Mười hai chính kinh: tên gọi, đường đi và giờ vượng

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 11 phút đọc

Mười hai chính kinh: tên gọi, đường đi và giờ vượng

Mười hai chính kinh là mười hai đường kinh chính của hệ kinh lạc, mỗi đường thuộc một tạng hoặc một phủ: Phế, Đại Trường, Vị, Tỳ, Tâm, Tiểu Trường, Bàng Quang, Thận, Tâm Bào, Tam Tiêu, Đởm, Can. Sáu kinh âm, sáu kinh dương, sáu kinh ở tay, sáu kinh ở chân, nối nhau thành một vòng; theo chuẩn hiện hành có tổng cộng 309 huyệt.

Kiến thức văn hoá, không thay cho khám chữa bệnh. Bài viết mô tả đường kinh theo sách cổ như một di sản tri thức. Không dùng để tự xác định huyệt, tự châm hay tự bấm huyệt chữa bệnh.

Bảng tổng hợp mười hai chính kinh

KinhÂm dương, tay chânHànhHuyệt đầu → huyệt cuốiSố huyệtGiờ vượng
PhếThủ Thái ÂmKimTrung Phủ → Thiếu Thương11Dần (3–5)
Đại TrườngThủ Dương MinhKimThương Dương → Nghênh Hương20Mão (5–7)
VịTúc Dương MinhThổThừa Khấp → Lệ Đoài45Thìn (7–9)
TỳTúc Thái ÂmThổẨn Bạch → Đại Bao21Tỵ (9–11)
TâmThủ Thiếu ÂmHỏaCực Tuyền → Thiếu Xung9Ngọ (11–13)
Tiểu TrườngThủ Thái DươngHỏaThiếu Trạch → Thính Cung19Mùi (13–15)
Bàng QuangTúc Thái DươngThủyTình Minh → Chí Âm67Thân (15–17)
ThậnTúc Thiếu ÂmThủyDũng Tuyền → Du Phủ27Dậu (17–19)
Tâm BàoThủ Quyết ÂmHỏaThiên Trì → Trung Xung9Tuất (19–21)
Tam TiêuThủ Thiếu DươngHỏaQuan Xung → Ty Trúc Không23Hợi (21–23)
ĐởmTúc Thiếu DươngMộcĐồng Tử Liêu → Túc Khiếu Âm44Tý (23–1)
CanTúc Quyết ÂmMộcĐại Đôn → Kỳ Môn14Sửu (1–3)
Cộng309

Số huyệt theo chuẩn vị trí huyệt của Tổ chức Y tế Thế giới (2008). Cộng thêm 24 huyệt của mạch Nhâm và 28 huyệt của mạch Đốc thì ra 361 tên huyệt kinh. Vì mười hai chính kinh chạy đối xứng hai bên cơ thể, mỗi huyệt của chúng có hai điểm.

Ba quy luật đọc ra từ bảng:

  • Kinh âm thuộc tạng, kinh dương thuộc phủ, và mỗi tạng đi cặp với một phủ cùng hành: Phế với Đại Trường (Kim), Tỳ với Vị (Thổ), Tâm với Tiểu Trường (Hỏa)… Gọi là cặp biểu lý (xem sáu cặp kinh biểu lý).
  • Kinh dương ở tay nối với kinh dương ở chân cùng tên (ở vùng mặt): Thủ Dương Minh Đại Trường nối Túc Dương Minh Vị ở cạnh mũi; Thủ Thái Dương Tiểu Trường nối Túc Thái Dương Bàng Quang ở khoé mắt trong.
  • Kinh dài nhất là Bàng Quang (67 huyệt), chạy từ khoé mắt qua đỉnh đầu, dọc lưng xuống tận ngón chân út; ngắn nhất là Tâm và Tâm Bào (9 huyệt).

Cách đọc tên ba phần (tay chân, âm dương, tạng phủ) ở bài đọc tên một đường kinh; ý nghĩa giờ vượng ở bài đồng hồ kinh lạc 12 canh giờ.

Ba vòng lớn: ngực – tay – mặt – chân – ngực

Mười hai kinh không nối nhau tuỳ tiện. Chúng đi thành ba vòng, mỗi vòng bốn kinh, vòng nào cũng theo cùng một lộ trình: từ ngực ra tay, từ tay lên mặt, từ mặt xuống chân, từ chân về ngực.

