Chu Hy và Dịch học: người kéo Kinh Dịch về lại sách bói, và quẻ Độn ông tự gieo năm 1195

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 12 phút đọc

Chu Hy và Dịch học: người kéo Kinh Dịch về lại sách bói, và quẻ Độn ông tự gieo năm 1195

Chu Hy (1130 – 1200), đại Nho đời Nam Tống, để lại hai sách Dịch: Chu Dịch Bản Nghĩa và Dịch Học Khải Mông. Điểm cốt lõi của ông là một nhận định gây sốc với giới Nho đương thời: Kinh Dịch vốn được làm ra để bói. Muốn hiểu đúng lời quẻ, lời hào, phải đọc chúng như lời chiêm, rồi mới bàn đạo lý.

Người Việt học Kinh Dịch qua sách dịch thế kỷ 20 phần lớn đang đọc Chu Hy mà không biết: lời chú kèm theo kinh văn trong nhiều bản quen thuộc là lời của Trình Di và Chu Hy, và những quy tắc đọc hào động mà các trang gieo quẻ đang dùng, kể cả trang này, phần lớn lấy từ Khải Mông. Bài này nói về con người ấy trong Dịch học: ông đổi gì, vì sao đổi, và một lần ông tự gieo quẻ rồi làm theo lời quẻ.

Chu Hy là ai, nói gọn

Chu Hy, tự Nguyên Hối, hiệu Hối Am, sinh ở Phúc Kiến năm 1130, mất năm 1200. Ông là người tập đại thành Lý học Tống: chú Tứ Thư (Tứ Thư Chương Cú Tập Chú), biên Cận Tư Lục cùng Lã Tổ Khiêm, viết Thái Cực Đồ Thuyết Giải. Từ đời Nguyên, lời chú Tứ Thư của ông thành chuẩn khoa cử; các triều Việt Nam học theo khung ấy suốt nhiều thế kỷ.

Đời làm quan của ông ngắn và trắc trở. Cuối đời ông bị cuốn vào vụ "nguỵ học" thời Khánh Nguyên: phe quyền thần Hàn Thác Trụ cấm học thuyết của ông và học trò. Ông mất khi lệnh cấm còn hiệu lực. Chuyện ông gieo quẻ năm 1195, kể ở dưới, xảy ra đúng lúc cơn bão ấy bắt đầu.

"Dịch vốn là sách bói": câu nói đặt ngược cả một truyền thống

Từ khi Vương Bật đời Nguỵ quét bỏ tượng số, rồi đến Trình Di đời Bắc Tống viết Dịch Truyện, dòng chính của Nho học đọc Kinh Dịch như một bộ sách triết lý đạo đức: mỗi hào là một tình huống của người quân tử, đọc để biết cách xử thế. Chu Hy học Lý Đồng, người nối dòng Nhị Trình qua La Tùng Ngạn và Dương Thời, nên ông coi Trình Di là bậc tổ của học phái mình và kính ông hết mực.

Vậy mà trong Chu Tử Ngữ Loại, những ghi chép lời giảng của ông do học trò chép lại, Chu Hy nói đi nói lại một ý, đại ý: Dịch vốn được làm ra để bói; lời Trình tiên sinh giảng rất hay, nhưng là đạo lý của Trình tiên sinh, không phải bản ý của người làm Dịch.

Lập luận của ông đi theo ba tầng, mà ông gọi là Dịch của ba thánh:

TầngTheo truyền thốngChu Hy cho là để làm gì
Dịch của Phục Hyvạch quẻ, chưa có lờitượng và số thuần, để người ta bói theo vạch
Dịch của Văn Vương, Chu Cônglời quẻ, lời hàolời chiêm: gặp hào này thì việc sẽ thế này, nên làm thế kia
Dịch của Khổng TửThập Dựcrút đạo lý từ lời chiêm

Hệ quả là ông yêu cầu đọc từng tầng theo đúng mục đích của nó. Lấy Thập Dực giải ngược lời hào là đem tầng sau áp lên tầng trước. Câu chuyện "Văn Vương diễn quẻ trong ngục" và việc Khổng Tử làm Thập Dực đều là truyền thống; các bài về Chu Văn Vương và Khổng Tử trong chuyên mục này bàn chỗ sử liệu nói được gì. Điều đáng chú ý là: ngay trong khung truyền thống, Chu Hy đã nhìn ra rằng ba tầng chữ ra đời vì ba mục đích khác nhau.

