Ngũ cách tính danh (Thiên, Nhân, Địa, Ngoại, Tổng cách): dùng cho tên tiếng Việt được không

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc

Ngũ cách tính danh (Thiên, Nhân, Địa, Ngoại, Tổng cách): dùng cho tên tiếng Việt được không

Ngũ cách tính danh là phép xét tên bằng tổng số nét chữ Hán, chia thành Thiên cách, Nhân cách, Địa cách, Ngoại cách, Tổng cách rồi tra bảng 81 số. Phép này do Kumasaki Kenō dựng ở Nhật đầu thế kỷ hai mươi. Tên tiếng Việt viết bằng chữ Quốc ngữ, không có số nét chuẩn, nên cùng một tên có thể ra ba kết quả trái nhau.

Năm cách tính thế nào

Công thức cho tên một chữ họ, hai chữ tên (họ đơn, tên kép), là dạng gần với tên Việt "họ + đệm + tên" nhất:

CáchCông thứcSách tính danh gán cho
Thiên cáchnét chữ họ + 1gốc tổ tiên, thường không xét tốt xấu
Nhân cáchnét chữ họ + nét chữ thứ hai"chủ vận", được coi nặng nhất
Địa cáchnét chữ thứ hai + nét chữ thứ batuổi trẻ, nền tảng
Ngoại cáchTổng cách − Nhân cách + 1quan hệ bên ngoài
Tổng cáchtổng nét cả ba chữhậu vận, tổng thể

Tên đơn (hai chữ) thì Địa cách bằng nét chữ tên + 1 và Ngoại cách luôn bằng 2. Mỗi cách ra một con số, đem tra bảng 81 số để biết số ấy tốt hay xấu. Ba cách Thiên, Nhân, Địa còn được đổi ra ngũ hành theo chữ số cuối (1, 2 Mộc; 3, 4 Hoả; 5, 6 Thổ; 7, 8 Kim; 9, 0 Thủy) để xét "tam tài" sinh hay khắc.

Phép này từ đâu ra

Theo truyền thống các sách tính danh, phép ngũ cách "có từ xưa ở Trung Hoa". Văn bản hiện còn cho thấy một lịch sử ngắn hơn nhiều. Người dựng hệ thống là Kumasaki Kenō (熊崎健翁, Hùng Kỳ Kiện Ông), ở Nhật, công bố khoảng năm 1929. Ông ghép ba thứ: cách đếm nét theo Khang Hy tự điển, khung "Thiên, Nhân, Địa" mượn từ thuyết tam tài, và bảng 81 số với lời đoán tốt xấu cho từng số. Từ Nhật, phép này sang Đài Loan, Hồng Kông qua bản dịch và sách phóng tác, rồi vào sách đặt tên tiếng Việt và các trang mạng hiện nay.

Về bảng 81 số, sách tính danh hay nói gốc ở bộ Hồng Phạm Hoàng Cực của Thái Trầm đời Tống. Bộ sách ấy có một hệ 81 số thật, nhưng dùng để diễn nghĩa lý thiên Hồng Phạm; bảng cát hung gắn 81 số vào tên người là phần của trường phái Kumasaki. Các sách mệnh cổ như Tử Bình, Tử Vi không có ngũ cách.

Số nét "Khang Hy" khác số nét viết tay

Ngũ cách đứng hay ngã ở số nét. Tính danh học không dùng số nét viết tay mà dùng số nét "Khang Hy": bộ thủ viết gọn phải tính về dạng đầy đủ của nó. Vài bộ hay gặp:

Bộ viết gọnTính nhưNét viết tayNét Khang Hy
氵 (ba chấm thủy)水34
艹 (thảo đầu)艸3 hoặc 46
阝 bên trái阜2 hoặc 38
扌 (tài gảy)手34
忄 (tâm đứng)心34

Riêng bộ 阝 đã có ba con số. Chuẩn chữ Hán ở Trung Quốc đại lục đếm nó hai nét; chuẩn Đài Loan và Nhật đếm ba nét; tính danh Khang Hy tính tám nét vì quy về chữ 阜. Bảng đầy đủ các bộ bị tính khác nhau có ở bài số nét chữ Hán trong tính danh.

Một tên Việt, ba bộ số, ba kết luận

Lấy tên rất phổ biến Nguyễn Minh Anh, viết chữ Hán 阮明英. Số nét mỗi chữ theo ba cách đếm:

ChữĐếm kiểu đại lụcĐếm kiểu Đài LoanKhang Hy (tính danh)
Nguyễn 阮6 (阝 hai nét)7 (阝 ba nét)12 (阜 tám nét)
Minh 明888
Anh 英8 (艹 ba nét)9 (艹 bốn nét)11 (艸 sáu nét)

Đem vào công thức:

CáchĐại lụcĐài LoanKhang Hy
Thiên cách7813
Nhân cách141520
Địa cách161719
Ngoại cách91012
Tổng cách222431

Theo bảng 81 số phổ biến trong sách tính danh Đài Loan, Nhân cách, cái "chủ vận" mà sách coi nặng nhất, ra ba lời khác nhau: 14 là số xấu, 15 là số tốt, 20 là số xấu. Tổng cách 22 xấu, 24 tốt, 31 tốt. Cùng một cái tên, cùng một bảng tra, chỉ đổi cách đếm một bộ thủ là bé từ "tên tốt" thành "tên xấu" hay ngược lại.

