Nguyễn Hiến Lê và "Kinh Dịch – Đạo của người quân tử": đọc Dịch như sách sống ở đời
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc
"Kinh Dịch – Đạo của người quân tử" là cuốn Nguyễn Hiến Lê (1912 – 1984) viết vào cuối đời, đọc Kinh Dịch như một sách về cách sống và xử thế, gần như bỏ hẳn phần bói. Lời giảng sáng, có phần nhập môn về cấu trúc quẻ hào, nên đây là cửa vào dễ nhất cho người mới. Cái giá là người đọc chỉ thấy một nửa của Dịch.
Người viết: học giả tự học và bộ sách triết Trung Hoa
Nguyễn Hiến Lê học ngành công chánh, làm việc ở Nam Bộ, rồi chuyển hẳn sang viết, dịch và làm nhà xuất bản ở Sài Gòn. Cả đời ông để lại hơn trăm đầu sách: sách học làm người, sách luyện văn, sử, và một loạt sách về triết học Trung Hoa như Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Trang Tử, Tuân Tử, Hàn Phi Tử, Mặc học, cuốn Đại cương triết học Trung Quốc viết chung với Giản Chi.
Kinh Dịch đến sau cùng trong loạt ấy. Ông viết nó sau năm 1975, khi đã đọc và viết về gần hết chư tử, và sách chỉ được in sau khi ông mất. Đặt cuốn Kinh Dịch vào cả bộ sách mới hiểu cách ông đọc: ông không hỏi "quẻ này báo lành hay dữ", ông hỏi "người xưa muốn dạy gì về cách sống".
Cái tên sách lấy từ đâu
Chữ "quân tử" trong tên sách không phải chữ ông tự đặt cho kêu. Nó nằm ngay trong một phần của Kinh Dịch: Đại Tượng truyện, tức câu bình hình tượng chung của mỗi quẻ. Câu Đại Tượng có khuôn cố định: hai quẻ đơn tạo thành hình ảnh gì, rồi "người quân tử lấy đó mà…".
Đếm cả sáu mươi tư câu Đại Tượng, chủ ngữ của vế sau phân bố như sau:
| Chủ ngữ | Số quẻ | Các quẻ |
|---|---|---|
| Quân tử (người quân tử) | 53 | các quẻ còn lại |
| Tiên vương (các vua đời trước) | 7 | Tỷ, Dự, Quan, Phệ Hạp, Phục, Vô Vọng, Hoán |
| Hậu (bậc vua) | 2 | Thái, Cấu |
| Đại nhân | 1 | Ly |
| Thượng (người trên) | 1 | Bác |
Hơn tám phần mười quẻ kết bằng một lời dạy cho người quân tử, tức người có học muốn sống cho phải. Nguyễn Hiến Lê chọn đúng lớp văn bản này làm trục đọc cả bộ kinh. Tên sách vì thế là một tuyên bố phương pháp.
Đại Tượng: mỗi quẻ một lời dạy xử thế
Vài ví dụ để thấy vì sao cách đọc này dễ đi vào người mới:
| Quẻ | Hình tượng | Lời dạy (đại ý Đại Tượng) |
|---|---|---|
| Càn | trời vận hành mạnh mẽ | tự mình gắng sức không ngừng |
| Khôn | thế đất thuận | lấy đức dày mà chở muôn vật |
| Khiêm | núi ở dưới đất | bớt chỗ nhiều, bù chỗ ít, cân vật mà chia cho đều |
| Đại Súc | trời ở trong núi | học nhiều lời nói việc làm của người xưa để nuôi đức |
| Di | dưới núi có sấm | cẩn thận lời nói, tiết độ ăn uống |
| Tổn | dưới núi có đầm | nén giận, ngăn dục |
| Ích | gió và sấm | thấy điều lành thì theo, có lỗi thì sửa |
Một người chưa biết hào, biết ứng, chưa từng gieo quẻ, đọc bảng này vẫn hiểu và dùng được. Đó là lý do cuốn sách hợp người mới: nó cho người đọc thu hoạch ngay từ trang đầu, không bắt học cả hệ thuật ngữ rồi mới được hiểu.
Ông giữ gì, bỏ gì
Theo lời giới thiệu của chính sách và cách sách được trình bày, có thể tóm như sau:
Giữ và làm kỹ:
- Phần nhập môn: nguồn gốc Kinh Dịch, phần kinh và phần truyện, cấu trúc quẻ đơn, quẻ kép, sáu hào, các phái đọc Dịch.
- Lời Thoán, lời hào và Đại Tượng của 64 quẻ, giảng bằng văn hiện đại, nhấn vào bài học nhân sinh.
- Đối chiếu bản dịch của Phan Bội Châu và lời chú Trình, Chu khi cần.
Lướt qua hoặc bỏ:
- Kỹ thuật bói: cỏ thi, gieo tiền, cách chọn hào động chỉ được nói sơ lược.
- Các lớp tượng số sau này như nạp giáp, hỗ quái, phi phục, những thứ mà người dùng Dịch để đoán việc phải học (xem lục hào là gì).
- Những lời hào khó, tối nghĩa thì ông nói thẳng là khó, ghi các thuyết rồi để ngỏ, không cố giải cho tròn.
Điểm cuối đáng quý: một học giả dám viết "chỗ này không hiểu chắc" là điều hiếm ở sách Dịch phổ thông.
Vì sao hợp người mới, và thiếu gì
Hợp vì:
- Văn rõ, câu ngắn, không cần biết chữ Hán.
- Có lộ trình: đọc phần giới thiệu, rồi 64 quẻ theo thứ tự, mỗi quẻ tự đứng được.
