thông Bảo Giám (Lan Giang Võng): sách điều hậu, bảng mười can × mười hai tháng

Cùng Thông Bảo Giám là sách Bát Tự đời Thanh, gốc là bản khuyết danh Lan Giang Võng, được Dư Xuân Đài biên tập lại. Sách không cân vượng nhược theo lối đếm, mà đi thẳng từ can ngày và tháng sinh ra can cần dùng, đặt nặng chuyện nóng lạnh, khô ẩm, gọi là điều hậu. Lõi của sách là một bảng mười can × mười hai tháng.

Tên sách và các lớp người biên

Lan Giang Võng nghĩa đen là "lưới chắn sông". Đây là tên bản gốc, không rõ người soạn, lưu truyền dưới dạng sách chép. Đời Thanh, Dư Xuân Đài biên tập lại và đặt tên Cùng Thông Bảo Giám: "cùng" là bế tắc, "thông" là hanh thông, "bảo giám" là tấm gương quý. Tức là tấm gương soi lúc bĩ lúc thái của đời người.

Thời Dân Quốc, Từ Lạc Ngô bình chú bộ sách và đặt tên bản của mình là Tạo Hoá Nguyên Thược, "chiếc chìa khoá gốc của tạo hoá". Phần lớn bản in hiện nay là bản có lời bình của ông, nên khi đọc, cần tách nguyên văn với lời bình. Cũng chính Từ Lạc Ngô là người chú Trích Thiên Tủy và Tử Bình Chân Thuyên, nên ông là cầu nối giữa ba sách Bát Tự lớn (bài Trích Thiên Tủy).

Sách đọc lá số theo cách nào

Mở bản số hoá, bạn sẽ thấy sách chia hai phần:

  1. Ngũ hành tổng luận: bàn chung về Mộc, Hoả, Thổ, Kim, Thủy, mỗi hành qua bốn mùa.
  2. Thập can phân luận: mỗi can một thiên, chia theo ba tháng xuân, ba tháng hạ, ba tháng thu, ba tháng đông, rồi từng tháng một; cuối nhiều mục có lá số mẫu kèm lời đoán ngắn.

Mỗi mục tháng trả lời một câu: can ngày này, sinh tháng này, cần can nào trước, can nào sau. Ví dụ mục Mậu thổ tháng Giêng, tháng Hai viết "trước Bính sau Giáp, Quý lại thứ đến"; mục Bính hoả tháng Giêng viết "tháng Giêng dùng Nhâm, Canh Tân làm phụ". Chữ "dùng" ở đây là dụng thần.

Khác với phép phù ức (cân thân vượng hay nhược rồi mới chọn), Cùng Thông Bảo Giám coi khí hậu của tháng sinh là chỗ phải giải trước: sinh mùa đông thì Thủy lạnh, Kim lạnh, cần Hoả sưởi; sinh mùa hạ thì khô nóng, cần Thủy làm ẩm. Bài dụng thần là gì đặt phép điều hậu cạnh ba phép khác.

Lưu ý: "tháng" trong sách là tháng tiết khí, tháng Giêng bắt đầu từ Lập Xuân, không phải mùng một âm lịch. Công cụ Bát Tự của site đã tính theo tiết.

Bảng tóm: mười can × mười hai tháng

Bảng dưới tóm can được dùng trước tiên và can kế tiếp của mỗi mục, theo thứ tự sách nêu, đọc từ bản số hoá. Dấu "→" là "rồi tới". Đây là bản tóm, không thay được nguyên văn: nhiều mục có điều kiện kèm theo (có Thổ dày thì cần Giáp, Thủy nhiều thì dùng Mậu…).

