Tên tự, tên hiệu của người xưa: Nguyễn Bỉnh Khiêm hiệu Bạch Vân, Nguyễn Du tự Tố Như
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 10 phút đọc
Người xưa có nhiều tên cho nhiều chặng đời: danh (tên cha mẹ đặt), tự (tên đặt khi trưởng thành, thường giải nghĩa cho danh, để người khác gọi cho kính), hiệu (tên tự chọn theo nơi ở, chí hướng), và thụy (tên đặt sau khi mất). Nguyễn Du tên là Du, tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên; Nguyễn Bỉnh Khiêm tự Hanh Phủ, hiệu Bạch Vân cư sĩ.
Bài này giải hệ thống ấy theo Lễ Ký, chỉ ra bốn cách người xưa đặt tự sao cho "khớp" với danh, kèm mười danh nhân Việt có tư liệu, rồi gợi ý dùng lối nghĩ ấy để chọn một bút danh hôm nay.
Bốn chặng của một cái tên
Lễ Ký, thiên Đàn Cung, gói cả hệ thống trong một câu: lúc nhỏ có danh, đội mũ (lễ trưởng thành) thì có tự, năm mươi tuổi gọi theo thứ bậc anh em, mất thì có thụy; đó là lề lối nhà Chu.
| Tên | Ai đặt | Khi nào | Dùng để làm gì |
|---|---|---|---|
| Danh (tên húy) | cha mẹ | lúc nhỏ | tự xưng với người trên; người dưới tránh gọi thẳng |
| Tự | cha, thầy, bậc trưởng thượng | lễ đội mũ (nam khoảng 20 tuổi), nữ khi hứa gả | bạn bè, người ngang hàng gọi cho kính |
| Hiệu (biệt hiệu) | tự mình chọn, hoặc người đời tặng | bất cứ lúc nào | thể hiện nơi ở, chí hướng, tính cách; ký tên trên thơ văn |
| Thụy | triều đình, học trò, gia đình | sau khi mất | tóm một đời người trong một, hai chữ |
Quy tắc dùng tên nằm ở thiên Khúc Lễ: trước mặt cha thì con xưng danh, trước mặt vua thì bề tôi xưng danh. Danh là tên để tự hạ mình; người khác gọi thẳng danh của mình là điều không phải. Vì thế mới cần tự: một cái tên thứ hai để bạn bè gọi mà vẫn giữ lễ. Tục kỵ húy của người Việt, như kiêng gọi tên ông bà, cũng mọc từ gốc này (kiêng đặt tên trùng ông bà).
Tự phải "khớp" với danh: bốn cách
Nhan Chi Thôi đời Bắc Tề viết trong gia huấn một câu gọn: danh để định thân, tự để nói cái đức. Tự không đặt tùy ý; nó thường giải thích, mở rộng, hay đối lại với danh. Có bốn lối hay gặp:
| Cách | Ý | Ví dụ |
|---|---|---|
| Đồng nghĩa | tự nhắc lại nghĩa của danh bằng chữ khác | Gia Cát Lượng (lượng: sáng) tự Khổng Minh (minh: sáng) |
| Bổ nghĩa, nối nghĩa | tự đi tiếp ý của danh, hoặc cùng một trường nghĩa | Phan Huy Chú (chú: rót, tưới) tự Lâm Khanh (lâm: mưa dầm) |
| Phản nghĩa | tự đối lại danh để cân bằng | Chu Hy (hy: sáng) tự Nguyên Hối (hối: tối); Hàn Dũ (dũ: vượt hơn) tự Thoái Chi (thoái: lui) |
| Lấy điển | danh và tự cùng gợi một câu sách, một nhân vật | Ngô Thì Nhậm tự Hy Doãn (mong như Y Doãn); Cao Bá Quát tự Chu Thần |
Ngoài nghĩa, tự còn hay mang chữ chỉ thứ bậc anh em: Bá hoặc Mạnh (cả), Trọng (thứ hai), Thúc (thứ ba), Quý (út). Khổng Tử tự Trọng Ni vì là con thứ. Và hay có thêm một chữ "đẹp" cho đàn ông như Phủ (甫), Chi (之), Khanh (卿).
Nhìn bảng sẽ thấy một điều: đọc được tự là đọc được một phần học vấn của gia đình đặt nó. Tự đặt theo điển cần người đặt thuộc sách; người đọc tự cũng phải thuộc sách mới thấy cái hay.