Nhìn từ hôm nay, nhận định ấy đứng vững hơn nhiều người thời ông nghĩ. Các tư liệu bói toán đời Thương, Chu được tìm thấy sau này cho thấy Dịch mọc lên từ nghề bói thật. Chu Hy không có những tư liệu ấy; ông đi tới kết luận chỉ bằng cách đọc kỹ văn bản.

Chu Dịch Bản Nghĩa: thêm vào mỗi hào một câu "người bói gặp hào này"

Tên sách đã là tuyên ngôn: "bản nghĩa" là nghĩa gốc. Có ba việc làm sách này khác các sách chú trước:

  1. Tách kinh khỏi truyện. Từ đời Hán, Đại Tượng, Tiểu Tượng, Văn Ngôn bị cắt ra chen vào sau từng quẻ, từng hào. Chu Hy dùng bản Cổ Chu Dịch mà bạn ông là Lã Tổ Khiêm khôi phục: hai thiên kinh đứng riêng, mười thiên truyện đứng riêng. Đọc kinh trước, như người bói đọc.
  2. Thêm câu chiêm. Gần như mỗi lời chú hào của ông kết bằng một câu về chiêm: người bói gặp hào này thì nên làm gì. Ở hào Sơ Cửu quẻ Càn, sau khi giải "rồng còn ẩn, chưa dùng được", ông viết, đại ý: phàm người bói gặp quẻ Càn mà hào này động, nên xem tượng ấy mà ngẫm lời chiêm. Câu này lặp lại theo nhiều dạng suốt sách, và nó biến một bộ sách triết học trở lại thành sách tra cứu cho người cầm quẻ.
  3. Đặt các đồ lên đầu sách. Chín đồ in ở đầu Bản Nghĩa, gồm Hà Đồ, Lạc Thư và các đồ tiên thiên, hậu thiên của dòng Thiệu Ung. Từ đó, người học Dịch trong khoa cử mở sách ra là gặp các đồ trước khi gặp chữ.

Bài riêng về cuốn sách, Chu Dịch Bản Nghĩa, đi vào bố cục và bản in.

Có một nghịch lý về số phận cuốn sách. Đời Minh, bộ Chu Dịch trong Ngũ Kinh Đại Toàn gộp Trình Truyện và Bản Nghĩa làm một, và để gộp được, người biên lại cắt Bản Nghĩa theo thứ tự cũ, truyện chen vào kinh. Việc đầu tiên Chu Hy làm, tách kinh khỏi truyện, bị chính bản khoa cử mang tên ông xoá đi. Nhiều bản Kinh Dịch mà người Việt đọc, kể cả những bản dịch kèm lời Trình, lời Chu, đi theo bố cục gộp ấy.

Dịch Học Khải Mông: sách hướng dẫn bói, viết cùng Thái Nguyên Định

Nếu Bản Nghĩa là sách đọc, thì Khải Mông là sách làm. Ông viết nó năm 1186 cùng học trò, cũng là bạn, Thái Nguyên Định, người giỏi tượng số hơn ông. Sách có bốn thiên, mỗi thiên một khâu của việc bói:

ThiênNội dungBài liên quan
Bản Đồ ThưHà Đồ mười số, Lạc Thư chín số; định tên hai đồHà Đồ, Lạc Thư
Nguyên Quái Hoạchquẻ sinh ra bằng cách gấp đôi vạch: thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái—
Minh Thệ Sáchphép bói cỏ thi năm mươi que, dựng lại từ đoạn Đại Diễn của Hệ Từbói cỏ thi
Khảo Biến Chiêmgặp một, hai, ba… sáu hào động thì đọc lời nàoquẻ nhiều hào động

Ba việc trong sách này còn sống đến hôm nay:

  • Tên hai đồ. Lưu Mục đời Bắc Tống gọi đồ chín số là Hà Đồ; Chu Hy và Thái Nguyên Định gọi ngược lại, và cách gọi của họ là cách gần như mọi sách dùng hôm nay.
  • Phép bói cỏ thi. Hệ Từ chỉ cho một đoạn văn ngắn, nhiều chỗ mơ hồ. Bản dựng lại trong Khải Mông, kèm bài khảo riêng của ông về những chỗ người trước làm sai, là bản mà phần lớn người bói cỏ thi về sau theo.
  • Quy tắc hào động. Kinh văn không nói gặp ba hào động thì đọc gì. Chu Hy đối chiếu các ca bói chép trong Tả Truyện, Quốc Ngữ rồi đặt ra bảy trường hợp. Phần lớn công cụ gieo quẻ trên mạng, kể cả trang này, đang chạy theo bảy trường hợp ấy.

