Phạm Đình Hổ ghi chuyện thầy địa lý, ngày kiêng, điềm lạ trong Vũ Trung Tùy Bút: một nhà Nho hoài nghi có chọn lọc
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 10 phút đọc
Vũ Trung Tùy Bút ("tuỳ bút trong mưa") là tập ghi chép của Phạm Đình Hổ (1768 – 1839) về đời sống Bắc Hà cuối Lê, đầu Nguyễn. Trong đó ông bác thuyết long mạch của thầy phong thuỷ vì "kê cứu không được rộng", không tin tục kiêng ngày trùng tang vì điển lễ không chép, nhưng lại kinh ngạc trước điềm cây đa và tin trời dùng điềm lạ để răn. Đó là một sự hoài nghi có chọn lọc rất tiêu biểu của nhà Nho.
Bài này đọc lại những mục có liên quan đến thuật số trong Vũ Trung Tùy Bút, theo bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, để thấy một trí thức Việt cuối thế kỷ 18 đặt ranh giới giữa điều mình tin và điều mình ngờ ở đâu.
Phạm Đình Hổ là ai
Ông người làng Đan Loan, huyện Đường An, trấn Hải Dương, tự Tùng Niên, hiệu Đông Dã Tiều, người đời gọi là Chiêu Hổ. Sống qua những năm biến động nhất: Lê – Trịnh suy, Tây Sơn ra Bắc, nhà Nguyễn lập. Ông không đỗ đạt cao thời Lê, sống bằng dạy học; đến đời Minh Mạng được vời vào Huế, làm việc ở Viện Hàn lâm, rồi làm Tế tửu Quốc Tử Giám, sau xin về.
Ông để lại hơn hai mươi tác phẩm, từ địa chí, điển chế, thơ văn đến một sách bàn Kinh Dịch tên Hi Kinh Lãi Trắc (lấy vỏ sò mà đong biển, tên khiêm tốn), nối vào dòng Dịch học của nhà Nho Việt mà Lê Quý Đôn là gương mặt lớn trước ông. Hai tập ghi chép nổi tiếng nhất là Vũ Trung Tùy Bút, khoảng chín mươi mục, và Tang Thương Ngẫu Lục, viết chung với bạn là Nguyễn Án.
Lời bác thuyết long mạch: "kê cứu không được rộng"
Mục "Xét về địa mạch và nhân vật" là chỗ ông bàn thẳng với các nhà phong thuỷ. Ông chấp nhận khung lớn của phép xem đất: núi sông có mạch, địa thế liên quan đến nhân vật một vùng. Ông còn so địa thế nước ta với Trung Hoa và kết luận "địa thế nước ta, toàn thể cũng giống nước Trung Hoa, chỉ có nhỏ hơn mà thôi".
Nhưng khi các nhà địa lý nói có ba cán long từ núi Côn Lôn chạy ra, trong đó một cán chạy về sông Áp Lục, ông phản bác bằng tư liệu địa lý: dẫn các chuyến khảo sát, bản đồ để chỉ ra sông ấy không bắt nguồn như thế, và viết rằng chia ra ba cán long "một cách võ đoán như vậy, thì có thể biết cái thuyết ấy kê cứu không được rộng". Ông còn giải thích vì sao có thuyết ấy: các triều Kim, Nguyên, Thanh lấy núi Tràng Bạch làm tổ sơn, nên "những nhà phong thuỷ tưởng rằng núi ấy, long khí chung đúc sinh ra những đấng quân chủ".
Điểm bén của đoạn này: Phạm Đình Hổ không bác phong thuỷ bằng lý lẽ đạo đức như nhiều nhà Nho khác ("đức hơn đất"), mà bằng địa lý thực. Long mạch là một tuyên bố về núi sông; đã là tuyên bố về núi sông thì phải khớp với bản đồ. Đây là cách đọc gần với tinh thần khảo chứng hơn là tinh thần thuật số. Bài Tả Ao cho thấy dân gian Việt nhìn thầy địa lý khác hẳn: bằng giai thoại, không bằng bản đồ.
