Sách Mai Hoa Dịch Số: văn bản năm quyển, các lớp chữ và phần nào là thêm sau

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc

Sách Mai Hoa Dịch Số: văn bản năm quyển, các lớp chữ và phần nào là thêm sau

Sách Mai Hoa Dịch Số đề tên Thiệu Ung đời Bắc Tống, bản cổ phổ biến chia năm quyển, bản hiện đại thường gộp lại thành ba thiên lớn. Đọc kỹ thì thấy nhiều lớp chữ: lõi là phép lập quẻ bằng số và Thể – Dụng, bọc ngoài là truyện kể về "Khang Tiết tiên sinh", một thiên có lời tựa ghi năm không có thật, và những bài ca chép từ sách của Chu Hy.

Sách được biết đến thế nào

Bài Mai Hoa Dịch Số là gì đã tách truyền thuyết Thiệu Ung khỏi phép đoán, còn bài Thiệu Khang Tiết cho thấy học thuật thật của ông nằm ở Hoàng Cực Kinh Thế. Bài này chỉ làm một việc: mở chính cuốn sách ra, xem nó gồm những phần nào, và phần nào mang dấu thời gian muộn.

Điểm xuất phát: Tống Sử, cả phần Nghệ văn chí lẫn truyện Thiệu Ung và truyện con ông là Thiệu Bá Ôn, không ghi cuốn sách nào tên Mai Hoa Dịch Số. Bạn bè đương thời của ông như Tư Mã Quang, Trình Hạo, rồi Chu Hy sau đó, đều không nhắc tới. Các bản sách ta có hôm nay là bản in đời Minh, Thanh. Khoảng trống bốn, năm trăm năm ấy là lý do phải đọc văn bản bằng con mắt khảo chứng.

Năm quyển chứa gì

Các bản in không xếp đặt hoàn toàn giống nhau. Bảng dưới gom theo nhóm nội dung; vị trí quyển ghi theo những gì chúng tôi đối chiếu được, chỗ chưa chắc ghi "tuỳ bản".

NhómMục tiêu biểuVị trí thường gặp
Nền Dịch sốsố của quẻ, ngũ hành sinh khắc, ngũ hành tám cung, quẻ khí vượng suy, can chiquyển 1
Phép lập quẻchiêm pháp, "ngoạn pháp" (bài thơ), lấy 8 chia ra quẻ, lấy 6 chia ra hào, lệ lập hỗ quái, lập quẻ theo năm tháng ngày giờ, theo số vật, theo tiếng, theo chữ, theo thước tấcquyển 1
Tượng quẻbát quái vạn vật thuộc loại, bát quái tượng lệquyển 1
Lệ chiêm có truyệnQuan mai chiêm, Mẫu đơn chiêm, Lân dạ khấu môn tá vật chiêm, Tây Lâm tự bài ngạch chiêm, Lão nhân hữu ưu sắc chiêm, Ngưu ai minh chiêm, Kê bi minh chiêm, Khô chi truỵ địa chiêm…quyển 1
Lý thuyết Thể – DụngTâm dịch chiêm bốc huyền cơ, Thể dụng tổng quyết, mười tám mục chiêm theo việc (thời tiết, nhân sự, gia trạch, hôn nhân, sinh sản, cầu tài, xuất hành, tật bệnh, quan tụng, phần mộ…)quyển 2
Tam Yếu Linh Ứngthiên có lời tựa riêng và dòng truyền riêngquyển 2
Thập ứngThập ứng áo luận, mười cái "ứng" (thời tiết, địa lý, nhân sự, động vật, ngôn ngữ, âm thanh, ngũ sắc, chữ viết…)tuỳ bản, quyển 2–3
Phú, ca quan vậtQuan vật động huyền ca, Vạn vật phú, các bài ca ứng nghiệmtuỳ bản, quyển 3–4
Đồ và bài ca thứ tự quẻBát quái phương vị đồ, ca thứ tự 64 quẻđồ ở quyển 3, ca thứ tự ở quyển 5

Bản số hoá trên Wikisource tiếng Hán theo một bản hiện đại, xếp thành ba thiên: "Tượng số dịch lý", "Thể dụng sinh khắc", "Đoán chiêm tổng quyết". Nội dung gần như đủ các mục trên, chỉ khác cách chia. Khi đọc bản dịch tiếng Việt, nên biết bản dịch theo cách chia nào để khỏi tưởng thiếu quyển.

