Địa Lý Ngũ Quyết của Triệu Cửu Phong: năm quyết long, huyệt, sa, thủy, hướng và đường nối giữa hình thế với lý khí

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc

Địa Lý Ngũ Quyết của Triệu Cửu Phong: năm quyết long, huyệt, sa, thủy, hướng và đường nối giữa hình thế với lý khí

Địa Lý Ngũ Quyết là sách phong thủy đời Thanh đề tên Triệu Cửu Phong, gom phép xem đất thành năm "quyết" theo thứ tự làm việc: tìm long, điểm huyệt, xét sa, xem thủy, lập hướng. Sách thuộc phái Tam Hợp. Chỗ đáng học nhất là cách nó nối hình thế với lý khí qua một điểm đo duy nhất: chỗ nước ra.

Người viết và niên đại: biết ít hơn người ta tưởng

Bản in thường đề tác giả là Triệu Cửu Phong; tên ông là Triệu Ngọc Tài, Cửu Phong là tên tự. Ngoài hai cuốn sách mang tên ông là Địa Lý Ngũ Quyết và Dương Trạch Tam Yếu, tiểu sử ông gần như trống. Các bản in và thư mục hiện đại xếp sách vào khoảng đời Càn Long, thế kỷ XVIII. Chúng tôi chưa đối chiếu được một lời tựa có ghi năm cụ thể nên không ghi năm.

Điều rõ hơn là thời điểm của sách so với cuộc tranh luận lớn của phong thủy đời Thanh. Năm 1647, Tưởng Đại Hồng in Địa Lý Biện Chính, công kích lối dùng vòng trường sinh của phái Tam Hợp là phép giả. Ngũ Quyết ra đời sau đó hơn một thế kỷ mà vẫn dạy Tam Hợp trọn vẹn. Nghĩa là lời công kích của Tưởng không xoá được Tam Hợp; hai dòng sống song song, và Ngũ Quyết là sách giáo khoa cho bên bị công kích. Bài Tam Nguyên và Tam Hợp kể phía bên kia.

Sách thường được in thành tám quyển, có nhiều hình vẽ. Lời văn dễ, câu ngắn, ít điển cố. Đó là lý do nó thành sách nhập môn phổ biến ở Đài Loan, Hồng Kông và trong các tài liệu phong thủy tiếng Việt viết theo lối Tam Hợp.

Năm quyết, đọc như một quy trình

Năm chữ long, huyệt, sa, thủy, hướng không phải của Triệu Cửu Phong. Táng Thư đã bàn khí đi theo mạch đất, Hám Long Kinh đã bàn hình núi, các sách đời Tống đã bàn nước. Cái mới của Ngũ Quyết là thứ tự: mỗi quyết là một bước làm việc, bước sau dựa trên kết quả bước trước. Nội dung từng yếu tố có bài riêng ở long, huyệt, sa, thủy, hướng; ở đây chỉ xem sách xử lý chúng thế nào.

QuyếtCâu hỏi của bước nàySách dựa vào gìThuộc loại
LongMạch núi có thật, có sống không?Hình núi theo cửu tinh, chỗ mạch thắt lại rồi nở rahình thế
HuyệtKết ở điểm nào trên mạch?Bốn dạng oa, kiềm, nhũ, độthình thế
SaNúi đồi quanh huyệt tốt hay xấu?Hình dáng, rồi phương vị trên vòng trường sinhhình thế + lý khí
ThủyNước đến từ đâu, ra ở đâu?Thủy khẩu định cục, vòng trường sinh của cụclý khí
HướngĐặt mộ, đặt nhà quay về đâu?Phối hướng với cục nướclý khí

Đọc bảng theo chiều dọc sẽ thấy sách đi từ mắt sang la kinh. Hai quyết đầu làm bằng đôi chân và con mắt; hai quyết cuối làm bằng la kinh; quyết sa đứng giữa, dùng cả hai.

Long và huyệt: phần Ngũ Quyết mượn của Dương Quân Tùng

Quyết long dùng bộ chín sao để gọi hình núi: Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân, Tả Phù, Hữu Bật. Bộ tên này đi ra từ Hám Long Kinh, sách gắn tên Dương Quân Tùng đời Đường (bài Hám Long Kinh). Ngũ Quyết không đổi lý thuyết, mà rút gọn thành các hình vẽ dễ nhận: núi nhọn, núi tròn, núi vuông, núi rũ.