Gò đất làng Đình Tổ: "không thể lấy lý mà lường"
Nhưng ở mục "Gò đất làng Đình Tổ", giọng ông đổi khác. Ông ghi rằng các thầy phong thuỷ xem thế gò ở đó, một gò Thổ giữa, hai bên "lại có hai gò kim tinh chồng nhau", cho là hình "hai ông thần đồng ngồi giảng sách". Dân làng kể đêm đêm nghe tiếng trẻ đọc sách ở đó, đến khoảng năm 1767 – 1768 thì im. Ông nêu mấy cách giải (thần đã xuất thế, khí đã tụ hay đã tán) rồi chịu: "Điều đó không thể lấy lý mà lường được."
Đặt hai mục cạnh nhau sẽ thấy ranh giới ông vạch: thuyết lớn về long mạch mà sai địa lý thì ông bác; một chuyện làng mà ông không kiểm được thì ông ghi lại, không tin hẳn, không bác hẳn.
Kiêng ngày trùng tang: lấy điển lễ làm thước
Mục "Cái thói kiêng ngày trùng tang, trùng phục" ghi tục: nhà có người mất vào ngày trùng tang, trùng phục thì hay có tang liên tiếp, phải mời thầy phù thuỷ về làm phép trong lễ liệm. Ông kể lại một chuyện nghe được (một viên huyện thừa bắn hạ con chim lạ trên mộ mới, nhà có tang được yên), rồi viết:
"Ta xét trong điển lễ, không biết tại cớ gì, bụng vẫn không cho là phải."
và nhắc rằng "nhà nho ta vẫn không tin".
Thước đo của ông là điển lễ, tức sách lễ của Nho gia. Một tục không có trong điển lễ thì đáng ngờ, dù có chuyện kể làm chứng. Đây là kiểu hoài nghi rất Nho: không phải hoài nghi theo thực nghiệm, mà hoài nghi theo kinh điển. Người đọc hôm nay có thể không dùng điển lễ làm thước, nhưng cái thói quen hỏi "điều này dựa vào đâu" thì vẫn đáng giữ. Về các tục ngày kiêng nói chung, xem chuyên mục ngày tốt xấu.
Số mệnh và giấc mộng: tin mà không hiểu
Mục "Mộng và số" kể chuyện một người bà con là Mậu Hiên: lá số có nhiều cát tinh hội, nhưng tổ phụ ông xem số đã đoán "danh với thọ không thể vẹn cả đôi đường", đỗ cao thì không thọ. Người ấy đỗ đầu thi Hương rồi mất khoảng năm mươi tuổi. Ông viết: "ta không hiểu là tại sao". Cũng mục ấy, ông ghi giấc mộng năm 1790 thấy bảng thi có tên những người đã mất, tỉnh dậy "không hiểu ra ý làm sao".
Ở đây không có lời bác. Ông ghi như ghi một sự việc lạ có thật trong nhà mình. Điều đáng chú ý là ông không suy ra quy luật: không nói "lá số luôn đúng", chỉ nói "chuyện này đã xảy ra và ta không hiểu".
Điềm trời: chỗ ông tin nhất
Mục "Việc tai dị" ghi một loạt chuyện lạ những năm 1770: lửa xanh trên bãi sông, mặt trời đỏ như chia đôi năm 1774, rồng trắng hiện, đất nứt. Ông kể hồi trẻ nghe chuyện như thế thì "cho là chuyện vu vơ", nhưng sống qua thời loạn thì đọc lại khác, và kết luận: nhà nước hưng vong vốn có số, trời lấy điềm quái dị để răn. Ông còn trách người thấy điềm mà không tâu vua.
Mục "Điềm cây đa" ghi cây đa làng hễ trong làng có người đỗ đại khoa thì mọc rễ quấn quanh thân "như là đeo đai"; năm 1772 rễ quấn nửa vòng, đúng năm Võ Đôn Hương đỗ. Ông thốt lên: cây cỏ vô tri mà báo tin không sai, "cũng lạ thay!". Còn mục "Điềm quái gở" ghi đứa trẻ hai đầu sinh năm 1805 ở Tiên Lữ, ông chỉ viết "không biết là điềm quái gở gì".