Lớp một: lõi phép số

Phần lập quẻ là phần nhất quán nhất. Nó dùng số tiên thiên (Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8), lấy tổng chia 8 ra quẻ, chia 6 ra hào động. Số tiên thiên đúng là thứ tự gắn với học phái Thiệu Ung. Đây là lý do nhiều người tin sách có gốc từ ông: phần nguyên liệu có thật là của học phái ấy.

Nhưng phép biến số tiên thiên thành phép đoán việc, cùng bộ máy Thể – Dụng, không xuất hiện trong bất cứ tác phẩm nào được xác nhận của Thiệu Ung. Cách tính chi tiết ở bài lập quẻ Mai Hoa theo thời gian, cách đọc ở bài Thể và Dụng.

Lớp hai: truyện kể về "tiên sinh"

Các lệ chiêm nổi tiếng nhất được kể ở ngôi thứ ba: tiên sinh thấy hai con sẻ tranh cành mai, tiên sinh bảo con trai đoán, người hàng xóm gõ cửa mượn đồ. Có hai chi tiết cho thấy người viết không phải Thiệu Ung:

  • Chữ "Khang Tiết". Đây là thuỵ hiệu, tức tên triều đình đặt sau khi ông mất (ông mất năm 1077, thuỵ được ban vào niên hiệu Nguyên Hựu, sau năm 1086). Không ai tự gọi mình bằng thuỵ hiệu.
  • Giọng thuật chuyện. "Tiên sinh sai con chiêm" là giọng của người kể về thầy, không phải giọng người tự ghi chép.

Như vậy, ít nhất phần truyện kể là do học trò hoặc người đời sau soạn. Truyện có thể dựa trên lời truyền về Thiệu Ung, nhưng văn bản thì không của ông. Bài Quan Mai Chiêm mổ xẻ riêng câu chuyện cành mai.

Lớp ba: Tam Yếu Linh Ứng và lời tựa năm không có thật

Thiên Tam Yếu Linh Ứng ở quyển 2 là phần dạy "tâm dịch": lấy tai, mắt, lòng làm ba cửa (tam yếu) để bắt điềm ứng. Thiên này có lời tựa riêng, ký tên Thanh Linh Tử Chu Hư, ghi ngày "Bảo Khánh tứ niên trọng hạ ký vọng", tức ngày 16 tháng giữa hè năm Bảo Khánh thứ tư.

Vấn đề: niên hiệu Bảo Khánh của Tống Lý Tông chỉ kéo dài ba năm, 1225 đến 1227; đầu năm 1228 đã đổi sang Thiệu Định. Không có "năm Bảo Khánh thứ tư" vào mùa hè. Lời tựa lại kể dòng truyền phép, trong đó đặt Lưu Bá Ôn, người đời Nguyên – Minh, cạnh những nhân vật đời Tống. Một nhà phê bình trên mạng tiếng Trung đã gom những điểm này lại; chúng tôi kiểm lại phần niên hiệu và thấy đúng.

Kết luận thận trọng: thiên này được thêm vào sớm nhất từ đời Minh, bởi người muốn gắn nó với một dòng truyền đời Tống mà không rành niên hiệu. Đây là chứng cứ rõ nhất cho tiêu đề bài: có phần rõ ràng là được thêm sau.

Lớp bốn: những thứ mượn từ Chu Hy và đồ muộn

  • Bài ca thứ tự 64 quẻ và một số bài ca tượng quẻ trùng với các bài ca trong Chu Dịch Bản Nghĩa của Chu Hy (1130–1200), người sinh sau Thiệu Ung nửa thế kỷ. Sách đề tên Thiệu Ung mà chép bài học thuộc lòng của Chu Hy thì phần ấy phải soạn sau Chu Hy (bài Chu Dịch Bản Nghĩa).
  • Đồ thái cực hình hai con cá ở phần đồ bát quái phương vị. Hình âm dương xoắn dạng hai con cá như ta quen thấy được ghi nhận sớm nhất vào đầu đời Minh; đời Bắc Tống chưa có dạng ấy. Đồ trong sách vì vậy là đồ được vẽ thêm khi in.

Hai chi tiết này không nói gì về giá trị của phép đoán. Chúng chỉ định niên đại cho từng lớp văn bản.

