Lịch các triều đại Việt: Hiệp Kỷ đời Trần, Thuận Thiên nhà Hồ, Vạn Toàn đời Lê và chuyện tự làm lịch
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 12 phút đọc
Các triều đại Việt không chỉ chép lịch phương Bắc mà tự làm lịch và tự đặt tên: đời Trần đổi lịch Thụ Thời thành lịch Hiệp Kỷ (1339), nhà Hồ dùng lịch Thuận Thiên (1401), các đời Lê dùng lịch Vạn Toàn theo phép Đại Thống của nhà Minh, và năm 1812 Gia Long đổi Vạn Toàn thành Hiệp Kỷ. Khâm Thiên Giám nhà Nguyễn soạn lịch, vua ban ra mỗi năm vào mùng Một tháng Chạp.
Bài này đi theo các mốc mà chính sử còn ghi, dẫn nguyên văn ở chỗ đã đối chiếu được, và tách riêng những chỗ mà sử không nói rõ.
Ban lịch là việc của nhà vua
Trong quan niệm Đông Á cũ, "làm lịch, ban lịch" (trị lịch minh thời, ban chính sóc) là quyền của bậc đế vương: lịch định ngày tế lễ, ngày thu thuế, ngày cày cấy, nên ai ban lịch thì người ấy đứng đầu thiên hạ. Nước triều cống về danh nghĩa nhận lịch của thiên triều.
Đại Việt ở trong khung ấy nhưng giữ một khoảng riêng. Phép tính thì học từ phương Bắc, vì đó là nền thiên văn mạnh nhất vùng; còn lịch dùng trong nước thì do quan lịch người Việt tính, mang tên do vua Việt đặt. Đây là cách hiểu của nhiều nhà nghiên cứu về ý nghĩa chính trị của việc tự làm lịch; sử cũ chỉ chép sự việc, không chép lời bàn ấy.
Đời Trần: cha con họ Đặng và lịch Hiệp Kỷ
Năm 1301, Đặng Nhữ Lâm đi sứ nhà Nguyên. Theo nghiên cứu của Lê Thành Lân và Trần Ngọc Dũng, ông học được phép làm lịch mới của nhà Nguyên, tức lịch Thụ Thời do Quách Thủ Kính soạn, và đem về áp dụng; hai tác giả cho rằng muộn nhất từ năm 1306, lịch Đại Việt đã khớp với lịch Trung Hoa và chính xác hơn trước.
Con ông là Đặng Lộ nối nghề, làm quan Thái sử cục. Năm Kỷ Mão (1339), đời Trần Hiến Tông, Đặng Lộ xin đổi tên lịch: các lịch trước đều mang tên Thụ Thời giống lịch nhà Nguyên, nay xin gọi là Hiệp Kỷ. Vua y theo. Ông còn chế một nghi khí thiên văn gọi là Linh Lung Nghi, và sử khen rằng đem ra khảo nghiệm thiên tượng thì không gì không khớp.
Chỗ đáng để ý: sử chép việc đổi tên, không chép việc đổi phép tính. Lịch Hiệp Kỷ đời Trần nhiều khả năng vẫn tính theo phép Thụ Thời, chỉ thôi mang tên của triều khác. Đổi tên mà không đổi phép là một tuyên bố về chủ quyền hơn là một cải cách thiên văn.
Nhà Hồ: lịch Thuận Thiên
Năm Tân Tỵ (1401), năm đầu niên hiệu Thiệu Thành, Toàn thư chép một dòng ngắn: Hồ Hán Thương bỏ lịch Hiệp Kỷ của họ Trần, dùng lịch Thuận Thiên. Sử không nói lịch mới khác lịch cũ ở phép tính nào. Nhà Hồ đổi nhiều thứ để xoá dấu nhà Trần (tiền giấy, hộ tịch, tên lịch), nên việc này cũng có thể chủ yếu là đổi tên. Mấy năm sau quân Minh sang, nhà Hồ mất; những gì chúng tôi đọc được không chép lịch thời thuộc Minh dùng tên gì.
Đời Lê đến đầu Nguyễn: lịch Vạn Toàn và "hơn ba trăm năm chưa sửa"
Tên lịch dùng suốt các đời Lê là Vạn Toàn. Chúng tôi chưa tìm được chính văn chép năm đặt tên này. Điều chắc là nó tính theo phép Đại Thống của nhà Minh, nhờ một lời tâu rất rõ của Nguyễn Hữu Thận năm 1810 (nguyên văn ở mục "Sách cổ nói gì"): lịch Vạn Toàn của ta dùng phép Đại Thống nhà Minh, hơn ba trăm năm chưa sửa, càng lâu càng sai.