Đây là phần thiên nhân cảm ứng của Nho học: trời và người ứng với nhau, việc nước có điềm trời báo. Với một nhà Nho, tin điềm trời không mâu thuẫn với việc bác thầy phong thuỷ: điềm trời thuộc về đạo trời trong kinh điển (Kinh Thư, Xuân Thu đều ghi điềm), còn thuyết long mạch là thuật của thầy, phải chịu kiểm.
Một bản đồ niềm tin
Gom lại, có thể vẽ "bản đồ niềm tin" của Phạm Đình Hổ:
| Loại chuyện | Thái độ | Thước đo |
|---|---|---|
| Thuyết long mạch có sai địa lý | bác | bản đồ, khảo cứu |
| Tục kiêng ngày trùng tang, làm phép trấn | không tin | điển lễ |
| Chuyện lạ ở làng, gò đất thiêng | ghi lại, không quyết | "không thể lấy lý mà lường" |
| Số mệnh trong nhà, giấc mộng | ghi lại, nhận là không hiểu | kinh nghiệm riêng |
| Điềm trời báo việc nước | tin | kinh điển, thiên nhân cảm ứng |
Bảng này cho thấy ông không phải "người duy lý" theo nghĩa hiện đại, cũng không phải người mê tín. Ông có những thước đo, và áp chúng khá nhất quán. Đó chính là giá trị của Vũ Trung Tùy Bút với người quan tâm đến huyền học: nó cho thấy một trí thức Việt cụ thể sống cùng thuật số ra sao, chứ không chỉ cho thấy thuật số trong sách.
Còn Tang Thương Ngẫu Lục, viết chung với Nguyễn Án, có chín mươi thiên ghi chuyện người, chuyện việc cuối Lê. Bài này chưa đối chiếu được từng thiên của sách ấy, nên không dẫn chi tiết; người quan tâm nên đọc bản dịch của Trúc Khê.
Sách cổ nói gì
子不語怪、力、亂、神。 Tử bất ngữ quái, lực, loạn, thần.
Khổng Tử không nói về chuyện quái lạ, sức mạnh, loạn nghịch, thần linh. — Luận Ngữ, thiên Thuật Nhi
Bình: đây là câu nhà Nho hay dẫn để giữ khoảng cách với chuyện lạ. Phạm Đình Hổ làm ngược với câu ấy ở bề mặt: ông ghi rất nhiều chuyện quái. Nhưng ông ghi theo lối của người chép sử, có năm tháng, có người kể, và thường dừng ở "không biết là gì", "không hiểu tại sao". "Không nói" ở đây được hiểu là không đem chuyện quái ra làm thuyết, chứ không phải không chép.
"Ta xét trong điển lễ, không biết tại cớ gì, bụng vẫn không cho là phải." — Vũ Trung Tùy Bút, mục Cái thói kiêng ngày trùng tang, trùng phục (bản dịch Nguyễn Hữu Tiến)
"Nay lại phân ra thành ba cán long một cách võ đoán như vậy, thì có thể biết cái thuyết ấy kê cứu không được rộng." — Vũ Trung Tùy Bút, mục Xét về địa mạch và nhân vật
Bình: hai câu, hai thước đo: một bên là sách lễ, một bên là khảo cứu địa lý. Cả hai đều là cách hỏi "điều này dựa vào đâu".
Đọc cho đúng mức
- Vũ Trung Tùy Bút là tuỳ bút, không phải chuyên luận. Ông ghi điều nghe thấy; nhiều chuyện chỉ có một người kể.
- Các trích dẫn trong bài theo bản dịch tiếng Việt của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến (đăng trên Nam Phong), chưa đối chiếu với nguyên văn chữ Hán; câu chữ có thể khác ở các bản dịch khác.
