Ngô Tất Tố dịch Kinh Dịch: bản dịch của nhà văn, dựng trên Chu Dịch Đại Toàn và cố giữ cái "ngớ ngẩn đột ngột" của lời kinh

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc

Ngô Tất Tố dịch Kinh Dịch: bản dịch của nhà văn, dựng trên Chu Dịch Đại Toàn và cố giữ cái "ngớ ngẩn đột ngột" của lời kinh

Bản Kinh Dịch của Ngô Tất Tố (1893 – 1954) dịch từ bộ Chu Dịch Đại Toàn đời Minh, mỗi quẻ gồm lời kinh chữ Hán, dịch âm, dịch nghĩa, rồi lời giải của Trình Di, Bản nghĩa của Chu Hy và lời bàn của các nhà nho khác. Điểm riêng nhất là ông cố ý dịch lời kinh bằng tiếng cổ, để giữ cái khó hiểu vốn có của nguyên văn.

Nhà văn của "Tắt đèn" dịch Kinh Dịch

Ngô Tất Tố xuất thân nhà nho, đi thi chữ Hán thời cuối khoa cử, rồi thành nhà báo, nhà văn quốc ngữ. Người đọc nhớ ông qua Tắt đèn, Lều chõng, Việc làng. Bên cạnh đó là một khối dịch thuật ít được nhắc: thơ Đường, Hoàng Lê Nhất Thống Chí (dịch đăng báo năm 1942; bài La Sơn Phu Tử có dẫn một hồi của sách ấy), sách về Lão Tử, và Kinh Dịch. Thư mục tác phẩm của ông ghi Kinh Dịch là bản "chú giải, 1953", năm trước khi ông mất; các bản in gần đây mang tên Kinh Dịch trọn bộ. Một số nơi ghi năm khác cho lần in đầu; chúng tôi chưa xem được bản in đầu tiên nên chỉ ghi mốc thư mục phổ biến.

Bài này dựa trực tiếp vào lời người dịch và phần dịch quẻ Kiền, quẻ Khôn của ông, hiện có trên Wikisource tiếng Việt.

Dịch từ bộ nào, và vì sao

Ông nói rõ trong phần "Những điều nên biết (lời người dịch)":

Nguyên văn bản dịch này là bộ Chu Dịch đại toàn của bọn Hồ Quảng và Kim Âu Tư vâng mệnh Thành tổ nhà Minh mà soạn ra, nội dung gom góp hầu khắp các lời chú giải của Tiên nho.

Chu Dịch Đại Toàn là bộ sách triều Minh biên soạn để làm chuẩn cho khoa cử; nó lấy Dịch truyện của Trình Di và Chu Dịch Bản Nghĩa của Chu Hy làm chính, các nhà khác làm phụ. Ngô Tất Tố không giấu chỗ yếu của lựa chọn ấy. Ông viết rằng hai họ Trình, Chu "không khỏi có chỗ vũ đoán và khiên cưỡng", nên chữ "đầy đủ" chỉ nói về lượng, không nói về phẩm: "bộ sách ấy chỉ là sách dày, không phải là sách chú giải thật đúng". Nhưng ông hỏi ngược: thế nào là đúng với lời kinh Dịch? Câu hỏi ấy "có lẽ loài người tiêu diệt vẫn chưa giải quyết". Đã vậy thì đọc bộ gom được nhiều ý nhất là hơn.

Đây là một quyết định của người làm văn bản, không phải của người truyền đạo: chọn nguồn rộng nhất, nói rõ giới hạn của nó.

Khung một quẻ trong bản dịch

Mỗi quẻ đi theo một khuôn lặp lại, rất dễ tra:

PhầnNội dung
Lời kinhnguyên văn chữ Hán
Dịch âmphiên âm Hán Việt
Dịch nghĩalời dịch của Ngô Tất Tố
Giải nghĩa — Truyện của Trình Dilời giảng của Trình Di
Giải nghĩa — Bản nghĩa của Chu Hylời giảng của Chu Hy
Lời bàn của Tiên Nhonhững ý khác, kể cả ý trái với Trình, Chu

Phần đầu sách dịch thêm tựa của Trình Di, phần đồ thuyết của Chu Hy (thứ tự và phương vị tám quẻ, sáu mươi tư quẻ của Phục Hy, của Văn Vương), phép bói bằng cỏ thi và "Dịch thuyết cương lĩnh". Tức là gần như toàn bộ khung học Dịch của khoa cử đời Minh, Thanh được chuyển sang quốc ngữ. Người cần đọc riêng Chu Hy có thể đọc thêm bài Chu Hy và Dịch học.

Một số bài giới thiệu hiện nay mô tả bản Ngô Tất Tố là bản "gọn, chú ngắn". Theo chính lời người dịch và khung trên, đó là bản đủ lớp chú nhất trong các bản quốc ngữ quen thuộc, vì nó dịch nguyên bộ Đại Toàn.