Danh nhân Việt: danh, tự, hiệu
Bảng dưới gồm mười người có tên tự, cộng Nguyễn Trãi chỉ có hiệu, đều là những tên được chép thống nhất trong các sách tiểu sử phổ biến. Cột "chỗ khớp" là cách đọc của chúng tôi, chỉ ghi khi mối liên hệ giữa danh và tự rõ ràng.
| Người | Danh | Tự | Hiệu | Chỗ khớp giữa danh và tự |
|---|---|---|---|---|
| Chu Văn An (thế kỷ 14) | An | Linh Triệt | Tiều Ẩn | hiệu nghĩa là ở ẩn làm tiều phu; ông về ẩn ở Chí Linh |
| Nguyễn Trãi (1380–1442) | Trãi | Ức Trai | hiệu theo tên phòng: "Trai" là phòng học, chỗ tĩnh | |
| Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) | Bỉnh Khiêm (giữ khiêm) | Hanh Phủ | Bạch Vân cư sĩ | điển: Kinh Dịch quẻ Khiêm mở đầu "Khiêm, hanh" (khiêm thì hanh thông) |
| Lê Quý Đôn (1726–1784) | Quý Đôn | Doãn Hậu | Quế Đường | đồng nghĩa: đôn và hậu đều là dày dặn, trung hậu |
| Ngô Thì Nhậm (1746–1803) | Thì Nhậm | Hy Doãn | Đạt Hiên | điển: Mạnh Tử gọi Y Doãn là "bậc thánh gánh vác" (nhậm); tự là "mong như Y Doãn" |
| Nguyễn Du (1765–1820) | Du | Tố Như | Thanh Hiên | mối liên hệ chưa có lời giải thống nhất |
| Nguyễn Công Trứ (1778–1858) | Công Trứ | Tồn Chất | Ngộ Trai, Hy Văn | |
| Phan Huy Chú (1782–1840) | Huy Chú | Lâm Khanh | Mai Phong | cùng trường nghĩa nước: rót, tưới và mưa dầm |
| Cao Bá Quát (?–1855) | Bá Quát | Chu Thần | Cúc Đường, Mẫn Hiên | điển: Bá Quát là tên một trong "tám kẻ sĩ nhà Chu" trong Luận Ngữ, nên tự là "bề tôi nhà Chu" |
| Nguyễn Đình Chiểu (1822–1888) | Đình Chiểu (chiểu: ao) | Mạnh Trạch | Trọng Phủ, Hối Trai | đồng loại: ao và đầm; Mạnh chỉ thứ bậc |
| Nguyễn Khuyến (1835–1909) | Khuyến (khuyên) | Miễn Chi | Quế Sơn | đồng nghĩa: khuyến và miễn đều là khuyên gắng; hiệu theo tên núi quê |
Ba điều đọc ra từ bảng:
- Hiệu hay mang tên căn phòng: Trai (phòng học), Hiên (hiên nhà), Đường (gian nhà): Ức Trai, Ngộ Trai, Hối Trai, Thanh Hiên, Đạt Hiên, Mẫn Hiên, Quế Đường, Cúc Đường. Đặt hiệu là đặt tên cho "chỗ ngồi" tinh thần của mình.
- Hiệu hay mang tên đất: Bạch Vân (tên am của Nguyễn Bỉnh Khiêm), Quế Sơn (núi ở quê Nguyễn Khuyến), Mai Phong. Hiệu kiểu này nói "tôi thuộc về chỗ này".
- Tên có thể đổi theo đời người. Nguyễn Khuyến tên lúc nhỏ là Nguyễn Thắng, sau thi hỏng mới đổi thành Khuyến (khuyên) với tự Miễn Chi (gắng lên), như một lời tự nhắc. Lê Quý Đôn thuở nhỏ tên Lê Danh Phương.
Ngoài ra còn những hiệu tự trào như Hải Thượng Lãn Ông (ông lười ở Hải Thượng) của Lê Hữu Trác, hay hiệu theo nữ sĩ như Hồng Hà nữ sĩ của Đoàn Thị Điểm.