Ba trăm năm là khoảng thời gian rất dài cho một phép lịch. Phép Đại Thống vốn là phép Thụ Thời đời Nguyên được nhà Minh giữ lại gần như nguyên vẹn, nên sai số tích dần: giờ tiết khí, giờ sóc lệch khỏi trời, nhật thực dự báo không đúng. Trong khi đó nhà Thanh, từ năm 1645, đã chuyển sang lịch Thời Hiến dùng phép tính có tham khảo thiên văn phương Tây (một hệ quả là tiết khí dài ngắn khác nhau, xem bài bình khí và định khí). Suốt thế kỷ XVIII, lịch Việt và lịch Thanh vì thế tính theo hai phép khác nhau.
Năm 1812: Gia Long đổi Vạn Toàn thành Hiệp Kỷ
Nguyễn Hữu Thận đi sứ nhà Thanh, năm Gia Long thứ 9 (1810) về nước, dâng bộ Lịch Tượng Khảo Thành của nhà Thanh và xin giao cho Khâm Thiên Giám học phép mới. Hai năm sau, Đại Nam thực lục chép hai việc liền nhau trong năm Nhâm Thân, Gia Long thứ 11:
- Tháng Bảy, Trịnh Hoài Đức làm Thượng thư bộ Lễ, kiêm quản lý việc Khâm Thiên Giám.
- Mùng Một tháng Chạp (khoảng đầu tháng 1/1813 dương lịch), đổi lịch Vạn Toàn thành lịch Hiệp Kỷ.
Thế là gần năm trăm năm sau Đặng Lộ, cái tên Hiệp Kỷ trở lại. Sử không nói việc trùng tên là cố ý nhắc đời Trần hay chỉ vì chữ "hiệp kỷ" (hoà hợp các kỷ: năm, tháng, ngày, sao) là tên đẹp cho một bộ lịch. Phía nhà Thanh cũng có bộ sách chọn ngày tên Hiệp Kỷ Biện Phương Thư soạn đời Càn Long, nên chữ này vốn quen trong giới lịch pháp.
Truyện Nguyễn Hữu Thận trong Đại Nam liệt truyện kể tiếp: năm Gia Long 11 ông kiêm phó quản Khâm Thiên Giám; năm Gia Long 14 (1815) ông tính trước rằng năm Đinh Sửu sẽ có nhật thực vào tháng Tư và tháng Mười, vua dặn nếu đúng thì dời hai lễ hưởng mùa hạ, mùa đông sang ngày khác. Năm Gia Long 16 (1817) quả có nhật thực, và vua nói chức Khâm Thiên Giám chỉ có học thuật của Nguyễn Hữu Thận là đủ đảm đương. Dự báo nhật thực đúng là phép thử khắt khe nhất của một bộ lịch, và đó là lý do triều đình chịu đổi phép.
Khâm Thiên Giám và lễ ban lịch tháng Chạp
Dưới triều Nguyễn, Khâm Thiên Giám là cơ quan coi thiên văn, lịch số. Mỗi năm Giám soạn lịch Hiệp Kỷ cho năm sau, vua ban ra vào mùng Một tháng Chạp. Phan Kế Bính tả lại lễ ấy và lệ phát lịch (nguyên văn ở mục dưới): quan từ tứ phẩm trở lên nhận lịch đóng ấn Kim Bảo, từ ngũ phẩm trở xuống nhận lịch đóng ấn của Giám, còn dân mua lịch do Giám in. Thứ người dân cần nhất ở tờ lịch là tiết khí và tháng nào đủ, tháng nào thiếu, vì không tính tay được (xem bài tháng đủ, tháng thiếu).