Can ngàyGiêng (Dần)Hai (Mão)Ba (Thìn)Tư (Tỵ)Năm (Ngọ)Sáu (Mùi)
GiápBính, QuýCanh (Mậu, Đinh)Canh → NhâmQuý → ĐinhQuý → Đinh → CanhĐinh → Canh
ẤtBính → QuýBính → QuýQuý → BínhQuýQuý (nửa sau tháng Bính Quý cùng dùng)Bính
BínhNhâm → CanhNhâmNhâm → GiápNhâm → CanhNhâmNhâm → Canh
ĐinhCanh → GiápCanh → GiápGiáp → CanhGiáp → CanhNhâm → GiápGiáp → Nhâm
MậuBính → Giáp → QuýBính → Giáp → QuýGiáp → Bính → QuýGiáp → Bính → QuýNhâm → GiápQuý → Bính → Giáp
KỷBínhGiáp → QuýBính → Quý → GiápQuý → BínhQuý → BínhQuý → Bính
CanhBính → GiápĐinh → GiápGiáp → ĐinhNhâm → Mậu → BínhNhâm → QuýĐinh → Giáp
TânKỷ → NhâmNhâm → GiápNhâm → GiápNhâmNhâm, KỷNhâm → Canh
NhâmCanh → Bính → MậuMậu → Tân → CanhGiáp → CanhNhâm → Tân → CanhQuý → CanhTân → Giáp → Quý
QuýTân → BínhCanh → TânBính → Tân → GiápTân → CanhCanh → Nhâm → QuýCanh → Tân
Can ngàyBảy (Thân)Tám (Dậu)Chín (Tuất)Mười (Hợi)Mười Một (Tý)Chạp (Sửu)
GiápĐinh → CanhĐinh → Bính → CanhĐinhCanh → Đinh → BínhĐinh → Canh → BínhCanh → Đinh
ẤtKỷQuý (trước Thu Phân) · Bính (sau Thu Phân)QuýBính → MậuBínhBính (*)
BínhNhâm → MậuNhâm → QuýGiáp → Nhâmtuỳ thế: Canh, Mậu, NhâmNhâm → MậuNhâm → Giáp
ĐinhGiáp → CanhGiáp, CanhGiápCanh, Giáp (theo tổng luận ba tháng đông)Giáp → CanhCanh, Giáp (theo tổng luận ba tháng đông)
MậuBính → Quý → GiápBính → QuýGiáp → Quý → BínhGiáp → BínhBính → GiápBính → Giáp
KỷQuý → BínhQuý → BínhGiápMậu → BínhBính → GiápBính → Giáp
CanhĐinh → GiápĐinh → Giáp → BínhGiáp → NhâmĐinh → Giáp/BínhĐinh → Giáp → BínhBính → Đinh → Giáp
TânNhâm → GiápNhâm → GiápNhâm → GiápNhâm → BínhNhâm → BínhBính → Nhâm
NhâmMậu → ĐinhGiáp → CanhGiáp → BínhMậu → Bính → CanhMậu → BínhBính → Giáp
QuýĐinhTân → BínhTân → GiápCanh → TânBính → TânBính → Tân

(*) Bản số hoá không có mục riêng cho Ất mộc tháng Chạp; các bảng tóm lưu hành ghi Bính, hợp với lẽ điều hậu mùa đông. Hai mục Đinh hoả tháng Mười và tháng Chạp cũng không có lời riêng, sách chỉ có đoạn tổng luận ba tháng đông chuyên dùng Canh, Giáp.

Cách đọc bảng nhanh: nhìn cột tháng Năm, tháng Sáu, gần như can nào cũng cần Nhâm hay Quý (nước); nhìn cột tháng Mười Một, tháng Chạp, gần như can nào cũng cần Bính hay Đinh (lửa). Đó là tinh thần điều hậu hiện lên ngay trên bảng. Những ô ngược quy luật, như Ất mộc tháng Bảy dùng Kỷ, hay Nhâm thủy tháng Bảy dùng Mậu, là chỗ nên mở nguyên văn ra đọc lý do.

Bảng này khác các bảng tóm trên mạng ở đâu

Trên mạng tiếng Trung và tiếng Việt lưu hành rất nhiều "bảng điều hậu dụng thần" chỉ liệt kê vài can trong mỗi ô. So với nguyên văn, các bảng ấy hay lệch ở hai chỗ:

  • Thứ tự. Nhiều bảng xếp các can theo một trật tự cố định chứ không theo thứ tự ưu tiên của sách. Ví dụ mục Giáp mộc tháng Bảy, tháng Tám, nguyên văn nhấn Đinh hoả trước, nhưng có bảng ghi Canh đứng đầu.
  • Điều kiện. Bảng tóm bỏ hết những chữ "nếu": nếu Thổ dày, nếu Thủy vượng, nếu có Bính lộ. Trong khi nhiều mục sách đổi dụng thần theo đúng các điều kiện ấy, có mục còn chia nửa tháng trước, nửa tháng sau (như Ất mộc tháng Năm, tháng Tám).

Vì vậy bảng trên nên dùng như mục lục để mở sách, không như đáp án.