VòngNgực → tayTay → mặtMặt → chânChân → ngựcCặp tên âm dương
Thứ nhấtPhếĐại TrườngVịTỳThái Âm – Dương Minh
Thứ haiTâmTiểu TrườngBàng QuangThậnThiếu Âm – Thái Dương
Thứ baTâm BàoTam TiêuĐởmCanQuyết Âm – Thiếu Dương

Chỗ nối giữa hai kinh luôn rơi vào ba vùng: đầu ngón tay (kinh âm tay sang kinh dương tay), vùng mặt (kinh dương tay sang kinh dương chân), đầu ngón chân (kinh dương chân sang kinh âm chân), còn kinh âm chân nối sang kinh âm tay ở trong ngực. Nắm ba vòng này thì không cần học thuộc thứ tự mười hai kinh: chỉ cần nhớ ba cặp tên âm dương.

Kinh nào lên tới mắt, tai, lưỡi

Phần đường trong của các kinh đi qua nhiều khiếu ở đầu mặt. Thầy thuốc xưa dựa vào đây để giải thích vì sao một chứng ở mắt, ở tai lại được đọc qua một tạng phủ ở xa. Theo thiên Kinh Mạch:

KhiếuCác kinh đi tới
MắtTâm (nối với "mục hệ"), Tiểu Trường, Bàng Quang (khoé trong), Tam Tiêu và Đởm (đuôi mắt), Vị (dưới mắt), Can (nối mục hệ)
TaiTiểu Trường, Tam Tiêu, Đởm
MũiĐại Trường, Vị
RăngVị (răng hàm trên), Đại Trường (răng hàm dưới)
Lưỡi, họngTỳ (gốc lưỡi), Thận (họng, gốc lưỡi), Tâm (họng), Can (sau họng)
Đỉnh đầu, nãoBàng Quang (vào não), Can (lên đỉnh đầu gặp mạch Đốc)

Bảng cho thấy mắt là khiếu được nhiều kinh đi tới nhất; câu "Can khai khiếu ra mắt" quen thuộc của Đông y thật ra chỉ là một sợi trong cả bó.

Đường đi từng kinh theo Linh Khu

Thiên Kinh Mạch của Linh Khu tả mỗi kinh gồm hai phần: đường ngoài (nơi có huyệt, chạy trên thân thể) và đường trong (đi vào tạng phủ, không có huyệt). Dưới đây tóm cả hai, theo thứ tự vòng tuần hoàn.

1. Thủ Thái Âm Phế kinh

Khởi ở trung tiêu (vùng bụng trên), không phải từ phổi; đi xuống liên lạc Đại Trường, vòng lên miệng dạ dày, qua cơ hoành rồi mới thuộc Phế. Từ ngực ra nách, chạy dọc mặt trong phía trước cánh tay, qua chỗ bắt mạch ở cổ tay, tới đầu ngón cái (Thiếu Thương). Một nhánh tách ra từ sau cổ tay đi tới đầu ngón trỏ để nối kinh Đại Trường. Chi tiết "khởi từ trung tiêu" là lý do sách cổ nói Phế và Vị có liên hệ.

2. Thủ Dương Minh Đại Trường kinh

Từ đầu ngón trỏ (Thương Dương), chạy mặt ngoài phía trước cánh tay lên vai, lên cổ, vào răng hàm dưới, vòng quanh môi rồi bắt chéo ở rãnh nhân trung: đường bên trái sang phải, bên phải sang trái, kết thúc cạnh cánh mũi bên đối diện (Nghênh Hương). Đây là một trong rất ít chỗ đường kinh bắt chéo đường giữa. Đường trong đi xuống liên lạc Phế, thuộc Đại Trường. Huyệt Hợp Cốc nằm trên kinh này.

3. Túc Dương Minh Vị kinh

Khởi cạnh mũi, lên gốc mũi, xuống dưới mắt (Thừa Khấp), vào răng hàm trên, vòng quanh môi, chạy xuống cổ, qua ngực theo đường thẳng đứng đi qua núm vú, xuống bụng cách đường giữa hai thốn, rồi theo mặt trước đùi, mặt trước ngoài cẳng chân, mu chân, tới ngón chân thứ hai (Lệ Đoài). Kinh nhiều huyệt thứ hai, có Túc Tam Lý dưới gối, huyệt được nhắc nhiều nhất trong sách dưỡng sinh.