Thực lục còn giữ vài chi tiết cho thấy tờ lịch được triều đình chăm chút ra sao:
| Năm | Việc | Nguồn |
|---|---|---|
| 1836 (Minh Mạng 17) | Ban bộ Vạn niên thư mới in cho các hoàng tử, đại thần, các tỉnh, mỗi nơi một bản. Vua bảo bộ Lễ: lịch ban hằng năm cốt để người ta biết tiết hậu, ngày giờ mà tránh dữ theo lành; ngày khánh tiết, ngày kỵ đã có sách in riêng, không cần chua lại trong lịch. Bộ Lễ định lại những gì lịch giữ, những gì bỏ. | Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 167 (đại ý) |
| 1842 (Thiệu Trị 2) | Ngũ quan chính Khâm Thiên Giám Phạm Văn Lân cùng giám lại soạn được lịch Thất Chính, ghi vị trí Mặt Trời, Mặt Trăng và năm hành tinh; vua cho in ban trong ngoài và sai mỗi năm soạn kèm lịch Hiệp Kỷ. | đệ tam kỷ, quyển 20 (đại ý) |
| 1883 (cuối năm Quý Mùi) | Lịch Hiệp Kỷ năm Giáp Thân (Kiến Phúc nguyên niên) theo lệ ban mùng Một tháng Chạp, năm ấy vì trùng đại lễ an táng nên dời sang ngày 25 tháng Chạp. | đệ ngũ kỷ, quyển 1 (đại ý) |
Chi tiết năm 1836 đáng đọc kỹ: chính nhà vua coi việc ban lịch là để dân biết tiết khí và chọn ngày, tức là chức năng thực dụng, không phải để ghi những ngày lễ của triều đình. Các ô "nên làm, kiêng làm" trên lịch bloc ngày nay là hậu duệ của tờ lịch ấy (xem bài đọc tờ lịch vạn sự), và Vạn niên thư là tổ tiên của các cuốn lịch vạn niên.
Bảng tóm tắt các mốc đã đối chiếu
| Năm | Triều | Việc | Nguồn chính |
|---|---|---|---|
| 1301 – 1306 | Trần | Đặng Nhữ Lâm đem phép lịch Thụ Thời nhà Nguyên về | Lê Thành Lân, Trần Ngọc Dũng (2011) |
| 1339 | Trần Hiến Tông | Đặng Lộ xin đổi tên Thụ Thời thành Hiệp Kỷ; chế Linh Lung Nghi | Toàn thư, Bản kỷ 7 |
| 1401 | Hồ Hán Thương | Bỏ lịch Hiệp Kỷ, dùng lịch Thuận Thiên | Toàn thư, Bản kỷ 8 |
| các đời Lê | Lê | Lịch Vạn Toàn, theo phép Đại Thống nhà Minh | lời tâu của Nguyễn Hữu Thận (1810) |
| 1810 | Gia Long 9 | Nguyễn Hữu Thận dâng Lịch Tượng Khảo Thành | Đại Nam liệt truyện, quyển 26 |
| 1812 | Gia Long 11 | Đổi lịch Vạn Toàn thành lịch Hiệp Kỷ | Đại Nam thực lục, đệ nhất kỷ 45 |
| 1842 | Thiệu Trị 2 | Soạn thêm lịch Thất Chính | Đại Nam thực lục, đệ tam kỷ 20 |
| từ 1968 | miền Bắc | Âm lịch tính theo giờ múi +7 (kinh tuyến 105°) | xem bài Tết Việt lệch Tết Trung Quốc |
Mốc cuối cùng đưa câu chuyện về hiện tại. Sau khi triều Nguyễn chấm dứt năm 1945, không còn Khâm Thiên Giám; lịch in trong nước một thời tính theo giờ Bắc Kinh (+8), đến 1968 miền Bắc chuyển sang giờ Hà Nội, nên Tết Mậu Thân năm ấy hai miền ăn Tết lệch nhau một ngày. Cơ chế và các năm lệch có ở bài Tết Việt lệch Tết Trung Quốc. Có thể nói lần tự làm lịch gần nhất của người Việt là lần đổi múi giờ ấy: cùng phép tính, khác kinh tuyến.
Sách cổ nói gì
Việc đổi tên lịch năm 1339:
己卯十一年春,改授時曆為協紀曆,時候儀郎太史局令鄧輅以前曆皆名授時,請改曰協紀,帝從之。輅常作玲瓏儀,考驗天象,罔不脗合。
Phiên âm: Kỷ Mão thập nhất niên xuân, cải Thụ Thời lịch vi Hiệp Kỷ lịch. Thời Hầu nghi lang Thái sử cục lệnh Đặng Lộ dĩ tiền lịch giai danh Thụ Thời, thỉnh cải viết Hiệp Kỷ, đế tòng chi. Lộ thường tác Linh Lung Nghi, khảo nghiệm thiên tượng, võng bất vẫn hợp.