Khi Trình và Chu nói khác nhau

Ông thừa nhận chỗ khó: Trình Di và Chu Hy nhiều khi không cùng ý, có chỗ Chu Hy "công nhiên phản đối ý của họ Trình". Lời kinh dịch theo ai? Ông tự đặt một lệ:

…lấy văn pháp chữ Nho làm bằng, hễ lời chua của ai hợp văn pháp chữ Nho hơn thì lời dịch theo ý của nấy, bất kỳ của họ Chu hay của họ Trình.

Và thêm: dù theo hay không theo, ông "chỉ căn cứ ở văn pháp chữ Nho, chứ không hề cho thế này là đúng, thế kia là sai". Người dịch giữ vai người đọc chữ, không làm người phân xử triết học. Đây là thái độ khá hiếm trong các bản dịch kinh điển tiếng Việt cùng thời, vốn hay có lời bình riêng của dịch giả.

Tiếng cổ "thửa, chưng, hay, khá": cố ý giữ cái khó

Đoạn đáng đọc nhất của lời người dịch là chỗ ông giải thích vì sao dịch lời kinh bằng những tiếng cổ như "thửa", "chưng", "hay", "khá", biết trước người đọc sẽ chê "gàn":

Cái khó hiểu của Kinh Dịch, không tại ý tứ sâu xa, chỉ tại lời văn chủng chẳng rời rã, ngớ ngẩn đột ngột, giống như lời nói của bọn đồng cốt, không đầu đuôi, không mạch lạc…

Vì thế, nếu dịch thành lời trôi chảy dễ hiểu thì "là làm cho độc giả phải theo ý kiến của mình, đó là mất tinh thần của Kinh Dịch". Ông chọn dịch sát, giữ cái rời rạc, "để độc giả muốn hiểu thế nào thì hiểu", rồi để lời giải của Trình, Chu ở dưới cho ai cần.

Đọc thử vài câu trong quẻ Kiền:

  • Lời quẻ: "Kiền: Đầu cả, hanh thông, lợi tốt, chính bền."
  • Hào Chín Ba: "Đấng quân tử trọn ngày săng sắc, tối dương rùng rợn. Nguy! Không lỗi."
  • Hào Dùng Chín: "Thấy đàn rồng không đầu, tốt!"

Và lời quẻ Khôn: "Đầu cả, hanh thông, lợi về nết trinh của ngựa cái. Quân tử có sự đi. Trước mê, sau được."

Những chữ "đầu cả" (cho nguyên), "săng sắc", "rùng rợn" là tiếng nói của làng quê Bắc Bộ đầu thế kỷ hai mươi, không phải thuật ngữ Hán Việt. Ông cũng gọi hào theo thứ tự tiếng Việt: hào Chín Đầu, hào Sáu Hai, hào Chín Trên, thay vì Sơ Cửu, Lục Nhị, Thượng Cửu. Đó là dấu tay của một nhà văn: muốn Kinh Dịch nói bằng tiếng Việt, kể cả khi tiếng Việt ấy lạ tai.

Cuối lời người dịch, ông hẹn: "Còn ý kiến của dịch giả đối với Kinh Dịch ra sao, cuối sách sẽ xin nói kỹ." Chúng tôi chưa thấy phần ấy trong bản trên Wikisource và chưa đối chiếu được với các bản in; ông mất năm 1954, một năm sau mốc in bản chú giải.

Sách cổ nói gì

用九:見群龍无首,吉。 Dụng cửu: kiến quần long vô thủ, cát.

Hào Dùng Chín: Thấy đàn rồng không đầu, tốt. — Chu Dịch, quẻ Kiền (lời dịch của Ngô Tất Tố)

Bình: câu này là ví dụ tốt cho cách ông dịch. "Không đầu" có thể hiểu là không ai tranh làm đầu, không phô cái mạnh ra trước, hay một nghĩa khác nữa; Trình Di và Chu Hy mỗi người giảng một hướng. Lời dịch của ông dừng ở mặt chữ, để người đọc tự đi tiếp với lời chú bên dưới, đúng như lệ ông tự đặt.

Đọc cho đúng mức

  • Bản dịch theo khung Tống nho của Chu Dịch Đại Toàn; nó cho biết người Minh, Thanh đọc Dịch thế nào, không cho biết nghĩa thời Tây Chu. Tầng văn bản sớm hơn, như bạch thư Mã Vương Đôi, cần sách khác (bài bạch thư Chu Dịch Mã Vương Đôi).
  • Lời người dịch tả Kinh Dịch theo truyền thống "Phục Hy vạch quẻ, Văn Vương đặt lời, Chu Công viết hào, Khổng Tử làm Thập Dực"; ông nói rõ đó là "theo lời tựa truyền của Tiên nho mà thuật ra". Giới nghiên cứu hiện đại không còn giữ nguyên thuyết ấy.
  • Năm in lần đầu của bản chú giải có chỗ ghi khác nhau; bài theo mốc 1953 trong thư mục phổ biến.