Bảng tóm: lớp nào, đáng tin tới đâu

LớpNội dungDấu niên đạiGhi nhận
Nguyên liệusố tiên thiên, thứ tự quẻ tiên thiênhọc phái Thiệu Ung, Bắc Tốngcó gốc thật
Phép lập quẻ, Thể – Dụnglấy số chia 8, chia 6; sinh khắc Thể – Dụngkhông thấy trước Minhphép của người đời sau, mượn nguyên liệu Thiệu học
Truyện "Khang Tiết tiên sinh"Quan mai, Mẫu đơn, mượn rìu…dùng thuỵ hiệu, ngôi thứ bado người khác kể
Tam Yếu Linh Ứngtâm dịch, ba cửatựa ghi năm Bảo Khánh thứ tư không có thật; dòng truyền có Lưu Bá Ônthêm sau, sớm nhất đời Minh
Ca, đồca thứ tự quẻ, đồ thái cựctrùng Chu Hy; dạng đồ đầu Minhthêm khi biên tập, in ấn

Sách cổ nói gì

Cực số tri lai chi vị chiêm.

Dịch: Dò cho tận cùng con số để biết việc sắp tới, gọi là chiêm. — Chu Dịch, Hệ Từ thượng

Bình: đây là câu mà Mai Hoa Dịch Số, cũng như mọi phép "số" trong Dịch, dựa vào để tự biện minh: lấy số của năm, tháng, ngày, giờ, của tiếng gõ cửa, của nét chữ mà lập quẻ. Câu Hệ Từ có thật và cổ hơn Mai Hoa cả nghìn năm; nhưng Hệ Từ không dạy cách lấy số nào, chia cho mấy. Phần cách làm ấy là của người soạn Mai Hoa.

Về Thiệu Ung, Tống Sử (Đạo học truyện), đại ý, chép rằng ông học Dịch rất sâu, phần lớn là tự ngộ, và người đương thời truyền rằng ông biết trước nhiều việc. Bình: sử ghi ông có tiếng biết trước, nên việc người đời sau gắn một phép đoán vào tên ông là dễ hiểu. Nhưng "có tiếng biết trước" khác với "viết sách Mai Hoa", và chính sử không nói câu sau.

Đọc cho đúng mức

  • Chúng tôi chưa đối chiếu được một bản khắc năm quyển cụ thể từ đầu đến cuối; vị trí quyển của một số mục ghi "tuỳ bản".
  • Lập luận về niên đại các lớp là lập luận văn bản học. Nó không bác bỏ khả năng một phần lời truyền miệng có gốc sớm hơn; nó chỉ nói văn bản ta có không thể là bản tay Thiệu Ung.
  • Các lệ chiêm trong sách đều là ca đã biết kết quả. Chúng là bài mẫu để học cách nghĩ, không phải bằng chứng phép đoán đúng.
  • Mai Hoa và Lục Hào là hai phép khác nhau về cơ chế; đừng dùng câu trong sách này để luận quẻ Lục Hào (bài Mai Hoa và Lục Hào).

Việc nên làm

  • Đọc quyển 1 trước: phần nền Dịch số và phép lập quẻ, rồi ba lệ chiêm đầu.
  • Đọc thiên Thể dụng tổng quyết trước khi đọc Tam Yếu Linh Ứng và Thập ứng; hai phần sau dễ cuốn người học vào lối bắt điềm tuỳ tiện.
  • Khi gặp một câu "Thiệu Khang Tiết nói", hỏi câu ấy ở lớp nào trong bảng trên.
  • Tự lập lại quẻ của một lệ chiêm bằng tay, rồi so với công cụ gieo quẻ Mai Hoa ở cuối bài.
🌸Mai Hoa Dịch Số
Lập quẻ theo thời điểm hoặc theo số, thể – dụng, hỗ quái, biến quái.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Mai Hoa Dịch Số (đề Thiệu Ung soạn) — các mục chiêm pháp, lệ chiêm, Thể dụng tổng quyết, Tam Yếu Linh Ứng thiên và lời tựa, Thập ứng áo luận (dẫn đại ý); mục lục đối chiếu bản số hoá Wikisource tiếng Hán.
  • Chu Hy — Chu Dịch Bản Nghĩa, các bài ca đặt đầu sách (đại ý, đối chiếu sự trùng lặp).
  • Tống Sử — Đạo học truyện, truyện Thiệu Ung (đại ý).
  • Chu Dịch — Hệ Từ thượng, câu "cực số tri lai chi vị chiêm" (nguyên văn).
  • Niên hiệu Bảo Khánh (1225–1227) và Thiệu Định (từ 1228) đời Tống Lý Tông: tra theo niên biểu chuẩn.