Danh nhân Trung Hoa để so
Để thấy bốn lối đặt tự không phải chuyện riêng của người Việt: Khổng Tử tên Khâu, tự Trọng Ni (Ni là núi Ni Khâu, Trọng là con thứ); Gia Cát Lượng tự Khổng Minh (đồng nghĩa); Chu Hy tự Nguyên Hối (phản nghĩa), hiệu Hối Am; Hàn Dũ tự Thoái Chi (phản nghĩa); Tô Thức hiệu Đông Pha cư sĩ theo tên khu đất ông cày cấy khi bị đày. Người Việt học lối ấy cùng với chữ Hán và Nho học, rồi đặt theo điển của chính mình, như Cao Bá Quát, Ngô Thì Nhậm.
Còn dùng được hôm nay: chọn một bút danh
Tên tự đã thôi dùng ở Việt Nam từ khi Nho học tàn, nhưng lối nghĩ của nó vẫn hữu ích khi người ta cần một bút danh, một tên trên mạng, một tên hiệu cho quán trà, phòng sách. Ba cách lấy thẳng từ bảng trên:
- Theo lối tự: lấy tên thật làm gốc, tìm một chữ Hán Việt cùng nghĩa hay nối nghĩa. Tên An có thể nối với Tĩnh, Hòa; tên Minh nối với Quang, Chiêu; tên Thủy (nước) nối với Lâm (mưa), Hà (sông). Người quen đọc sẽ thấy dấu tên thật; người lạ thấy một cái tên có nghĩa.
- Theo lối hiệu tên phòng: chọn một chữ chỉ chí hướng hay tính cách, ghép với Trai, Hiên, Đường, Am, Lư. Ví dụ "Tĩnh Hiên" (hiên yên), "Thận Trai" (phòng cẩn trọng).
- Theo lối hiệu tên đất: lấy tên núi, sông, làng quê. Đây là lối giản dị và ít trùng nhất.
Trước khi dùng, kiểm hai việc: chữ Hán Việt đó có nghĩa gốc đúng ý mình không (chọn chữ Hán Việt cho tên), và có trùng hiệu một danh nhân hay một thương hiệu có sẵn không. Bút danh trùng hiệu người nổi tiếng dễ bị coi là mượn danh.
Sách cổ nói gì
Ấu danh, quan tự, ngũ thập dĩ bá trọng, tử thụy, Chu đạo dã.
Dịch: Nhỏ thì đặt danh, đội mũ thì đặt tự, năm mươi tuổi gọi theo thứ bậc bá trọng, mất thì đặt thụy; đó là lề lối nhà Chu. — Lễ Ký, thiên Đàn Cung thượng
Nam tử nhị thập, quan nhi tự. Phụ tiền tử danh, quân tiền thần danh. Nữ tử hứa giá, kê nhi tự.
Dịch: Con trai hai mươi tuổi đội mũ thì đặt tự. Trước cha, con xưng danh; trước vua, bề tôi xưng danh. Con gái hứa gả thì cài trâm và đặt tự. — Lễ Ký, thiên Khúc Lễ thượng
Quan nhi tự chi, kính kỳ danh dã.
Dịch: Đội mũ rồi đặt tự cho, là để kính cái danh. — Lễ Ký, thiên Giao Đặc Sinh
Cổ giả, danh dĩ chính thể, tự dĩ biểu đức.
Dịch: Người xưa, danh để định thân mình, tự để nêu cái đức. — Nhan Thị Gia Huấn, quyển 2, thiên Phong Thao
Bình: bốn câu này đủ để hiểu vì sao tự gắn với nghĩa của danh. Danh là "cái thân", riêng tư, kính trọng nên tránh gọi; tự là "cái đức", phô ra cho người khác gọi, nên phải nói được điều gì đó về người mang nó. Lễ Ký cũng cho thấy con gái có tự, dù sử sách về sau ít ghi tự của phụ nữ.
Ba câu điển cho các ví dụ trong bảng: Luận Ngữ, thiên Vi Tử: "Chu hữu bát sĩ: Bá Đạt, Bá Quát…" (nhà Chu có tám kẻ sĩ: Bá Đạt, Bá Quát…). Mạnh Tử, thiên Vạn Chương hạ: "Y Doãn, thánh chi nhậm giả dã" (Y Doãn là bậc thánh biết gánh vác). Chu Dịch, quẻ Khiêm: "Khiêm, hanh, quân tử hữu chung" (khiêm thì hanh thông, người quân tử giữ được đến cùng).
Đọc cho đúng mức
- Cột "chỗ khớp" là cách đọc, không phải lời của người đặt. Ít khi sách chép lại vì sao một người có tự ấy; những mối nối chúng tôi ghi là những mối rõ ràng về chữ nghĩa và điển cố. Với Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Chu Văn An, chúng tôi để trống vì không thấy một lời giải được thống nhất.