4. Túc Thái Âm Tỳ kinh

Từ mép trong ngón chân cái (Ẩn Bạch), qua trước mắt cá trong, lên mặt trong cẳng chân. Có một chi tiết người trong nghề hay hỏi: ở đoạn dưới cẳng chân, kinh Tỳ đi sau kinh Can; khoảng tám thốn trên mắt cá trong thì hai kinh bắt chéo, Tỳ vượt ra phía trước. Rồi lên mặt trong đùi, vào bụng (cách đường giữa bốn thốn), lên ngực, kết thúc ở sườn (Đại Bao), huyệt mà sách gọi là "đại lạc của Tỳ".

5. Thủ Thiếu Âm Tâm kinh

Khởi từ trong tim, đi xuống liên lạc Tiểu Trường; một nhánh lên họng, nối với mắt. Nhánh chính ra hõm nách (Cực Tuyền), chạy dọc mặt trong phía sau cánh tay, qua cổ tay phía ngón út, tới đầu ngón út phía ngón áp út (Thiếu Xung). Huyệt Thần Môn ở nếp cổ tay thuộc kinh này.

6. Thủ Thái Dương Tiểu Trường kinh

Từ phía ngoài đầu ngón út (Thiếu Trạch), chạy mặt sau phía ngoài cánh tay, vòng uốn khúc quanh bả vai, lên cổ, lên má, tới khoé mắt ngoài rồi vào tai, kết thúc ở trước tai (Thính Cung, "cung nghe"). Đường trong xuống liên lạc Tâm, thuộc Tiểu Trường.

7. Túc Thái Dương Bàng Quang kinh

Khởi ở khoé mắt trong (Tình Minh, "mắt sáng"), lên trán, qua đỉnh đầu, xuống gáy, rồi chia hai đường song song chạy dọc hai bên cột sống. Trên đường thứ nhất có các bối du huyệt (Phế du, Tâm du, Can du, Thận du…), mỗi huyệt mang tên một tạng phủ: đây là chỗ thể hiện rõ nhất ý "bên ngoài phản ánh bên trong". Hai đường gặp nhau ở khoeo (Ủy Trung), xuống bắp chân, vòng sau mắt cá ngoài, tới ngón chân út (Chí Âm).

8. Túc Thiếu Âm Thận kinh

Linh Khu tả rất cụ thể: khởi dưới ngón chân út, đi chéo vào giữa lòng bàn chân (Dũng Tuyền, "suối phun"). Rồi vòng sau mắt cá trong, lên mặt trong phía sau cẳng chân và đùi, xuyên vào cột sống, thuộc Thận, liên lạc Bàng Quang. Đường ngoài lên bụng sát đường giữa (cách nửa thốn), lên ngực, kết thúc dưới xương đòn (Du Phủ). Đây là kinh duy nhất có huyệt đầu ở lòng bàn chân.

9. Thủ Quyết Âm Tâm Bào kinh

Khởi giữa ngực, thuộc Tâm Bào (màng bọc tim), đi xuống liên lạc thượng, trung, hạ tiêu. Nhánh ra sườn, nổi ở huyệt Thiên Trì cạnh núm vú, chạy dọc giữa mặt trong cánh tay (giữa kinh Phế và kinh Tâm), qua giữa lòng bàn tay (Lao Cung), tới đầu ngón giữa (Trung Xung). Huyệt Nội Quan trên cổ tay thuộc kinh này.

10. Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu kinh

Từ đầu ngón áp út (Quan Xung), qua mu tay, chạy giữa mặt sau cẳng tay (giữa hai xương), lên khuỷu, vai, cổ, vòng sau tai, ra trước tai, kết thúc ở đuôi lông mày (Ty Trúc Không). "Tam Tiêu" là phủ gây tranh luận nhiều nhất: Nạn Kinh nói nó "có tên mà không có hình", các đời sau cãi nhau nó là cơ quan gì. Kinh của nó thì có đường đi rõ ràng.

11. Túc Thiếu Dương Đởm kinh

Khởi ở đuôi mắt (Đồng Tử Liêu), đi uốn khúc nhiều vòng hai bên đầu quanh tai, xuống gáy, qua vai (Kiên Tỉnh), xuống sườn, qua hông, chạy dọc mặt ngoài đùi và cẳng chân, qua mu chân, tới ngón chân thứ tư (Túc Khiếu Âm). Kinh nhiều huyệt thứ ba (44 huyệt), phần lớn dồn ở vùng đầu.