- Tin điềm trời không có nghĩa là ông đúng. Những điềm ông ghi được đọc sau khi việc đã xảy ra (Tây Sơn ra Bắc, người đỗ đại khoa); đó là kiểu đọc hồi cố mà bài hiệu ứng Barnum và các bài cảnh giác của site đã bàn.
- Đừng biến ông thành nhà khoa học. Ông bác một thuyết long mạch bằng địa lý, nhưng vẫn giữ ý địa thế ứng với nhân vật.
- Tang Thương Ngẫu Lục chưa được bài này đọc kỹ từng thiên; mọi khẳng định về nội dung sách ấy cần kiểm lại.
Việc nên làm
- Đọc Vũ Trung Tùy Bút bản dịch Nguyễn Hữu Tiến (có trên Wikisource tiếng Việt), bắt đầu từ các mục XI, XXXI, LIII, LXXI, LXXIII, LXXIV.
- Khi đọc, tự lập bảng như trong bài: chuyện gì ông tin, chuyện gì ông ngờ, và thước đo của ông là gì.
- Áp câu hỏi "điều này dựa vào đâu" của ông vào những lời đồn phong thuỷ, ngày kiêng hôm nay.
- Đọc thêm bài Tả Ao để thấy cách dân gian nhìn thầy địa lý khác cách nhà Nho nhìn.
- Người làm nghiên cứu nên đối chiếu nguyên bản chữ Hán trước khi trích dẫn chính thức.
Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?
Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.
Xem lịch các thầyNguồn tham khảo
- Phạm Đình Hổ, Vũ Trung Tùy Bút, bản dịch Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến (Wikisource tiếng Việt), các mục XI, XII, XXXI, XXXVI, LIII, LXXI, LXXIII, LXXIV.
- Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án, Tang Thương Ngẫu Lục (thông tin chung về sách; đại ý).
- Luận Ngữ, thiên Thuật Nhi (đối chiếu bản số hoá).
Câu hỏi thường gặp
Vũ Trung Tùy Bút là sách gì?
Là tập tuỳ bút khoảng chín mươi mục của Phạm Đình Hổ, ghi chuyện phong tục, lễ nghi, khoa cử, nhân vật, chuyện lạ ở Bắc Hà cuối Lê, đầu Nguyễn.
Phạm Đình Hổ có tin phong thuỷ không?
Ông chấp nhận ý địa thế ứng với nhân vật, nhưng bác thuyết ba cán long từ Côn Lôn vì sai địa lý, gọi là "kê cứu không được rộng". Với chuyện thiêng ở làng, ông ghi lại và nói không thể lấy lý mà lường.
Phạm Đình Hổ nói gì về kiêng ngày trùng tang?
Ông ghi tục ấy và chuyện kể đi kèm, nhưng viết rằng xét trong điển lễ không thấy căn cứ, nên trong bụng không cho là phải; nhà Nho vẫn không tin.
Ông có tin điềm báo không?
Có, nhất là điềm trời báo việc nước: ông cho rằng trời dùng điềm quái dị để răn. Ông cũng kinh ngạc trước chuyện cây đa làng "báo" người đỗ đại khoa.
Tang Thương Ngẫu Lục khác Vũ Trung Tùy Bút thế nào?
Tang Thương Ngẫu Lục do Phạm Đình Hổ viết chung với Nguyễn Án, gồm chín mươi thiên chép chuyện người, chuyện việc cuối Lê; Vũ Trung Tùy Bút là tuỳ bút riêng của ông, thiên về phong tục, lễ nghi, khoa cử.
Nguồn tham khảo: Phạm Đình Hổ — Vũ Trung Tùy Bút (bản dịch Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến) — các mục Xét về địa mạch và nhân vật; Mộng và số; Điềm quái gở; Cái thói kiêng ngày trùng tang, trùng phục; Việc tai dị; Điềm cây đa; Gò đất làng Đình Tổ; Đêm rằm tháng tám · Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án — Tang Thương Ngẫu Lục · Luận Ngữ — thiên Thuật Nhi