- Năm sinh, năm mất một số người còn có ý kiến khác nhau (như Chu Văn An, Cao Bá Quát); bảng ghi theo cách phổ biến.
- Tên tự, tên hiệu không thuộc lý số. Không có phép tính số nét hay ngũ hành nào cho tự và hiệu trong sách cổ; người xưa chọn chúng theo nghĩa và điển.
- Hiệu, biệt hiệu, bút danh dễ lẫn. Một người có thể có nhiều hiệu ở nhiều giai đoạn; các sách chép số lượng và thứ tự khác nhau.
Việc nên làm
- Muốn hiểu tên một danh nhân, tra cả danh, tự, hiệu cùng lúc; tự thường giải nghĩa cho danh.
- Khi cần bút danh, thử ba lối: nối nghĩa tên thật, tên căn phòng, tên quê; viết ra chữ Hán và kiểm nghĩa gốc.
- Với tên khai sinh của con, các mối nối kiểu tự (như tên anh em cùng một trường nghĩa) là một cách đặt tên có chiều sâu, nhẹ nhàng hơn mọi phép tính số nét (số nét chữ Hán trong tính danh).
- Nếu đang muốn đổi tên vì lý do vận số, đọc trước bài đổi tên có đổi vận không.
Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?
Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.
Xem lịch các thầyNguồn tham khảo
- Lễ Ký — thiên Khúc Lễ thượng, Đàn Cung thượng, Giao Đặc Sinh (nguyên văn, đối chiếu Wikisource tiếng Trung).
- Nhan Chi Thôi, Nhan Thị Gia Huấn, quyển 2, thiên Phong Thao (nguyên văn câu "danh dĩ chính thể, tự dĩ biểu đức").
- Luận Ngữ, thiên Vi Tử; Mạnh Tử, thiên Vạn Chương hạ; Chu Dịch, quẻ Khiêm (nguyên văn các câu dẫn).
- Danh, tự, hiệu các danh nhân Việt theo cách chép phổ biến trong sách tiểu sử, từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam; cột "chỗ khớp" là cách đọc của người viết.
Câu hỏi thường gặp
Tên tự là gì?
Là tên đặt cho người đến tuổi trưởng thành (nam khoảng 20 tuổi khi làm lễ đội mũ, nữ khi hứa gả), để bạn bè, người ngang hàng gọi cho kính, tránh gọi thẳng tên cha mẹ đặt. Tự thường giải nghĩa hoặc đối nghĩa với danh.
Tên hiệu khác tên tự thế nào?
Tự do bậc trên đặt và gắn với nghĩa của danh; hiệu thường do chính người ấy chọn, theo nơi ở, tên căn phòng, chí hướng, và một người có thể có nhiều hiệu. Ví dụ Nguyễn Du tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên.
Nguyễn Bỉnh Khiêm có tên tự là gì?
Nguyễn Bỉnh Khiêm tự Hanh Phủ, hiệu Bạch Vân cư sĩ. Danh "Bỉnh Khiêm" (giữ khiêm) và tự "Hanh" cùng gợi câu mở đầu quẻ Khiêm trong Kinh Dịch: "Khiêm, hanh" (khiêm thì hanh thông).
Thụy hiệu là gì?
Là tên đặt sau khi một người mất, tóm cả đời người ấy trong một hai chữ, thường do triều đình ban cho vua quan, hoặc do học trò, gia đình đặt cho thầy. Chu Văn An, chẳng hạn, được ban thụy Văn Trinh.
Ngày nay có nên đặt tên tự cho mình không?
Không cần theo nghi lễ cũ, nhưng lối nghĩ của tên tự rất hợp để chọn bút danh: lấy một chữ Hán Việt nối nghĩa với tên thật, hoặc đặt hiệu theo tên căn phòng, tên quê. Nên kiểm nghĩa gốc của chữ và tránh trùng hiệu người nổi tiếng.
Nguồn tham khảo: Lễ Ký — thiên Khúc Lễ thượng, thiên Đàn Cung thượng, thiên Giao Đặc Sinh · Nhan Thị Gia Huấn — Nhan Chi Thôi — quyển 2, thiên Phong Thao · Luận Ngữ — thiên Vi Tử · Mạnh Tử — thiên Vạn Chương hạ · Chu Dịch — quẻ Khiêm