Một ví dụ áp bảng

Lá số nữ sinh 14 giờ ngày 5/1/1992. Bộ máy Bát Tự của site cho tứ trụ Tân Mùi – Canh Tý – Canh Thìn – Quý Mùi: can ngày Canh kim, sinh tháng Tý (tháng Mười Một tiết khí, chưa qua Tiểu Hàn).

  • Tra bảng: Canh kim tháng Mười Một dùng Đinh trước, rồi Giáp, rồi Bính. Lẽ của sách: giữa đông Kim lạnh, Thủy đông cứng; cần lửa Đinh để luyện, cần gỗ Giáp để nuôi lửa.
  • Đối chiếu lá số: Đinh có, nhưng chỉ tàng trong hai chữ Mùi, không lộ lên can; Giáp không có (chỉ có Ất tàng); Bính không có. Trên can lại có Quý thủy ở trụ giờ, làm lá số thêm lạnh.
  • Đọc theo tinh thần sách: dụng thần là Đinh hoả, nhưng dụng thần "tàng mà không lộ, thiếu Giáp dẫn" thì sức yếu; các vận, các năm mang Đinh, Giáp, Bính là quãng lá số được sưởi ấm.

Hai ví dụ khác, Giáp mộc sinh tháng Giêng (dùng Bính, Quý) và Bính hoả sinh tháng Tư (dùng Nhâm, Canh), đã có ở bài dụng thần là gì.

Sách cổ nói gì

Chính nguyệt dụng Nhâm, Canh Tân vi trợ.

Dịch: Tháng Giêng dùng Nhâm thủy, Canh Tân làm phụ. — Cùng Thông Bảo Giám, mục Bính hoả tháng Giêng

Chính nhị nguyệt tiên Bính hậu Giáp, Quý hựu thứ chi.

Dịch: Tháng Giêng, tháng Hai, trước dùng Bính, sau dùng Giáp, Quý lại thứ đến. — Cùng Thông Bảo Giám, mục Mậu thổ tháng Giêng, tháng Hai

Tiên Bính hậu Quý, thổ noãn nhi nhuận.

Dịch: Trước Bính sau Quý, đất ấm mà nhuận. — Cùng Thông Bảo Giám, mục Kỷ thổ tháng Ba

Bình: ba câu cho thấy lối viết của cả sách: không giảng lý thuyết dài, chỉ nêu can cần dùng theo thứ tự, đôi khi kèm một hình ảnh như "đất ấm mà nhuận". Hình ảnh ấy mới là chìa khoá: Kỷ thổ tháng Ba là đất ruộng cuối xuân, cần nắng (Bính) trước để ấm, rồi mưa (Quý) để nhuận. Người đọc hiểu được hình ảnh thì không cần học thuộc bảng.

Đọc cho đúng mức

  • Bảng điều hậu chỉ nhìn can ngày và tháng sinh, tức hai trong tám chữ. Sáu chữ còn lại có thể làm thay đổi hẳn nhu cầu; sách cũng tự thêm điều kiện ở nhiều mục.
  • Điều hậu là một trong nhiều phép tìm dụng thần. Phép phù ức, thông quan, bệnh dược có khi cho kết quả khác; khi chúng lệch nhau, không có công thức chung, phải xét cả lá số.
  • Tháng tính theo tiết khí; người sinh sát ngày giao tiết cần kiểm giờ sinh kỹ, vì đổi tháng là đổi hẳn ô trong bảng.
  • Bảng trên tóm từ một bản số hoá; ô nào quan trọng với bạn, nên đọc nguyên văn mục ấy, kèm lời bình của Từ Lạc Ngô.
  • Dụng thần là một cách hiểu thế cân bằng của lá số, không phải lời đoán tương lai.

Việc nên làm

  • Lập tứ trụ, ghi can ngày và tháng tiết khí, tra ô tương ứng trong bảng.
  • Đối chiếu: can được dùng có lộ trên can không, có tàng trong chi không, có bị khắc không.
  • Đặt kết quả điều hậu cạnh kết quả cân thân vượng nhược; nếu hai phép cùng chỉ một hành, dụng thần đáng tin hơn.
  • Muốn đi sâu, đọc mục của can ngày mình trong bản có lời bình Tạo Hoá Nguyên Thược.
🀄Lá số Bát Tự (Tứ Trụ)
Bốn trụ năm tháng ngày giờ theo tiết khí, Thập Thần, ngũ hành vượng suy.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Cùng Thông Bảo Giám (gốc Lan Giang Võng, Dư Xuân Đài biên tập) — Ngũ hành tổng luận và Thập can phân luận; các câu dẫn nguyên văn và bảng tóm đối chiếu bản số hoá Wikisource tiếng Hán.
  • Từ Lạc Ngô — Tạo Hoá Nguyên Thược, bản bình chú Cùng Thông Bảo Giám (đại ý).
  • Tứ trụ ví dụ lập bằng bộ máy Bát Tự của aihuyenhoc.com.