Câu hỏi thường gặp

Sách Mai Hoa Dịch Số có mấy quyển?

Bản cổ phổ biến chia năm quyển. Nhiều bản hiện đại, trong đó có bản số hoá trên Wikisource tiếng Hán, gộp nội dung thành ba thiên lớn; nội dung gần như như nhau.

Mai Hoa Dịch Số có phải do Thiệu Ung viết không?

Văn bản hiện có không thể là bản tay ông: sách dùng thuỵ hiệu đặt sau khi ông mất, có thiên ghi năm Bảo Khánh thứ tư không tồn tại, có bài ca trùng sách của Chu Hy. Phần nguyên liệu số tiên thiên thì có gốc từ học phái của ông.

Phần nào trong sách được thêm vào sau?

Rõ nhất là thiên Tam Yếu Linh Ứng với lời tựa ghi năm không có thật, các bài ca thứ tự quẻ trùng Chu Dịch Bản Nghĩa và đồ thái cực hình hai con cá.

Người mới nên đọc phần nào trước?

Quyển 1 gồm nền Dịch số, phép lập quẻ theo thời gian và theo số, rồi tới thiên Thể dụng tổng quyết ở quyển 2.

Các truyện như Quan mai chiêm có thật không?

Đó là truyện kể ở ngôi thứ ba về "Khang Tiết tiên sinh", không có văn bản đời Tống nào ghi lại trước. Nên đọc như bài mẫu để học cách đoán.

Nguồn tham khảo: Mai Hoa Dịch Số — đề Thiệu Ung soạn — phần chiêm pháp, ngoạn pháp, các lệ chiêm; Tam Yếu Linh Ứng thiên và lời tựa; Thập ứng áo luận; Quan vật động huyền ca · Bản số hoá Mai Hoa Dịch Số trên Wikisource tiếng Hán — mục lục · Chu Hy — Chu Dịch Bản Nghĩa · Tống Sử — Đạo học truyện, truyện Thiệu Ung · Chu Dịch — Hệ Từ thượng

Hiệp Kỷ Biện Phương Thư: sách chọn ngày triều Thanh soạn ra để bác những phép saiHiệp Kỷ Biện Phương Thư, sách chọn ngày triều Thanh soạn năm 1739: tên sách nghĩa gì, chữ biện bác cái gì, thứ bậc thần sát và cá…
Lục Nhâm Đại Toàn và các sách Lục Nhâm: bản đồ cho người học sâu, từ thức bàn đời Hán tới Đại Lục Nhâm Chỉ NamLục Nhâm Đại Toàn đời Minh và các sách Đại Lục Nhâm: Thần Định Kinh, Tất Pháp Phú, Chỉ Nam; mỗi cuốn dùng vào việc gì, đọc thứ tự…
Thẩm Thị Huyền Không Học: cấu trúc sáu quyển, phần nên đọc trước và phần để sauThẩm Thị Huyền Không Học của Thẩm Trúc Nhưng: bản bốn quyển và bản tăng quảng sáu quyển, quyển nào là lý thuyết, quyển nào là chú…
Đọc sách huyền học cổ: chữ Hán chép sai, bản in lậu, bản dịch lệch và cách tự đối chiếuĐọc sách huyền học cổ thế nào cho khỏi bị dẫn sai: bốn lớp lệch giữa câu gốc và câu bạn đọc, dấu hiệu bản in lậu, và năm bước đối…
Kỳ Môn Độn Giáp Bí Cấp Toàn Thư và các sách Kỳ Môn: cuốn nào cổ, cuốn nào gán tên, đọc gì cho đáng tinKỳ Môn Độn Giáp Bí Cấp Toàn Thư đề tên Lưu Bá Ôn đáng tin tới đâu, so với Phù Ứng Kinh đời Tống, Yên Ba Điếu Tẩu Ca, Thống Tông, …
Hà Lạc Lý Số: lập quẻ mệnh từ bát tự bằng số Hà Đồ và Lạc ThưHà Lạc Lý Số đổi tám chữ năm tháng ngày giờ thành số Hà Đồ, Lạc Thư rồi lập quẻ mệnh; cách tính từng bước có ví dụ, chỗ các bản l…