Châm cứu ở Việt Nam: từ Tuệ Tĩnh, Nguyễn Đại Năng đến bệnh viện y học cổ truyền ngày nay
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 10 phút đọc
Châm cứu ở Việt Nam có dấu vết từ truyện cứu ngải trong Lĩnh Nam Chích Quái, thành sách riêng với Châm Cứu Tiệp Hiệu Diễn Ca mang tên Nguyễn Đại Năng (cuối Trần, đầu Hồ, theo truyền thống), rồi vào hệ thống y tế từ năm 1955. Ngày nay châm cứu là kỹ thuật y tế, chỉ người có giấy phép hành nghề được làm.
Kiến thức văn hoá, không thay cho khám chữa bệnh. Bài viết kể lịch sử một ngành. Châm cứu là thủ thuật y tế xâm lấn: không tự làm, không làm ở cơ sở không có giấy phép.
Bảng mốc, kèm độ chắc của nguồn
Lịch sử châm cứu Việt Nam thường được kể liền một mạch như thể mọi mốc đều chắc như nhau. Thực tế không phải vậy. Bảng dưới ghi thêm một cột: mốc ấy dựa trên loại nguồn nào.
| Thời | Mốc | Loại nguồn | Độ chắc |
|---|---|---|---|
| Thời dựng nước (truyền thuyết) | Thôi Vĩ dùng ngải cứu cho một ông lão | truyện dân gian chép đời Trần – Lê | truyền thuyết |
| Nhà Trần, thế kỷ 14 | Tuệ Tĩnh làm thuốc nam, dạy học trò | truyền thống, văn bản mang tên ông | niên đại còn tranh luận |
| Nhà Trần | Sử chép thầy thuốc Trâu Canh giỏi châm | Đại Việt Sử Ký Toàn Thư | sử liệu, chi tiết ít |
| Cuối Trần – Hồ | Nguyễn Đại Năng, Châm Cứu Tiệp Hiệu Diễn Ca | truyền thống, bản chép đời sau | tác giả và niên đại theo truyền thống |
| 1955 | Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh về kết hợp Đông Tây y | văn bản gốc | chắc |
| 1957 | Viện Nghiên cứu Đông y, tiền thân Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương | văn bản nhà nước | chắc |
| Nửa sau thế kỷ 20 | Điện châm, thuỷ châm, châm tê lan rộng; Viện Châm cứu do Nguyễn Tài Thu sáng lập | văn bản nhà nước, hồi ký, báo chí | chắc về sự kiện, năm cụ thể cần đối chiếu |
| 2023 | Luật Khám bệnh, chữa bệnh mới (hiệu lực 2024) | văn bản luật | chắc |
Đọc theo cột cuối, ta thấy phần cổ chủ yếu là truyền thống và truyền thuyết; phần có văn bản rõ ràng bắt đầu từ thế kỷ hai mươi. Điều đó không làm phần cổ kém giá trị, chỉ đòi hỏi kể cho đúng giọng.
Truyền thuyết: ngải cứu của Thôi Vĩ
Truyện Việt Tỉnh trong Lĩnh Nam Chích Quái, tập truyện dân gian được chép lại cuối đời Trần, kể chàng Thôi Vĩ được một bà lão cho ngải, dùng ngải ấy cứu cho một ông lão làm tiêu cái bướu; ông lão đền ơn, từ đó dẫn tới những chuyện kỳ lạ khác. Truyện có nhiều dị bản và nhân vật Thôi Vĩ vốn đã có trong truyện kể phương Bắc.
Giá trị của truyện không ở chỗ nó là sử liệu. Nó cho thấy phép cứu bằng ngải đã quen thuộc đến mức đi vào truyện kể của người Việt từ rất sớm. Cứu (đốt ngải gần da) và châm (dùng kim) trong y thư luôn đi cặp, nên tên ngành mới là "châm cứu".