Một chi tiết ít được nhắc: Chu Hy còn viết một bản khảo dị Chu Dịch Tham Đồng Khế, sách luyện đan của Đạo gia, và ký dưới một bút danh, theo các thư mục thường dẫn. Một đại Nho chú sách Đạo gia bằng tên giả cho thấy ông coi phần thuật số là đáng học nghiêm túc, nhưng vẫn giữ khoảng cách.

Năm 1195: Chu Hy gieo quẻ, gặp Độn, đốt bản tấu

Theo Tống Sử, truyện Chu Hy, đại ý: năm Khánh Nguyên thứ nhất (1195), khi phe Hàn Thác Trụ đẩy được tể tướng Triệu Nhữ Ngu ra khỏi triều, Chu Hy thảo một bản tấu dài hàng vạn chữ vạch chuyện gian thần che mắt vua. Học trò thay nhau can, cho rằng dâng lên là chuốc hoạ. Ông không nghe. Thái Nguyên Định xin dùng cỏ thi để quyết. Gieo được quẻ Độn biến sang Đồng Nhân. Chu Hy im lặng, lấy bản tấu đốt đi, và từ đó lấy hiệu là Độn Ông.

Hãy đọc quẻ ấy theo đúng quy tắc của chính Chu Hy.

Hào 1Hào 2Hào 3Hào 4Hào 5Hào 6
Độn (Thiên Sơn Độn, quẻ 33)âmâmdươngdươngdươngdương
Đồng Nhân (Thiên Hoả Đồng Nhân, quẻ 13)dươngâmdươngdươngdươngdương

Bảng hình hào lấy từ dữ liệu 64 quẻ của trang và đã soát lại bằng tay: hai quẻ chỉ khác nhau ở hào dưới cùng. Vậy đây là quẻ một hào động, hào Sơ Lục của Độn.

Quy tắc của Khải Mông cho trường hợp một hào động: đọc lời của hào động ấy trong quẻ gốc. Lời hào Sơ Lục quẻ Độn là:

Độn vĩ, lệ, vật dụng hữu du vãng.

Dịch: Lui mà ở cuối đuôi, nguy; đừng có chỗ đi tới. — Chu Dịch, quẻ Độn, hào Sơ Lục

Người đang định dâng một bản tấu chống quyền thần, gieo được câu "đừng có chỗ đi tới", thì cách đọc theo Bản Nghĩa là rõ ràng. Chu Hy không cãi quẻ. Quẻ Độn là quẻ lui; hiệu Độn Ông là cách ông nhận lời quẻ vào tên mình. Bạn có thể xem trọn sáu hào ở trang quẻ Thiên Sơn Độn.

Chuyện này đáng kể không phải vì "quẻ linh". Nó cho thấy Chu Hy làm đúng điều ông giảng: Dịch là để hỏi việc cụ thể, khi người hỏi thật sự phân vân; và người hỏi đọc lời chiêm theo một quy tắc đã định trước, không chọn câu hợp ý mình. Cũng nên thấy rằng quyết định đốt bản tấu còn có học trò can và tình thế triều đình đè lên; quẻ là giọt nước cuối, không phải lý do duy nhất.

Chu Hy và Trình Di: hai lối đọc cùng một câu

Lấy một hào để thấy hai thầy khác nhau thế nào. Hào Sơ Cửu quẻ Càn, "tiềm long vật dụng":

  • Trình Di giảng như bài học xử thế: bậc thánh nhân khi còn ở dưới, chưa gặp thời, thì nên ẩn mình, tu dưỡng, chờ thời.
  • Chu Hy giữ ý ấy nhưng thêm tầng chiêm: người bói gặp hào này thì việc định làm chưa đến lúc, nên giữ, chưa nên dùng.

Hai cách không chọi nhau; khác nhau ở người đọc mà mỗi thầy hình dung. Trình Di viết cho người quân tử đọc sách. Chu Hy viết cho người quân tử đang cầm quẻ trong tay. Vì thế mà Bản Nghĩa ngắn hơn Trình Truyện nhiều, và vì thế mà đời Minh người ta gộp hai sách: một cuốn cho lý, một cuốn cho chiêm.

Sách cổ nói gì

Chu Tử Ngữ Loại, các quyển bàn về Dịch, đại ý: Dịch vốn là sách bói. Người xưa dân trí chưa mở, việc gì cũng không biết nên làm hay không, thánh nhân làm Dịch để dạy người bói mà quyết; lời quẻ, lời hào đều theo việc bói mà nói.