Chưa hết. Âm "Minh" có thể là 明 (sáng, 8 nét) hay 銘 (khắc ghi, 14 nét). Đổi sang 銘 thì Nhân cách Khang Hy thành 26, Địa cách thành 25, cả bảng lại khác. Giấy khai sinh Việt Nam không ghi chữ Hán, nên người tính phải tự chọn chữ nào, trong khi chính người mang tên có khi không biết mình là Minh nào.

Tên Việt vướng thêm ba chỗ

  1. Tên bốn chữ trở lên. Công thức Kumasaki làm cho tên Nhật (họ một hoặc hai chữ, tên một hoặc hai chữ). Tên Việt như "Tôn Nữ Minh Anh", "Nguyễn Thị Minh Khai" có bốn chữ; người tính phải tự ghép đệm vào họ hay vào tên, mỗi cách ra một bộ số khác.
  2. Tên thuần Việt. Mây, Nắng, Bống không có chữ Hán. Một số trang đếm nét chữ cái Quốc ngữ; cách này không có nguồn nào, bàn kỹ ở bài ngũ hành tên thuần Việt.
  3. Chữ Thị, chữ Văn. Hai chữ đệm này (氏, 文) đều bốn nét, rất nhiều người có. Thêm hay bớt một chữ đệm làm Địa cách và Tổng cách đổi hẳn, nên đổi tên đệm theo ngũ cách là chuyện hay gặp mà không có căn cứ vững (bài tên đệm Văn, Thị).

Ngũ cách đặt cạnh Bát Tự

Ngũ cách tính danhĐặt tên theo Bát Tự
GốcNhật, khoảng 1929Tử Bình (Tống), phần tên là tập quán về sau
Đầu vàosố nét chữ Hángiờ, ngày, tháng, năm sinh
Phụ thuộc chữ Hánhoàn toànchỉ ở bước chọn chữ
Với tên Việtkhông có số nét chuẩn, kết quả đổi theo cách đếmtính được, chọn chữ theo nghĩa và bộ
Kết luận cho một đứa trẻgiống nhau với mọi trẻ cùng tênriêng theo tám chữ của trẻ

Nếu cha mẹ muốn xét tên theo một hệ có gốc mệnh lý, Bát Tự là lựa chọn đứng vững hơn (bài đặt tên con theo Bát Tự).

Sách cổ nói gì

Ngũ cách không có trong sách cổ, nên phần này nói về hai thứ ngũ cách hay viện tới.

Khang Hy tự điển (1716) xếp chữ theo 214 bộ thủ, mỗi chữ ghi bộ và số nét phần ngoài bộ. Đó là một cách sắp chữ để tra, không phải một phép đoán tên; "số nét Khang Hy" trong tính danh là cách đọc lại từ điển ấy theo một quy ước mới (quy bộ viết gọn về dạng đầy đủ).

Câu hay được các trang đặt tên dẫn là:

名不正,則言不順;言不順,則事不成。

"Danh không chính thì lời không thuận; lời không thuận thì việc không thành." — Luận Ngữ, thiên Tử Lộ.

Bình: Khổng Tử nói câu này khi Tử Lộ hỏi việc chính sự nước Vệ, chữ "danh" ở đây là danh phận, tên gọi đúng cho từng vai trong xã hội, không phải tên riêng của một người. Dùng câu ấy để bán phép chấm số nét là dẫn sai ngữ cảnh.

Đọc cho đúng mức

  • Ngũ cách là một hệ có cấu trúc rõ, dùng nhất quán được với tên Nhật, tên Hoa viết bằng chữ Hán có chuẩn. Với tên Việt, nó thiếu chính đầu vào cơ bản nhất là một con số nét được mọi người công nhận.
  • Ngay trong giới tính danh Đài Loan, Nhật cũng có nhiều phái: phái tính theo Khang Hy, phái tính theo chữ đang viết, phái thêm "số ảo" cho tên một chữ. Bảng 81 số cũng có vài chỗ các sách xếp khác nhau.
  • Không có nghiên cứu nào cho thấy tổng số nét của tên liên quan tới sức khoẻ, học hành hay thu nhập.
  • Nếu đã thích một cái tên vì nghĩa, đừng bỏ nó chỉ vì một bảng tra cho "xấu" theo một cách đếm.