Việc nên làm

  • Muốn so lời Trình và lời Chu cho một hào, bản Ngô Tất Tố là bản quốc ngữ tiện nhất vì đặt hai lời giải liền nhau.
  • Đọc trước phần "Những điều nên biết" của người dịch: mười trang ấy là một nhập môn Kinh Dịch gọn, có giải thích quẻ, hào, ngôi, tượng, chiêm.
  • So một hào giữa bản Ngô Tất Tố và các bản khác theo bài nên đọc Kinh Dịch bằng bản tiếng Việt nào, để thấy mỗi người dịch chọn gì.
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Ngô Tất Tố — Kinh Dịch (dịch và chú giải): "Những điều nên biết (lời người dịch)", quẻ Kiền, quẻ Khôn; bản trên Wikisource tiếng Việt (nguyên văn các đoạn trích).
  • Hồ Quảng và cộng sự — Chu Dịch Đại Toàn, đời Minh (đại ý, theo lời người dịch).
  • Thư mục tác phẩm Ngô Tất Tố (Kinh Dịch, chú giải, 1953) theo các bảng thư mục phổ biến; các bản in "Kinh Dịch trọn bộ" gần đây.

Câu hỏi thường gặp

Ngô Tất Tố dịch Kinh Dịch từ bản nào?

Từ bộ Chu Dịch Đại Toàn do Hồ Quảng và các học giả soạn theo lệnh Minh Thành Tổ, lấy Dịch truyện của Trình Di và Chu Dịch Bản Nghĩa của Chu Hy làm chính.

Bản Kinh Dịch Ngô Tất Tố có gì khác các bản khác?

Mỗi quẻ có lời kinh chữ Hán, dịch âm, dịch nghĩa, rồi đủ lời Trình Di, Chu Hy và lời bàn của các nhà nho khác. Lời kinh được dịch bằng tiếng cổ để giữ cái rời rạc của nguyên văn.

Vì sao Ngô Tất Tố dùng chữ "thửa", "chưng" khi dịch?

Ông cho rằng cái khó hiểu của Kinh Dịch nằm ở lời văn rời rạc; dịch trơn tru là bắt người đọc theo ý người dịch. Ông dịch sát bằng tiếng cổ để người đọc tự hiểu, rồi xem lời chú bên dưới.

Khi Trình Di và Chu Hy khác ý, Ngô Tất Tố theo ai?

Ông lấy văn pháp chữ Hán làm chuẩn: lời chú nào hợp văn pháp hơn thì dịch theo, bất kể của ai, và không phán bên nào đúng sai.

Bản dịch này dùng để gieo quẻ được không?

Được, vì có đủ lời quẻ, lời hào và phép bói cỏ thi. Nhưng lời giải là của Tống nho; muốn biết nghĩa cổ hơn cần đọc thêm nghiên cứu văn bản hiện đại.

Nguồn tham khảo: Kinh Dịch — Ngô Tất Tố dịch và chú giải; phần "Những điều nên biết (lời người dịch)" · Chu Dịch Đại Toàn — Hồ Quảng và các học giả soạn theo lệnh Minh Thành Tổ · Chu Dịch — quẻ Kiền, quẻ Khôn (lời kinh)

Phạm Đình Hổ ghi chuyện thầy địa lý, ngày kiêng, điềm lạ trong Vũ Trung Tùy Bút: một nhà Nho hoài nghi có chọn lọcVũ Trung Tùy Bút của Phạm Đình Hổ: bác thuyết long mạch của thầy phong thuỷ, không tin kiêng trùng tang vì điển lễ không chép, nh…
Thiền sư Pháp Thuận và bài "Quốc tộ": thơ đáp vua về vận nước, không phải lời sấmThiền sư Pháp Thuận (915–990) theo Thiền Uyển Tập Anh: thơ đáp vua Lê hỏi vận nước dài ngắn, chuyện làm lái đò đón sứ Tống, vì sa…
Đào Duy Từ và Hổ Trướng Khu Cơ: binh pháp có phần độn giáp, bát quái và phép xem gióĐào Duy Từ và Hổ Trướng Khu Cơ: binh thư ba tập Thiên, Địa, Nhân; trận Bát môn kim tỏa mang tám cửa Kỳ Môn, cờ bát quái, phép xem…
Thiền sư Vạn Hạnh: lời sấm cây gạo, nhà Lý và cách đọc một bài sấm như sử liệuThiền sư Vạn Hạnh qua Thiền Uyển Tập Anh và Toàn Thư: bài sấm cây gạo, chiết tự chữ Lê chữ Lý, vai trò trong việc Lý Công Uẩn lên…
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác: y đức, Y Dịch và hai gốc tiên thiên, hậu thiên trong sách ôngHải Thượng Lãn Ông và Kinh Dịch: hai tập Huyền Tẫn Phát Vi, Khôn Hoá Thái Chân dựng trên cặp tiên thiên, hậu thiên; tên sách lấy …
Nguyễn Hiến Lê và "Kinh Dịch – Đạo của người quân tử": đọc Dịch như sách sống ở đờiKinh Dịch – Đạo của người quân tử của Nguyễn Hiến Lê: vì sao đọc Dịch như sách đạo đức, 53 quẻ Đại Tượng nói quân tử, chỗ mạnh vớ…