Thời Trần – Hồ: Tuệ Tĩnh, Trâu Canh, Nguyễn Đại Năng
Tuệ Tĩnh nổi tiếng nhất với thuốc nam và câu "Nam dược trị Nam nhân"; về con người và cuộc tranh luận niên đại, xem bài Tuệ Tĩnh. Với châm cứu, Tuệ Tĩnh quan trọng ở vai trò người thầy: truyền thống coi ông là thầy của một lớp thầy thuốc, trong đó có Nguyễn Đại Năng. Câu dưỡng sinh mang tên ông, "bế tinh, dưỡng khí, tồn thần…", cho thấy tư tưởng khí và thần của Nội Kinh đã thấm vào y học Việt, nền lý luận chung của cả thuốc lẫn kim.
Trâu Canh là một tên hiếm hoi được sử chính thống chép gắn với nghề thầy thuốc giỏi châm dưới triều Trần. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhắc ông trong mấy sự kiện ở cung đình. Chi tiết về phép châm của ông thì sử không ghi, và một số chuyện kể quanh ông mang màu sắc dật sự, nên chỉ nên dẫn ở mức "sử có chép tên".
Nguyễn Đại Năng là người được truyền thống ghi là học trò Tuệ Tĩnh, làm thầy thuốc trong cung cuối Trần hoặc đời Hồ, và là tác giả Châm Cứu Tiệp Hiệu Diễn Ca. Ông là người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà tên tuổi gắn với một cuốn sách châm cứu riêng.
Châm Cứu Tiệp Hiệu Diễn Ca: một cuốn sách để thuộc lòng
Tên sách đã nói cách dùng. "Tiệp hiệu" là hiệu quả nhanh, gọn; "diễn ca" là diễn ra thành lời ca có vần. Theo các nhà nghiên cứu y sử, sách viết bằng chữ Nôm, thể thơ dễ nhớ, xếp theo chứng bệnh thường gặp và các huyệt hay dùng cho từng chứng.
Lối viết ấy nói nhiều điều về y học Việt thời đó:
- Viết cho người hành nghề ở làng, không phải cho học giả. Nội Kinh, Giáp Ất Kinh viết bằng Hán văn khó; một bài ca Nôm thì người biết chữ ít cũng thuộc được.
- Chọn lọc thay vì đầy đủ. Một bài ca không chứa nổi ba trăm sáu mươi huyệt. Tác giả phải chọn những huyệt mình thấy dùng được, đó là dấu vết của kinh nghiệm lâm sàng địa phương.
- Cùng tinh thần với thuốc nam. Tuệ Tĩnh đưa thuốc về cây cỏ tại chỗ; Nguyễn Đại Năng đưa châm cứu về tiếng nói tại chỗ.
Cần lưu ý: bản sách hiện còn là bản chép, khắc đời sau. Phần nào là chữ của Nguyễn Đại Năng, phần nào được người đời sau thêm, giới nghiên cứu chưa tách hết được. Đây là tình trạng chung của nhiều sách y cổ Việt Nam mang tên các danh y thời Trần.
Thời Lê – Nguyễn: kim của thầy và kinh nghiệm của làng
Dưới các triều Lê, Nguyễn, Thái y viện phục vụ cung đình; châm cứu ở dân gian do các thầy lang truyền nghề trong họ, trong làng. Song song với châm cứu theo kinh lạc, dân gian Việt có cả một lớp thủ thuật riêng: cạo gió, giác hơi, chích lể, đánh cảm. Chúng gần với châm cứu ở ý "tác động lên da để điều khí", nhưng không theo hệ huyệt của y thư, và không nên đánh đồng.
Một đặc điểm của thời kỳ này là sách thuốc nhiều hơn sách kim. Các danh y lớn như Hải Thượng Lãn Ông để lại bộ sách đồ sộ chủ yếu về lý luận và phương thuốc (xem Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh). Châm cứu sống bằng truyền nghề tay đôi nhiều hơn bằng văn bản.