- Không dọa, không hứa, không dạy "quẻ này đi buôn được lời".
Thiếu vì:
- Dịch vốn là sách bói. Chu Hy, người mà mọi nhà Nho Việt học theo, khẳng định Dịch được làm ra trước hết để bói, phần nghĩa lý là lớp sau (xem Chu Hy và Dịch học). Đọc chỉ bằng Đại Tượng là đọc lớp truyện đời sau, không phải lời quẻ gốc.
- Lời hào gốc nhiều chỗ rất cụ thể: đi săn, cưới gả, đánh trận, cúng tế. Biến hết thành bài học đạo đức là bỏ mất màu sắc lịch sử của văn bản thời Chu.
- Người muốn dùng Dịch để suy xét một việc cụ thể sẽ phải tìm thêm sách khác.
Sách cổ nói gì
Dịch hữu thánh nhân chi đạo tứ yên: dĩ ngôn giả thượng kỳ từ, dĩ động giả thượng kỳ biến, dĩ chế khí giả thượng kỳ tượng, dĩ bốc phệ giả thượng kỳ chiêm.
Dịch: Dịch có bốn đạo của thánh nhân: dùng để nói năng thì chuộng lời của nó, dùng để hành động thì chuộng sự biến đổi của nó, dùng để chế đồ vật thì chuộng hình tượng của nó, dùng để bói thì chuộng lời đoán của nó. — Chu Dịch, Hệ Từ thượng
Bình: ngay trong Kinh Dịch đã nói có bốn cách dùng. Nguyễn Hiến Lê chọn hẳn cách thứ nhất và thứ hai: lấy lời để nói, lấy biến để biết hành động. Ông không sai, ông chỉ chọn. Người đọc nên biết mình đang đọc một lựa chọn.
Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức.
Dịch: Trời vận hành mạnh mẽ; người quân tử theo đó mà tự mình gắng sức không ngừng. — Chu Dịch, Đại Tượng quẻ Càn
Bình: câu đầu tiên của Đại Tượng cũng là câu tóm cả tinh thần cuốn sách: Dịch là để sống cho mạnh, không phải để biết trước rồi ngồi chờ.
Đọc cho đúng mức
- Đây là sách nhập môn có lập trường, không phải bản dịch học thuật trung lập; chọn Đại Tượng làm trục là chọn lớp truyện đời sau.
- Không có các nghiên cứu văn bản mới như Chu Dịch Mã Vương Đôi, thẻ tre thời Chiến Quốc; sách viết theo tri thức của học giới trước những năm 1980.
- Người học bói Dịch nghiêm túc cần thêm sách về lục hào, Mai Hoa; người học sâu kinh văn cần thêm bản chữ Hán có lời chú.
- Đánh giá "hợp người mới" là đánh giá về văn và cách trình bày, không có nghĩa sách nông: phần nhập môn của ông vẫn là bản tóm cấu trúc Dịch gọn và đúng hiếm có bằng tiếng Việt.
Việc nên làm
- Đọc phần giới thiệu trước, rồi đọc mỗi ngày một quẻ; ghi lại câu Đại Tượng vào sổ, sau 64 ngày bạn có một bộ châm ngôn của riêng mình.
- Khi đã quen, đọc cùng quẻ ấy trong bản Phan Bội Châu (xem Phan Bội Châu và bộ Chu Dịch) để thấy lời chú Tống sâu hơn ra sao.
- Thử gieo một quẻ cho việc đang nghĩ, nhưng đọc nó theo lối Nguyễn Hiến Lê: không hỏi lành dữ, chỉ hỏi Đại Tượng khuyên mình làm gì.
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Nguồn tham khảo
- Nguyễn Hiến Lê — Kinh Dịch, Đạo của người quân tử (lời giới thiệu và cách trình bày; đại ý).
- Chu Dịch — Đại Tượng truyện 64 quẻ; Hệ Từ thượng (đoạn "bốn đạo của thánh nhân").
- Chu Hy — Chu Dịch Bản Nghĩa (quan điểm Dịch vốn là sách bói; đại ý).
Câu hỏi thường gặp
Sách Kinh Dịch của Nguyễn Hiến Lê có dạy bói không?
Gần như không. Phần kỹ thuật bói chỉ được nói sơ lược; trọng tâm là lời quẻ, lời hào và Đại Tượng đọc như bài học xử thế.
Vì sao tên sách là "Đạo của người quân tử"?
Vì 53 trong 64 câu Đại Tượng kết bằng lời dạy "người quân tử lấy đó mà…". Nguyễn Hiến Lê lấy lớp văn bản này làm trục đọc cả bộ kinh.
Người mới học Kinh Dịch nên đọc cuốn này trước không?
Nên. Văn sáng, có phần nhập môn về quẻ hào và không đòi biết chữ Hán. Sau đó nên đọc thêm một bản đủ lời chú như của Phan Bội Châu hoặc Ngô Tất Tố.
Cuốn sách được viết và in khi nào?
Ông viết sau năm 1975, vào những năm cuối đời. Sách được in sau khi ông mất năm 1984.
Đọc Dịch như sách đạo đức có làm mất gì không?
Có. Kinh Dịch gốc là sách bói thời Chu, lời hào nhiều chỗ nói việc rất cụ thể. Đọc chỉ bằng nghĩa lý là bỏ qua lớp lịch sử và lớp dùng để suy xét việc.
Nguồn tham khảo: Nguyễn Hiến Lê — Kinh Dịch, Đạo của người quân tử · Chu Dịch — Đại Tượng truyện; Hệ Từ thượng · Chu Hy — Chu Dịch Bản Nghĩa