Quyết huyệt xếp các kiểu kết huyệt về bốn dạng quen thuộc: oa (lõm như tổ), kiềm (kẹp như càng), nhũ (nhô như vú), đột (u lên như bọc). Phần này cũng không mới; giá trị của sách là gom các dạng phụ về bốn nhóm để người học có khung.

Có một điều nên nói thẳng: hai quyết đầu là phần khó học trên sách nhất. Hình vẽ của Ngũ Quyết là sơ đồ lý tưởng; núi thật không giống sơ đồ. Các thầy Tam Hợp vẫn dạy phần này bằng cách dắt học trò đi núi, và đó là chỗ một cuốn sách in không thay được.

Sa, thủy, hướng: một vòng trường sinh dùng cho ba quyết

Đây là phần đáng đọc kỹ nhất, và là chỗ ít người để ý khi lướt mục lục.

Ba quyết cuối nghe như ba lý thuyết, nhưng trong Ngũ Quyết chúng chạy trên cùng một bánh xe. Bước đầu tiên của quyết thủy là đứng ở minh đường đo chỗ nước ra. Nước ra ở Ất Thìn thì cả cuộc đất là Thủy cục; ở Đinh Mùi là Mộc cục; ở Tân Tuất là Hỏa cục; ở Quý Sửu là Kim cục (bài tứ đại thủy khẩu). Có cục rồi, sách khởi vòng mười hai trường sinh của cục ấy lên hai mươi bốn sơn, theo từng cặp song sơn.

Lấy Thủy cục làm ví dụ. Vòng trường sinh của hành Thủy khởi ở Thân, nên trải lên la kinh như sau:

Vị trường sinhCặp sơnVị trường sinhCặp sơn
Trường SinhKhôn ThânBệnhCấn Dần
Mộc DụcCanh DậuTửGiáp Mão
Quan ĐớiTân TuấtMộẤt Thìn
Lâm QuanCàn HợiTuyệtTốn Tỵ
Đế VượngNhâm TýThaiBính Ngọ
SuyQuý SửuDưỡngĐinh Mùi

Kiểm lại: vị Mộ rơi đúng vào Ất Thìn, chỗ nước ra. Vòng khép kín, và đây không phải trùng hợp, vì cục được định từ chính chỗ Mộ ấy.

Từ một bánh xe này, Ngũ Quyết đọc cả ba thứ:

  • Sa: núi đồi ở các phương Sinh, Lâm Quan, Đế Vượng nên cao, đầy đặn; ở các phương Bệnh, Tử, Tuyệt nên thấp hoặc vắng. Các bản giảng gọi là "tiêu sa", tức đem sa ra đối chiếu với vòng mà khen chê.
  • Thủy: nước nên đến từ phương Sinh, Vượng, đi qua minh đường, rồi ra ở Mộ. Nước đến từ phương Tử, Tuyệt bị chê; nước ra ở Đế Vượng là phá vượng.
  • Hướng: chọn hướng sao cho nước đến, nước đi khớp với vòng. Các bản giảng gọi tên những hướng đúng phép là chính sinh, chính vượng, chính mộ, cùng các hướng biến cách như tự sinh, tự vượng, mượn kho. Tên và số hướng biến cách khác nhau giữa các bản; chúng tôi không liệt kê để khỏi chép một bản làm chuẩn.

Hệ quả thực tế: một sai số ở chỗ đo thủy khẩu kéo theo sai cả ba quyết. Đo lệch một cặp sơn, từ Ất Thìn sang Tốn Tỵ, là bánh xe xoay đi, phương nào cũng đổi tên. Người học Ngũ Quyết thường mất nhiều công cho quyết hướng mà quên rằng gốc của nó nằm ở một phép đo ngoài thực địa.

Phần Ngũ Quyết không làm

Đọc một cuốn sách cũng cần biết sách không bàn gì.