Thế kỷ hai mươi: châm cứu vào bệnh viện
Mốc chuyển quan trọng là bức thư ngày 27 tháng 2 năm 1955 của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Hội nghị cán bộ y tế, nêu chủ trương nghiên cứu và phối hợp thuốc Đông, thuốc Tây (nguyên văn ở mục "Sách cổ nói gì"). Hai năm sau, năm 1957, Viện Nghiên cứu Đông y được thành lập, tiền thân của Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương.
Nửa sau thế kỷ hai mươi có ba hướng phát triển nổi bật:
- Điện châm và thuỷ châm. Kim nối với máy phát xung điện nhỏ, hoặc tiêm một lượng thuốc nhỏ vào huyệt. Đây là những kỹ thuật thế kỷ hai mươi, không có trong y thư cổ.
- Châm tê. Dùng châm để giảm đau trong một số ca mổ, phong trào cùng thời ở cả Trung Quốc và Việt Nam trong thập niên 1960 – 1970. Về sau, châm tê thu hẹp lại; phần lớn bệnh viện dùng gây mê, gây tê hiện đại.
- Đưa châm cứu xuống tuyến cơ sở. Trong điều kiện thiếu thuốc thời chiến và sau chiến tranh, châm cứu được dạy cho y sĩ tuyến xã, quân y.
Gắn với giai đoạn này là giáo sư Nguyễn Tài Thu, người phát triển các phương pháp "tân châm" và sáng lập Viện Châm cứu, tiền thân của Bệnh viện Châm cứu Trung ương ngày nay.
Hôm nay: một kỹ thuật y tế có luật
Ngày nay châm cứu ở Việt Nam nằm trong hệ thống y tế chính thức:
- Đào tạo: bác sĩ y học cổ truyền học ở các trường đại học y dược có khoa y học cổ truyền và ở Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam; y sĩ y học cổ truyền học ở các trường trung cấp, cao đẳng y.
- Hành nghề: theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15/2023/QH15 (hiệu lực từ năm 2024), người thực hiện kỹ thuật chuyên môn phải có giấy phép hành nghề, cơ sở phải có giấy phép hoạt động, và chỉ được làm kỹ thuật nằm trong phạm vi được phép.
- Bệnh viện: hầu hết tỉnh có bệnh viện y học cổ truyền; nhiều bệnh viện đa khoa có khoa y học cổ truyền với phòng châm cứu.
Mặt trái cũng cần nói: châm cứu và "bấm huyệt" ở các cơ sở không phép, tiệm làm đẹp, phòng trị liệu tự phát vẫn có. Rủi ro đã được ghi nhận trong y văn gồm nhiễm trùng do kim không vô trùng, tràn khí màng phổi do châm sâu vùng ngực lưng, gãy kim. Đây là lý do luật đòi giấy phép.
Sách cổ nói gì
Truyện Việt Tỉnh, Lĩnh Nam Chích Quái, đại ý: Thôi Vĩ được bà lão cho ngải, đem cứu cho một ông lão có bướu, bướu tiêu đi.
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, phần nhà Trần, có chép thầy thuốc Trâu Canh, người được biết tới vì tài châm; sử không ghi lại phép châm cụ thể.
Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc. Để mở rộng phạm vi y học, các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc "Đông" và thuốc "Tây".
— Hồ Chí Minh, Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế, 27/2/1955
Bình: ba đoạn ở ba tầng nguồn khác nhau: truyện kể, sử chép, văn bản chính sách. Đọc lịch sử châm cứu Việt Nam cho đúng là biết mình đang đứng ở tầng nào.
Đọc cho đúng mức
- Phần trước thế kỷ hai mươi dựa nhiều vào truyền thống. Năm sinh năm mất của Tuệ Tĩnh, niên đại và văn bản gốc của Châm Cứu Tiệp Hiệu Diễn Ca còn được tranh luận; bài này dùng chữ "theo truyền thống" ở những chỗ ấy.
- Không có "châm cứu Việt" tách hẳn khỏi châm cứu Trung Hoa. Nền lý luận kinh lạc là chung; cái riêng của Việt Nam nằm ở cách chọn lọc, cách truyền dạy bằng chữ Nôm, và các kỹ thuật thế kỷ hai mươi.