Câu hỏi thường gặp

Cùng Thông Bảo Giám và Lan Giang Võng có phải một sách không?

Cùng một nội dung gốc. Lan Giang Võng là bản khuyết danh ban đầu; Dư Xuân Đài đời Thanh biên tập lại và đặt tên Cùng Thông Bảo Giám.

Tạo Hoá Nguyên Thược là gì?

Đó là tên bản bình chú Cùng Thông Bảo Giám của Từ Lạc Ngô thời Dân Quốc; phần lớn bản in hiện nay có kèm lời bình này.

Điều hậu là gì?

Là phép chọn dụng thần theo khí hậu của tháng sinh: sinh mùa đông lạnh cần lửa sưởi, sinh mùa hạ nóng cần nước làm dịu, trước khi xét các yếu tố khác.

Tháng trong bảng là tháng âm lịch hay tháng tiết khí?

Tháng tiết khí: tháng Giêng bắt đầu từ Lập Xuân, tháng Hai từ Kinh Trập, và cứ thế. Người sinh gần ngày giao tiết nên kiểm giờ sinh kỹ.

Chỉ dùng bảng điều hậu có đủ để biết dụng thần không?

Không. Bảng chỉ xét can ngày và tháng sinh; còn phải xem sáu chữ khác, thế vượng nhược và các điều kiện sách nêu trong từng mục.

Nguồn tham khảo: Cùng Thông Bảo Giám (gốc Lan Giang Võng, Dư Xuân Đài biên tập) — Ngũ hành tổng luận; Thập can phân luận · Từ Lạc Ngô — Tạo Hoá Nguyên Thược (bản bình chú Cùng Thông Bảo Giám) · Bản số hoá Cùng Thông Bảo Giám trên Wikisource tiếng Hán — dùng để tóm bảng và đối chiếu câu chữ · Bộ máy Bát Tự của aihuyenhoc.com — lập tứ trụ ví dụ

Ngọc Hạp Thông Thư: sách chọn ngày dân gian Việt, gốc từ đâu và tin được tới mức nàoNgọc Hạp Thông Thư, gốc của phần lớn lịch vạn sự Việt: nguồn từ Ngọc Hạp Ký của Đạo giáo, các lớp sao ngày, và vì sao ngày nào cũ…
Hoàng Cực Kinh Thế của Thiệu Ung: lịch sử đặt lên đồng hồ nguyên, hội, vận, thếHoàng Cực Kinh Thế của Thiệu Ung: bốn phần của sách, vòng 129.600 năm, vì sao đời Nghiêu nằm giữa một nguyên, và cách đọc sách nh…
Sách Mai Hoa Dịch Số: văn bản năm quyển, các lớp chữ và phần nào là thêm sauSách Mai Hoa Dịch Số đề tên Thiệu Ung: năm quyển gồm những gì, các lớp văn bản, dấu vết thêm sau như tựa năm Bảo Khánh thứ tư, bà…
Địa Lý Ngũ Quyết của Triệu Cửu Phong: năm quyết long, huyệt, sa, thủy, hướng và đường nối giữa hình thế với lý khíĐịa Lý Ngũ Quyết của Triệu Cửu Phong đời Thanh: năm quyết long, huyệt, sa, thủy, hướng; vì sao ba quyết cuối đọc trên một vòng tr…
Tử Bình Chân Thuyên của Thẩm Hiếu Chiêm: sách cách cục, thuận dụng nghịch dụng và lời bình của Từ Lạc NgôTử Bình Chân Thuyên của Thẩm Hiếu Chiêm: dụng thần lấy ở nguyệt lệnh, tám cách thuận nghịch, tướng thần, thành bại cứu ứng và bản…
Hám Long Kinh, Nghi Long Kinh: sách tầm long gắn tên Dương Quân Tùng, nguyên văn câu mở chín saoHám Long Kinh và Nghi Long Kinh, sách tầm long gắn tên Dương Quân Tùng: bản đồ núi Tu Di, nguyên văn câu mở của chín sao núi, ba …