  • Không có thời gian. Ngũ Quyết xét đất theo không gian: núi, nước, hướng. Nó không có khái niệm vận như Huyền Không, nơi cùng một ngôi nhà đổi tốt xấu theo từng hai mươi năm. Thầy Tam Hợp muốn xét thời thì phải ghép thêm phép chọn ngày.
  • Không phải sách nhà phố. Toàn bộ khung được dựng cho đất có núi, có sông, phần lớn là âm phần. Áp lên nhà phố phải mượn đường xe làm "nước", tòa nhà làm "sa"; cách mượn ấy là của người đời sau, độ tin kém hẳn.
  • Không bàn kỹ dương trạch trong nhà. Phần cửa, phòng chính, bếp nằm ở Dương Trạch Tam Yếu, cuốn thứ hai mang tên ông, theo lối Bát Trạch (bài Dương Trạch Tam Yếu). Hai cuốn dùng hai hệ khác nhau; không nên trộn.

Sách cổ nói gì

Câu tóm gọn năm quyết hay được các bản giảng Tam Hợp dẫn, đại ý: long phải thật, huyệt phải đúng, sa phải đẹp, thủy phải ôm, hướng phải tốt. Chúng tôi chưa xác định được câu này nằm ở thiên nào của Ngũ Quyết hay là lời tóm của người đời sau, nên chỉ ghi đại ý.

Về thủy, đại ý quyết thủy: người xem đất đứng ở minh đường, lấy la kinh định chỗ nước ra, biết cục rồi mới khởi trường sinh trên cục ấy để xét nước đến và định hướng.

Ở phía bên kia, Địa Lý Biện Chính của Tưởng Đại Hồng, đại ý, cho rằng đem vòng trường sinh của lịch pháp ra đặt lên sông núi là lối thầy tục đặt ra, không phải phép của Dương Quân Tùng.

Bình: hai câu đặt cạnh nhau cho thấy chỗ tranh luận không nằm ở long, huyệt, mà ở cây cầu nối hình thế với la kinh. Mọi phái đều đồng ý núi phải có mạch, nước phải quanh co. Họ chỉ bất đồng ở câu hỏi: con số trên la kinh có nói thêm được gì về cái mắt đã thấy hay không.

Đọc cho đúng mức

  • Tiểu sử Triệu Cửu Phong và năm in đầu tiên chưa rõ. Các khẳng định kiểu "sách viết năm…" trên mạng cần được hỏi lại nguồn.
  • Ngũ Quyết là sách của một phái. Thầy Huyền Không không định cục bằng thủy khẩu và có thể đánh giá ngược hoàn toàn cùng một cuộc đất.
  • Phần hình thế của sách mô tả kinh nghiệm quan sát địa hình có giá trị thật: chỗ kín gió, chỗ có nước, chỗ đất không sụt. Phần lý khí là hệ quy ước; nó nhất quán bên trong nhưng không có cách đo kết quả độc lập.
  • Không có nghiên cứu nào cho thấy mộ hay nhà đặt "đúng hướng Tam Hợp" đem lại kết quả khác cho con cháu. Giá trị của sách là văn hóa, lịch sử tư tưởng và nghề quan sát đất.

Việc nên làm

  • Đọc Ngũ Quyết theo đúng thứ tự năm quyết, nhưng dành nhiều thời gian nhất cho quyết thủy: hiểu chỗ đo, cách định cục, cách vòng trường sinh trải lên hai mươi bốn sơn.
  • Tự tay vẽ bốn vòng cho bốn cục trên một tờ giấy tròn, kiểm vị Mộ có rơi đúng thủy khẩu không. Làm một lần là thấy cả hệ khép ra sao.
  • Đọc kèm một sách của phía Tam Nguyên, chẳng hạn Thẩm Thị Huyền Không Học, để biết điều mình đang học là một trong hai lối.
  • Với nhà phố, căn hộ, đừng ép khung Ngũ Quyết. Những điều thực dụng như ánh sáng, gió, thoát nước, lối đi vẫn đáng xét hơn.

Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?

Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.

Xem lịch các thầy

Nguồn tham khảo

  • Triệu Cửu Phong (Triệu Ngọc Tài) — Địa Lý Ngũ Quyết, đời Thanh; các quyết long, huyệt, sa, thủy, hướng (dẫn đại ý).
  • Hám Long Kinh — gắn tên Dương Quân Tùng; bộ chín sao gọi hình núi (đại ý).
  • Tưởng Đại Hồng — Địa Lý Biện Chính (1647); lời phê vòng trường sinh của Tam Hợp (đại ý).
  • Triệu Cửu Phong — Dương Trạch Tam Yếu (đối chiếu phạm vi hai sách).
  • Bảng trường sinh Thủy cục trên hai mươi bốn sơn: dựng theo quy tắc song sơn và tam hợp, kiểm tay vị Mộ trùng thủy khẩu Ất Thìn.