Bình: Câu này thường bị dẫn cụt thành "Chu Hy coi thường nghĩa lý". Không phải vậy. Ông chỉ đặt thứ tự: hiểu chữ theo mục đích gốc trước, rút đạo lý sau. Chính Chu Hy là người viết nhiều nhất về đạo lý trong cả Tống Nho.

Chu Dịch Bản Nghĩa, lời chú hào Sơ Cửu quẻ Càn, đại ý: phàm gặp quẻ Càn mà hào này động, nên xem tượng ấy mà ngẫm lời chiêm.

Bình: Một câu ngắn chứa cả phương pháp: "xem tượng" rồi "ngẫm chiêm". Nó cũng giả định người đọc đã gieo quẻ và biết hào nào động, tức Bản Nghĩa được viết để đọc kèm Khải Mông.

Độn vĩ, lệ, vật dụng hữu du vãng.

Lui ở cuối đuôi, nguy; đừng có chỗ đi tới. — Chu Dịch, quẻ Độn, hào Sơ Lục

Bình: Ở cuối đuôi nghĩa là lui chậm, người khác đã rút mà mình còn nấn ná. Lời hào không bảo "đừng làm gì", mà bảo đừng tiến thêm. Chu Hy đốt bản tấu, nhưng không bỏ giảng học; ông tiếp tục dạy cho tới khi mất.

Đọc cho đúng mức

Về câu chuyện năm 1195: chúng tôi theo Tống Sử, đại ý. Chuyện do học trò và sử quan đời sau chép lại, có thể đã được kể cho gọn. Tên quẻ (Độn biến Đồng Nhân) và hiệu Độn Ông khớp nhau, nhưng chi tiết như ai đề nghị bói, bản tấu dài bao nhiêu chữ, nên coi là lời kể.

Về quy tắc hào động: bảy trường hợp của Khải Mông là một lối, không phải luật của kinh văn. Các nhà Dịch đời sau có người bác vài trường hợp; phép Lục Hào thì đọc hào động theo cách khác hẳn (xem bài quẻ nhiều hào động).

Về "Dịch là sách bói": đây là một nhận định lịch sử về nguồn gốc văn bản, không phải lời bảo đảm rằng bói Dịch đoán đúng. Chu Hy tin vào việc bói như một nghi thức để quyết khi phân vân, gắn với lòng thành của người hỏi. Ông không đưa ra, và cũng không có, bằng chứng nào cho thấy quẻ báo trước được việc.

Về các đồ ở đầu Bản Nghĩa: Hà Đồ, Lạc Thư và các đồ tiên thiên là di sản của dòng Trần Đoàn, Thiệu Ung, được Chu Hy chọn đưa vào. Ngay đời Thanh đã có học giả viết sách chứng minh các đồ ấy không có trong kinh văn cổ.

Việc nên làm

  1. Khi đọc một bản Kinh Dịch tiếng Việt, xem lời chú đi kèm là của ai: Trình Di, Chu Hy, hay người dịch. Ba người có thể đọc cùng một hào theo ba hướng.
  2. Thử đọc một quẻ bạn đã gieo theo đúng cách Bản Nghĩa: lời hào động trước, tìm "tượng" trong câu, rồi tìm "chiêm", tức câu nói nên làm gì.
  3. Trước khi gieo, viết sẵn quy tắc đọc mình sẽ theo (ví dụ bảy trường hợp của Khải Mông). Đó là bài học lớn nhất của chuyện năm 1195: quy tắc đặt trước, không chọn sau.

Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?

Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.

Xem lịch các thầy

Nguồn tham khảo

  • Chu Tử Ngữ Loại, Lê Tĩnh Đức biên, các quyển bàn về Dịch: ý "Dịch vốn là sách bói", Dịch của ba thánh (đại ý).
  • Chu Hy — Chu Dịch Bản Nghĩa: lời chú hào Sơ Cửu quẻ Càn; bố cục kinh, truyện tách riêng; các đồ ở đầu sách (đại ý).
  • Chu Hy, Thái Nguyên Định — Dịch Học Khải Mông (1186): bốn thiên Bản Đồ Thư, Nguyên Quái Hoạch, Minh Thệ Sách, Khảo Biến Chiêm (đại ý).
  • Tống Sử, Đạo học truyện, truyện Chu Hy: việc thảo tấu, gieo quẻ Độn biến Đồng Nhân, lấy hiệu Độn Ông (đại ý).
  • Chu Dịch, quẻ Độn, hào Sơ Lục (nguyên văn). Hình hào quẻ Độn và Đồng Nhân đối chiếu bằng dữ liệu 64 quẻ của aihuyenhoc.com.

Câu hỏi thường gặp

Chu Hy viết những sách gì về Kinh Dịch?