12. Túc Quyết Âm Can kinh

Từ ngón chân cái (Đại Đôn), qua mu chân (Thái Xung), lên mặt trong cẳng chân (đi trước kinh Tỳ đến khoảng tám thốn trên mắt cá trong rồi lùi ra sau), lên mặt trong đùi, vòng quanh bộ phận sinh dục, lên bụng dưới, kết thúc ở sườn (Kỳ Môn). Đường trong thuộc Can, liên lạc Đởm, lên mắt và đỉnh đầu gặp mạch Đốc; một nhánh trở về Phế, khép kín vòng mười hai kinh. Lưu ý chữ: huyệt Kỳ Môn ở đây viết là 期門 (cửa hẹn), không phải Kỳ Môn 奇門 của Kỳ Môn Độn Giáp.

Mười hai kinh, mười hai dòng sông

Người xưa không chỉ đếm mười hai kinh cho khớp mười hai tháng, mười hai canh giờ. Linh Khu có hẳn một thiên tên Kinh Thủy (sông và kinh), đem mười hai chính kinh ví với mười hai con sông lớn của Trung Hoa thời ấy: kinh nào khí huyết nhiều thì ví với sông lớn, kinh nào ít thì ví với sông nhỏ, và dùng sự so sánh ấy để bàn châm sâu hay nông, lưu kim lâu hay mau. Hình ảnh sông nước chạy suốt hệ kinh lạc, từ tên huyệt (suối, ao, biển, khe) đến cách gọi các huyệt ở đầu ngón như nguồn nước rồi chảy dần ra biển (xem ngũ du huyệt). Hiểu được hình ảnh ấy là hiểu được lối nghĩ của người soạn Nội Kinh: cơ thể là một vùng đất có sông ngòi, và thầy thuốc là người làm thủy lợi.

Sách cổ nói gì

Phế Thủ Thái Âm chi mạch, khởi ư trung tiêu, hạ lạc Đại Trường, hoàn tuần vị khẩu, thượng cách thuộc Phế.

Dịch: Mạch Thủ Thái Âm của Phế khởi ở trung tiêu, xuống liên lạc Đại Trường, vòng theo miệng dạ dày, lên qua cơ hoành, thuộc Phế. — Linh Khu, thiên Kinh Mạch

Thận Túc Thiếu Âm chi mạch, khởi ư tiểu chỉ chi hạ, tà tẩu túc tâm.

Dịch: Mạch Túc Thiếu Âm của Thận khởi dưới ngón chân út, đi chéo vào giữa lòng bàn chân. — Linh Khu, thiên Kinh Mạch

Bình: lối tả của thiên Kinh Mạch rất "địa lý": khởi ở đâu, xuống đâu, vòng đâu, lên đâu, thuộc đâu, liên lạc đâu. Hai chữ "thuộc" (về tạng phủ của chính kinh) và "lạc" (liên lạc với tạng phủ cặp biểu lý) lặp lại ở cả mười hai kinh, là cái khung để nhớ mọi đường đi.

Đọc cho đúng mức

  • Đường kinh là mô tả của sách cổ, chưa ứng với cấu trúc giải phẫu nào được xác nhận (xem kinh lạc dưới góc nhìn nghiên cứu hiện đại).
  • Số huyệt từng kinh đã đổi qua các đời và chỉ được thống nhất bằng chuẩn năm 2008; sách cũ có thể ghi khác một vài huyệt.
  • Tạng phủ Đông y không trùng cơ quan giải phẫu: kinh "Thận" không phải đường đi của quả thận (xem "Thận" Đông y không phải quả thận).
  • Biết đường kinh không có nghĩa là biết châm. Xác định huyệt chính xác, độ sâu, góc kim, chống chỉ định là chuyện của người được đào tạo và có chứng chỉ hành nghề.

Việc nên làm

  1. Đọc bảng tổng hợp trước, rồi chọn một kinh đọc kỹ đường đi, đối chiếu với tranh kinh lạc trong sách giáo khoa y học cổ truyền.
  2. Nếu đi châm cứu, hỏi người chữa về chứng chỉ hành nghề, kim dùng một lần, và báo bệnh nền, thuốc đang dùng (nhất là thuốc chống đông), tình trạng mang thai.
  3. Đi khám ngay khi đau ngực, khó thở, tê yếu một bên người, đau đầu dữ dội đột ngột, sốt cao kéo dài, đau bụng dữ dội. Những dấu hiệu ấy không được chờ hay tự xử lý bằng bấm huyệt.