Câu hỏi thường gặp

Địa Lý Ngũ Quyết là sách của phái nào?

Phái Tam Hợp. Sách định cục bằng chỗ nước ra, rồi dùng vòng mười hai trường sinh của cục để đọc sa, thủy và lập hướng.

Năm quyết trong sách gồm những gì?

Long, huyệt, sa, thủy, hướng, xếp theo thứ tự làm việc: tìm mạch núi, điểm huyệt, xét núi đồi quanh huyệt, xem nước đến và đi, rồi chọn hướng đặt mộ hay nhà.

Triệu Cửu Phong sống thời nào?

Các bản in và thư mục xếp ông vào đời Thanh, khoảng thế kỷ XVIII. Tiểu sử chi tiết gần như không còn; ngoài tên tự, người ta chủ yếu biết ông qua hai cuốn sách mang tên ông.

Ngũ Quyết và Dương Trạch Tam Yếu có dùng chung một phép không?

Không. Ngũ Quyết đọc sông núi theo Tam Hợp; Dương Trạch Tam Yếu xét cửa, phòng chính, bếp theo lối Bát Trạch. Hai cuốn cùng đề tên một người nhưng dùng hai hệ khác nhau.

Có nên áp Ngũ Quyết cho căn hộ chung cư không?

Khung của sách được dựng cho đất có núi sông thật. Đem đường xe làm nước, tòa nhà làm sa là cách mượn của người đời sau, độ tin thấp hơn nhiều.

Nguồn tham khảo: Địa Lý Ngũ Quyết — Triệu Cửu Phong (Triệu Ngọc Tài), đời Thanh — các quyết long, huyệt, sa, thủy, hướng · Hám Long Kinh — gắn tên Dương Quân Tùng · Địa Lý Biện Chính — Tưởng Đại Hồng (1647) · Dương Trạch Tam Yếu — gắn tên Triệu Cửu Phong

Thần Phong Thông Khảo của Trương Nam: thuyết bệnh – dược trong Bát TựThần Phong Thông Khảo của Trương Nam đời Minh: thuyết bệnh dược trong Bát Tự, câu có bệnh mới là quý, cách tìm bệnh và thuốc, so …
Tam Mệnh Thông Hội của Vạn Dân Anh: bách khoa mệnh học đời Minh và chương nạp âm đọc theo vòng đời của khíTam Mệnh Thông Hội của Vạn Dân Anh: mười hai quyển bách khoa mệnh học đời Minh, quyển nào bàn gì, lời Tứ Khố, và chương nạp âm gi…
Hà Lạc Lý Số: lập quẻ mệnh từ bát tự bằng số Hà Đồ và Lạc ThưHà Lạc Lý Số đổi tám chữ năm tháng ngày giờ thành số Hà Đồ, Lạc Thư rồi lập quẻ mệnh; cách tính từng bước có ví dụ, chỗ các bản l…
Đọc sách huyền học cổ: chữ Hán chép sai, bản in lậu, bản dịch lệch và cách tự đối chiếuĐọc sách huyền học cổ thế nào cho khỏi bị dẫn sai: bốn lớp lệch giữa câu gốc và câu bạn đọc, dấu hiệu bản in lậu, và năm bước đối…
Sách Mai Hoa Dịch Số: văn bản năm quyển, các lớp chữ và phần nào là thêm sauSách Mai Hoa Dịch Số đề tên Thiệu Ung: năm quyển gồm những gì, các lớp văn bản, dấu vết thêm sau như tựa năm Bảo Khánh thứ tư, bà…
Sách tử vi tiếng Việt nên đọc theo thứ tự nào: bốn tầng sách và lý do của từng cuốnSách tử vi nên đọc theo thứ tự nào: Tân Biên của Thái Thứ Lang, Toàn Thư bản dịch, Tử Vi Nghiệm Lý, Tử Vi Hàm Số; mỗi cuốn mạnh g…