Hai sách chính là Chu Dịch Bản Nghĩa, chú giải kinh văn theo hướng lời chiêm, và Dịch Học Khải Mông viết cùng Thái Nguyên Định năm 1186, hướng dẫn Hà Đồ Lạc Thư, cách vạch quẻ, phép bói cỏ thi và cách đọc hào động.

Vì sao Chu Hy nói Kinh Dịch vốn là sách bói?

Vì theo ông, lời quẻ, lời hào được làm ra để người bói biết nên làm hay không; đạo lý là phần Khổng Tử và người đời sau rút ra. Đọc lời hào như triết lý thuần là đặt tầng sau lên tầng trước.

Chu Hy khác Trình Di ở đâu khi đọc Kinh Dịch?

Trình Di đọc mỗi hào như bài học xử thế của người quân tử. Chu Hy giữ ý đó nhưng thêm tầng chiêm: người bói gặp hào này thì nên làm gì. Đời Minh hai sách được gộp làm một trong bộ sách khoa cử.

Chuyện Chu Hy gieo được quẻ Độn là thế nào?

Theo Tống Sử, năm 1195 ông định dâng tấu chống quyền thần, học trò can, Thái Nguyên Định xin bói, được quẻ Độn biến Đồng Nhân. Đó là quẻ một hào động, lời hào khuyên đừng tiến tới; ông đốt bản tấu và lấy hiệu Độn Ông.

Quy tắc đọc hào động trên các trang gieo quẻ có phải của Chu Hy?

Phần lớn là bảy trường hợp trong thiên Khảo Biến Chiêm của Dịch Học Khải Mông. Đó là một lối đọc ông dựng từ các ca bói trong Tả Truyện, Quốc Ngữ, không phải quy định có sẵn trong kinh văn.

Nguồn tham khảo: Chu Tử Ngữ Loại — Lê Tĩnh Đức biên — các quyển bàn về Dịch (cương lĩnh) · Chu Dịch Bản Nghĩa — Chu Hy — lời chú hào Sơ Cửu quẻ Càn · Dịch Học Khải Mông — Chu Hy, Thái Nguyên Định — bốn thiên Bản Đồ Thư, Nguyên Quái Hoạch, Minh Thệ Sách, Khảo Biến Chiêm · Tống Sử — Đạo học truyện — truyện Chu Hy, việc gieo quẻ năm Khánh Nguyên thứ nhất · Chu Dịch — quẻ Thiên Sơn Độn, hào Sơ Lục

Lại Bố Y: thầy phong thủy áo vải đời Tống, giữa truyện chỉ đất dân gian và cuốn Thôi Quan ThiênLại Bố Y (Lại Văn Tuấn) là thầy địa lý đời Tống theo truyền thống: Tống Sử không chép, Thôi Quan Thiên đề tên ông, truyện chỉ đất…
Thẩm Trúc Nhưng: người giải mã và công khai Huyền Không Phi Tinh, và quy tắc một dòng làm đổi cả tinh bànThẩm Trúc Nhưng là ai: học giả Hàng Châu cuối Thanh giải mã phép Huyền Không bị giữ kín hai trăm năm. Quy tắc ông công khai đổi k…
Quỷ Cốc Tử: thầy của Tô Tần, Trương Nghi và các sách gắn tên ôngQuỷ Cốc Tử là ai: Sử Ký chỉ chép ông dạy Tô Tần, Trương Nghi; sách Quỷ Cốc Tử bàn du thuyết, còn các phép toán mệnh mang tên ông …
Nhất Hạnh đời Đường: thiền sư làm lịch Đại Diễn, đo bóng mặt trời tới tận Giao ChâuNhất Hạnh thiền sư đời Đường là nhà thiên văn: soạn lịch Đại Diễn, chế máy đo, chủ trì đo bóng mặt trời tới Giao Châu, bác quy tắ…
Trần Đoàn (Hi Di tiên sinh): ngủ trăm ngày, Thái Cực đồ và Tử Vi, phần nào là sửTrần Đoàn là ai: đạo sĩ Hoa Sơn có truyện trong Tống Sử, ngủ trăm ngày, mê Dịch. Thái Cực đồ, Tử Vi, sách tướng gắn tên ông là vi…
Khổng Tử và Kinh Dịch: "vi biên tam tuyệt", Thập Dực và điều thẻ tre, bản lụa cho biếtKhổng Tử và Kinh Dịch: ông có học, có thể đã dạy Dịch, nhưng Thập Dực không do ông viết. Luận Ngữ, Sử Ký, Tả Truyện, Quách Điếm v…