Nguồn tham khảo

  • Hoàng Đế Nội Kinh – Linh Khu — thiên Kinh Mạch (nguyên văn hai câu trích; đường đi các kinh tóm đại ý).
  • Nạn Kinh — các nạn bàn về Tam Tiêu "có tên không hình" (đại ý).
  • Tổ chức Y tế Thế giới, Văn phòng khu vực Tây Thái Bình Dương — Chuẩn vị trí huyệt châm cứu, 2008 (số huyệt từng kinh).

Câu hỏi thường gặp

12 chính kinh gồm những kinh nào?

Gồm Phế, Đại Trường, Vị, Tỳ, Tâm, Tiểu Trường, Bàng Quang, Thận, Tâm Bào, Tam Tiêu, Đởm và Can. Sáu kinh âm thuộc tạng, sáu kinh dương thuộc phủ, sáu kinh ở tay, sáu kinh ở chân.

Kinh nào có nhiều huyệt nhất?

Kinh Bàng Quang với 67 huyệt, chạy từ khoé mắt trong qua đỉnh đầu, dọc hai bên cột sống xuống ngón chân út. Tiếp theo là kinh Vị 45 huyệt và kinh Đởm 44 huyệt.

Mười hai chính kinh có tổng cộng bao nhiêu huyệt?

Theo chuẩn vị trí huyệt năm 2008 của Tổ chức Y tế Thế giới, mười hai chính kinh có 309 huyệt. Thêm 24 huyệt mạch Nhâm và 28 huyệt mạch Đốc thì ra 361 huyệt kinh.

Kinh Phế bắt đầu từ đâu?

Theo Linh Khu, kinh Phế khởi ở trung tiêu, tức vùng bụng trên, xuống liên lạc Đại Trường rồi mới lên thuộc Phế. Đường ngoài có huyệt bắt đầu ở Trung Phủ dưới xương đòn và kết thúc ở đầu ngón cái.

Kinh âm và kinh dương khác nhau thế nào?

Kinh âm thuộc tạng (Phế, Tỳ, Tâm, Thận, Tâm Bào, Can), chạy ở mặt trong tay chân; kinh dương thuộc phủ (Đại Trường, Vị, Tiểu Trường, Bàng Quang, Tam Tiêu, Đởm), chạy ở mặt ngoài tay chân và lên đầu.

Nguồn tham khảo: Hoàng Đế Nội Kinh — Linh Khu — thiên Kinh Mạch · Nạn Kinh — các nạn bàn về Tam Tiêu · Tổ chức Y tế Thế giới, Khu vực Tây Thái Bình Dương — Chuẩn vị trí huyệt châm cứu (2008)

Ngũ du huyệt "tỉnh – huỳnh – du – kinh – hợp": hình ảnh dòng nước chảy từ đầu ngón ra biểnNgũ du huyệt tỉnh, huỳnh, du, kinh, hợp theo Linh Khu và Nạn Kinh: ẩn dụ dòng nước từ đầu ngón tới khuỷu gối, bảng 66 huyệt, phối…
Mã huyệt LU1, ST36 là gì: WHO chuẩn hoá vị trí huyệt năm 2008 và tên quốc tế các đường kinhMã huyệt LU1, ST36 là gì: bộ chuẩn vị trí huyệt WHO năm 2008 cho 361 huyệt, mã quốc tế 14 đường kinh, vì sao phải chuẩn hoá và 6 …
Mười lăm lạc mạch: những nhánh nối giữa các đường kinhLạc mạch là gì: bảng mười lăm lạc theo Linh Khu thiên Kinh Mạch, lạc huyệt của từng kinh, dị bản của Nạn Kinh, đại lạc của Vị ở d…
Châm cứu ở Việt Nam: từ Tuệ Tĩnh, Nguyễn Đại Năng đến bệnh viện y học cổ truyền ngày nayLịch sử châm cứu Việt Nam: truyện cứu ngải trong Lĩnh Nam Chích Quái, Nguyễn Đại Năng với Châm Cứu Tiệp Hiệu Diễn Ca, điện châm v…
Kinh lạc là gì: hệ thống đường đi của khí theo Hoàng Đế Nội KinhKinh lạc là gì theo Hoàng Đế Nội Kinh: kinh là đường chính, lạc là nhánh; 12 chính kinh, 8 kỳ kinh, vòng khí khép kín, bạch thư M…
Mười hai kinh cân: hệ "gân cơ" đi kèm kinh mạch trong Linh KhuKinh cân là gì: mười hai đường gân cơ của Linh Khu, đi từ đầu ngón về thân, kết ở khớp, lấy chỗ đau làm huyệt; đặt cạnh các chuỗi…