Việc nên làm

  • Nếu vẫn muốn xem ngũ cách, hãy ghi rõ chữ Hán của từng chữ trong tên và cách đếm nét đang dùng; không có hai thứ đó thì kết quả không so được với ai.
  • Dùng ngũ cách, nếu có, chỉ để loại tên mà mọi cách đếm đều ra xấu, không dùng để chọn.
  • Đặt nghĩa và âm lên trước: tên đọc thuận khi ghép với họ, nghĩa đẹp, dễ viết (bài kiểm tên trước khi đặt).
  • Muốn có một lớp mệnh lý cho tên, lập Bát Tự của bé và chọn chữ theo dụng thần.
🀄Lá số Bát Tự (Tứ Trụ)
Bốn trụ năm tháng ngày giờ theo tiết khí, Thập Thần, ngũ hành vượng suy.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Luận Ngữ — thiên Tử Lộ, câu "danh bất chính tắc ngôn bất thuận" (nguyên văn).
  • Khang Hy tự điển (1716) — hệ 214 bộ thủ và cách ghi số nét (đại ý).
  • Cơ sở dữ liệu chữ Hán Unihan của Unicode — số nét, bộ thủ của các chữ 阮, 明, 英, 銘; mã Adobe-Japan1 ghi bộ 阝 ba nét.
  • Bảng 81 số theo các sách tính danh Đài Loan phổ biến (phái Kumasaki); vài con số được các sách xếp khác nhau.

Câu hỏi thường gặp

Ngũ cách tính danh có phải của người Trung Quốc xưa không?

Không. Hệ thống ngũ cách với bảng 81 số do Kumasaki Kenō dựng ở Nhật khoảng năm 1929, rồi mới sang Đài Loan, Hồng Kông và Việt Nam. Sách mệnh cổ Trung Hoa không có phép này.

Nhân cách là gì trong tính danh?

Là tổng nét chữ họ và chữ đầu của tên (với tên Việt thường là chữ đệm). Sách tính danh coi đây là "chủ vận", cách quan trọng nhất trong năm cách.

Tên tiếng Việt tính số nét theo cách nào?

Không có cách chuẩn. Phải tự gán chữ Hán cho từng chữ, rồi chọn đếm theo Khang Hy, theo chuẩn Đài Loan hay đại lục; mỗi lựa chọn cho một bộ số khác, như ví dụ Nguyễn Minh Anh trong bài.

Tên bị chấm "xấu" theo ngũ cách có nên đổi không?

Không nên chỉ vì lý do đó. Kết quả ngũ cách đổi theo cách đếm nét và chữ Hán được chọn; một tên có nghĩa đẹp, gọi quen rồi thì giá trị của nó lớn hơn một con số tra bảng.

Ngũ cách và Bát Tự nên dùng cái nào khi đặt tên?

Bát Tự đứng vững hơn vì tính theo tám chữ riêng của đứa trẻ. Ngũ cách, nếu dùng, chỉ nên là lớp lọc phụ để tránh tên mà mọi cách đếm đều cho xấu.

Nguồn tham khảo: Luận Ngữ — thiên Tử Lộ · Khang Hy tự điển (1716) — hệ 214 bộ thủ · Cơ sở dữ liệu chữ Hán Unihan (Unicode) — số nét, bộ thủ; mã Adobe-Japan1 ghi bộ 阝 tính ba nét

Tên đệm Văn, Thị: từ đâu ra, vì sao ngày càng ít dùng và đặt tên đệm thế nào cho hợpTên đệm Thị và Văn từ đâu ra: chữ 氏 vốn chỉ dòng họ, cách sử sách ghi tên phụ nữ thời Lê – Nguyễn, vì sao nay ít dùng và bốn việ…
Số nét chữ Hán trong tính danh: tính theo Khang Hy hay giản thể, bộ Thủy tính 3 hay 4 nétCách tính số nét chữ Hán trong tính danh: bảng các bộ bị quy đổi (氵 4 nét, 艹 6 nét, 阝 7 hoặc 8 nét), giản thể, phồn thể và một…
Tên tự, tên hiệu của người xưa: Nguyễn Bỉnh Khiêm hiệu Bạch Vân, Nguyễn Du tự Tố NhưTên tự, tên hiệu là gì: hệ danh, tự, hiệu, thụy theo Lễ Ký, bốn cách đặt tự theo nghĩa của danh, mười danh nhân Việt có tư liệu v…
Đặt tên con theo ngũ hành: lấy dụng thần chứ không lấy mệnh nămĐặt tên con theo ngũ hành: vì sao bổ hành theo mệnh năm sinh là sai, cách lấy dụng thần từ Bát Tự của bé, và bảng chữ Hán Việt th…
Đặt tên quán, tên cửa hàng: xét ngũ hành tên với ngành hàng và ba bước kiểm thực tếĐặt tên cửa hàng hợp mệnh: ba bước kiểm trước (trùng nhãn hiệu, đọc lái, tên miền và tài khoản mạng), rồi mới xét ngũ hành theo d…
Đặt tên theo con giáp, kiêng chữ có bộ "xung tuổi": lối này từ đâu và có căn cứ khôngĐặt tên theo con giáp từ đâu ra: lối sinh tiếu tính danh học của sách đặt tên hiện đại, không có trong sách mệnh cổ; một chữ bị c…