Dịch: Mùa xuân năm Kỷ Mão (niên hiệu Khai Hựu) thứ 11, đổi lịch Thụ Thời làm lịch Hiệp Kỷ. Bấy giờ Hầu nghi lang, Thái sử cục lệnh Đặng Lộ cho rằng các lịch trước đều tên Thụ Thời, xin đổi gọi là Hiệp Kỷ; vua nghe theo. Lộ từng làm Linh Lung Nghi, khảo nghiệm thiên tượng, không gì không khớp. — Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 7
Lời tâu của Nguyễn Hữu Thận năm 1810:
我國萬全曆與大清辰憲書,從前皆用明大統曆法,三百餘年未有改定,愈久愈差。
Dịch: Lịch Vạn Toàn của nước ta và sách Thời Hiến của nhà Đại Thanh, trước đây đều dùng phép lịch Đại Thống của nhà Minh, hơn ba trăm năm chưa sửa định, càng lâu càng sai. — Đại Nam liệt truyện chính biên sơ tập, quyển 26
Bình: hai chữ nhỏ trong câu này kể thêm một chuyện. Chữ Thời trong "Thời Hiến" bị viết thành chữ Thần (辰), vì chữ Thời (時) là tên húy của vua Tự Đức, sách vở triều Nguyễn từ đó về sau đều phải kiêng. Còn chữ "thư" thay cho "lịch" là cách nhà Thanh đổi tên lịch Thời Hiến để tránh tên húy vua Càn Long (Hoằng Lịch). Một bộ lịch mang dấu kỵ húy của hai triều. Riêng về nội dung, lời tâu gộp hơi gọn: lịch Thời Hiến của nhà Thanh đã bỏ phép Đại Thống từ năm 1645, còn Vạn Toàn của ta mới thật sự giữ phép cũ hơn ba trăm năm.
Lệ ban lịch, theo Phan Kế Bính:
Sách lịch do tòa Khâm-thiên-giám soạn ra. Mỗi năm về ngày mồng một tháng chạp, Hoàng đế ngự điện khai trào, các quan tòa Khâm-thiên-giám cung tiến Hiệp-kỷ-lịch, rồi khâm mạng vua mà ban lịch đi các nơi.
— Việt Nam phong tục, phần III, mục "Xem ngày kén giờ"
Đọc cho đúng mức
- Đổi tên không đồng nghĩa đổi phép. Ba lần đổi lịch mà sử chép (1339, 1401, 1812) chỉ có lần 1812 là chắc có đổi phép tính, nhờ lời tâu của Nguyễn Hữu Thận. Hai lần kia sử chỉ ghi tên; viết rằng nhà Trần hay nhà Hồ "sáng chế lịch mới" là nói quá điều sử cho phép.
- Truyền thuyết và sử liệu. Trên mạng hay gặp những câu như "người Việt tự làm lịch từ thời Hùng Vương" hay "lịch Việt có từ thời Lý". Chúng tôi không tìm được chính sử nào chép tên lịch trước đời Trần; những câu ấy thuộc về truyền thuyết hoặc suy đoán.
- Lịch Việt cổ lệch lịch Trung Hoa ở những năm nào là việc của các công trình chuyên sâu như Lịch và Lịch Việt Nam của Hoàng Xuân Hãn và các nghiên cứu của Lê Thành Lân. Bài này không dựng lại bảng ấy; người cần tra ngày tháng của một sự kiện trước năm 1812 nên đối chiếu các công trình đó chứ không dùng thẳng âm lịch tính theo thuật toán hiện đại.
- Nguồn chữ Hán trong bài lấy từ bản số hoá trên Wikisource; các quyển Thực lục năm 1836 và 1883 trên đó còn được ghi chú là bản nhận dạng chữ chưa hiệu đính, nên ở những chỗ ấy chúng tôi chỉ dẫn đại ý.
Việc nên làm
- Khi đọc một ngày âm lịch trong gia phả, sắc phong hay văn bia trước năm 1813, ghi nhớ rằng nó được tính theo lịch Vạn Toàn, có thể lệch một ngày, thậm chí lệch tháng nhuận so với cách tính hiện nay.
- Muốn đổi một ngày như thế sang dương lịch, dùng công cụ đổi ngày để có con số gần đúng, rồi ghi chú "theo cách tính hiện đại" bên cạnh.