- Bằng chứng hiện đại cho châm cứu không đều giữa các chứng. Bằng chứng tốt nhất là ở một số chứng đau; nhiều chỉ định khác còn yếu. Xem kinh lạc dưới góc nhìn nghiên cứu hiện đại.
- Cạo gió, giác hơi, chích lể là tập quán dân gian, không thuộc hệ huyệt của y thư; không nên coi là "châm cứu tại nhà".
Việc nên làm
- Nếu muốn đi châm cứu, chọn bệnh viện hoặc phòng khám y học cổ truyền có giấy phép; hỏi người châm có chứng chỉ hành nghề không; kim phải dùng một lần, mở trước mặt bạn.
- Báo cho thầy thuốc nếu đang mang thai, dùng thuốc chống đông, có bệnh về máu, có thiết bị điện cấy trong người (với điện châm).
- Đi khám để có chẩn đoán trước. Châm cứu, nếu dùng, là một phần của kế hoạch điều trị do thầy thuốc lập, không thay cho chẩn đoán.
- Muốn tìm hiểu lịch sử, đọc các công trình y sử Việt Nam của các nhà nghiên cứu Hán Nôm và y học cổ truyền, đối chiếu nhiều nguồn trước khi tin một mốc năm.
Nguồn tham khảo
- Lĩnh Nam Chích Quái, Truyện Việt Tỉnh — chuyện Thôi Vĩ và ngải cứu (đại ý).
- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Bản kỷ nhà Trần — thầy thuốc Trâu Canh (đại ý).
- Nguyễn Đại Năng (theo truyền thống), Châm Cứu Tiệp Hiệu Diễn Ca — bản chép đời sau (đại ý qua các công trình y sử).
- Hồ Chí Minh, Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế, ngày 27/2/1955 (nguyên văn).
- Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15/2023/QH15.
- Các công trình y sử Việt Nam về Tuệ Tĩnh, Nguyễn Đại Năng và lịch sử y học cổ truyền.
Câu hỏi thường gặp
Châm cứu có ở Việt Nam từ bao giờ?
Không có mốc rõ ràng. Truyện kể dân gian đã nhắc phép cứu bằng ngải từ rất sớm; sách châm cứu riêng đầu tiên được truyền thống gắn với Nguyễn Đại Năng cuối đời Trần, đầu đời Hồ.
Nguyễn Đại Năng là ai?
Theo truyền thống, ông là học trò của Tuệ Tĩnh, làm thầy thuốc trong cung cuối Trần hoặc đời Hồ, tác giả Châm Cứu Tiệp Hiệu Diễn Ca. Văn bản hiện còn là bản chép đời sau.
Châm Cứu Tiệp Hiệu Diễn Ca viết bằng chữ gì?
Theo các nhà nghiên cứu, sách viết bằng chữ Nôm, theo thể ca có vần để dễ thuộc, xếp theo chứng bệnh thường gặp và các huyệt hay dùng.
Ai được phép châm cứu ở Việt Nam hiện nay?
Người có giấy phép hành nghề với phạm vi chuyên môn phù hợp, làm việc ở cơ sở có giấy phép hoạt động, theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023. Châm cứu ở cơ sở không phép là trái luật và có rủi ro.
Điện châm có phải châm cứu cổ truyền không?
Không hẳn. Điện châm dùng kim và huyệt của châm cứu nhưng thêm dòng xung điện từ máy, là kỹ thuật phát triển trong thế kỷ hai mươi, không có trong y thư cổ.
Nguồn tham khảo: Lĩnh Nam Chích Quái — Truyện Việt Tỉnh · Đại Việt Sử Ký Toàn Thư — Bản kỷ, nhà Trần · Châm Cứu Tiệp Hiệu Diễn Ca — Nguyễn Đại Năng (theo truyền thống) · Hồ Chí Minh — Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế, 27/2/1955 · Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15/2023/QH15