- Nếu gia đình còn giữ tờ lịch cũ của Khâm Thiên Giám hay một cuốn lịch Hiệp Kỷ, hãy giữ nguyên trạng và chụp ảnh cả hai mặt; đó là tư liệu hiếm cho người nghiên cứu lịch Việt.
- Gặp bài viết khẳng định một triều đại "phát minh" lịch, hỏi lại nguồn: sử chép đổi tên hay đổi phép.
Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?
Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.
Xem lịch các thầyNguồn tham khảo
- Đại Việt sử ký toàn thư — Bản kỷ quyển 7 (năm Kỷ Mão 1339, đổi lịch Thụ Thời làm Hiệp Kỷ) và quyển 8 (năm Tân Tỵ 1401, Hồ Hán Thương dùng lịch Thuận Thiên); nguyên văn theo bản số hoá trên Wikisource tiếng Trung.
- Đại Nam thực lục chính biên — đệ nhất kỷ quyển 45 (năm Nhâm Thân 1812); đệ nhị kỷ quyển 167 (năm Bính Thân 1836); đệ tam kỷ quyển 20 (năm Nhâm Dần 1842); đệ ngũ kỷ quyển 1 (cuối năm Quý Mùi 1883).
- Đại Nam liệt truyện chính biên sơ tập, quyển 26 — truyện Nguyễn Hữu Thận (nguyên văn lời tâu năm 1810).
- Phan Kế Bính — Việt Nam phong tục, phần III, mục XXXI "Xem ngày kén giờ".
- Lê Thành Lân, Trần Ngọc Dũng — "Hai cha con họ Đặng và lịch học Việt Nam xưa", tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (88), 2011.
- Hoàng Xuân Hãn — Lịch và Lịch Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
Lịch Hiệp Kỷ là lịch gì?
Là tên lịch chính thức của Đại Việt ở hai thời kỳ: đời Trần từ năm 1339 (đổi từ tên Thụ Thời) và triều Nguyễn từ năm 1812 (đổi từ tên Vạn Toàn). Lịch Hiệp Kỷ thời Nguyễn do Khâm Thiên Giám soạn mỗi năm.
Khâm Thiên Giám là cơ quan gì?
Là cơ quan coi thiên văn và lịch số của triều Nguyễn: quan sát trời, tính tiết khí, ngày sóc, nhật nguyệt thực, soạn lịch năm sau để vua ban ra vào mùng Một tháng Chạp. Cơ quan này chấm dứt cùng triều Nguyễn năm 1945.
Lịch Vạn Toàn khác lịch Hiệp Kỷ thời Nguyễn thế nào?
Vạn Toàn tính theo phép Đại Thống của nhà Minh, dùng hơn ba trăm năm không sửa nên sai dần. Hiệp Kỷ thời Nguyễn ra đời sau khi Nguyễn Hữu Thận đem về phép lịch mới của nhà Thanh, chính xác hơn, nhất là ở dự báo nhật thực.
Đặng Lộ là ai?
Là quan Thái sử cục đời Trần, con của Đặng Nhữ Lâm. Năm 1339 ông xin đổi tên lịch Thụ Thời thành Hiệp Kỷ và chế nghi khí thiên văn Linh Lung Nghi, được Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận.
Ngày âm lịch trong tư liệu cổ có đổi chính xác sang dương lịch được không?
Đổi được gần đúng bằng thuật toán hiện đại, nhưng trước năm 1813 lịch Việt tính theo phép cũ nên có thể lệch một ngày hoặc khác tháng nhuận. Việc cần độ chính xác cao nên đối chiếu các bảng của Hoàng Xuân Hãn, Lê Thành Lân.
Nguồn tham khảo: Đại Việt sử ký toàn thư — Bản kỷ quyển 7 (năm Kỷ Mão 1339) và quyển 8 (năm Tân Tỵ 1401) · Đại Nam thực lục chính biên — đệ nhất kỷ quyển 45 (1812); đệ nhị kỷ quyển 167 (1836); đệ tam kỷ quyển 20 (1842); đệ ngũ kỷ quyển 1 (1883) · Đại Nam liệt truyện chính biên sơ tập, quyển 26 — truyện Nguyễn Hữu Thận · Việt Nam phong tục — Phan Kế Bính, phần III, mục XXXI · Lê Thành Lân, Trần Ngọc Dũng — Hai cha con họ Đặng và lịch học Việt Nam xưa, tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, 2011 · Hoàng Xuân Hãn — Lịch và Lịch Việt Nam