Phan Bội Châu và bộ Chu Dịch viết trong những năm bị giam lỏng ở Huế
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc
Phan Bội Châu (1867 – 1940) dịch và giảng trọn sáu mươi tư quẻ Chu Dịch trong mười lăm năm bị Pháp giam lỏng ở Bến Ngự, Huế. Bộ sách theo sát lời chú của Trình Di và Chu Hy, xen lời bàn riêng của một nhà cách mạng già. Hôm nay nó vẫn là một trong những bản Kinh Dịch tiếng Việt đầy đủ và đáng tin nhất.
Hoàn cảnh: một người tù được phép đọc sách
Năm 1925, Phan Bội Châu bị bắt ở Thượng Hải, giải về Hà Nội, bị xử khổ sai chung thân. Phong trào phản đối trong cả nước khiến chính quyền thuộc địa phải ân xá, nhưng đưa cụ về Huế, cho ở một căn nhà nhỏ ở dốc Bến Ngự, có mật thám canh giữ. Cụ sống ở đó tới khi mất ngày 29 tháng 10 năm 1940. Người Huế gọi cụ là "Ông già Bến Ngự".
Mười lăm năm ấy là quãng cụ viết nhiều nhất về học thuật. Ngoài thơ văn và tập tự truyện Phan Bội Châu niên biểu, cụ soạn sách về Khổng học và bộ Chu Dịch. Không được hoạt động, không được đi xa, cụ quay về với bộ kinh mà nhà Nho nào cũng coi là sâu nhất. Bộ sách chỉ được in sau khi cụ mất; có nơi ghi tên đầy đủ là Chu Dịch quốc văn diễn giải.
Một hình ảnh có sẵn trong lịch sử Dịch
Người học Dịch xưa ai cũng thuộc câu của Tư Mã Thiên: "Văn Vương câu nhi diễn Chu Dịch", Văn Vương bị giam mà diễn ra Chu Dịch. Theo truyền thống, Chu Văn Vương bị vua Trụ giam ở ngục Dũ Lý và trong ngục đã xếp ra sáu mươi tư quẻ (xem Chu Văn Vương). Việc ấy là truyền thuyết; văn bản không xác minh được.
Ba nghìn năm sau, một nhà Nho Việt bị giam lỏng ngồi giảng lại chính bộ sách ấy. Chúng tôi không thấy cụ Phan tự so mình với Văn Vương, nhưng người đọc hôm nay khó không nghĩ tới sự trùng hợp. Nó giúp ta hiểu vì sao Dịch hấp dẫn người trong cảnh bế tắc: đó là bộ sách viết về thời, về lúc nên ẩn, lúc nên động, và về chuyện tình thế nào rồi cũng đổi.
Cách cụ trình bày một quẻ
Mỗi quẻ trong bộ sách đi theo một trình tự gần như cố định:
- Hình quẻ, tên quẻ, nguyên văn chữ Hán lời Thoán, lời hào.
- Phiên âm Hán Việt và dịch nghĩa sát chữ.
- Giảng theo Trình truyện (lời chú của Trình Di) và Bản Nghĩa (lời chú của Chu Hy), có khi đặt hai thuyết cạnh nhau khi chúng khác.
- Lời bàn riêng của cụ: liên hệ sang đạo làm người, chuyện dân, chuyện nước, có lúc sang chính thời cuộc cụ đang sống.
Lời giảng rất dài, nhiều quẻ kéo hàng chục trang. Văn là văn quốc ngữ những năm 1930, còn nhiều chữ Hán Việt cổ, câu dài, nhịp biền ngẫu. Người đọc trẻ sẽ thấy nặng, nhưng đó cũng là chất riêng của bộ sách.
Cụ đứng về phía nghĩa lý của Trình Di nhiều hơn phía tượng số (xem tượng số và nghĩa lý): mỗi hào là một bài học xử thế. Nhưng vì theo cả Chu Hy, người coi Dịch vốn là sách bói, bộ sách vẫn dùng được để tra lời quẻ khi gieo.
Ba quẻ đọc cùng đời cụ
Không cần gán lời cho cụ, chỉ cần đọc ba quẻ dưới đây cạnh tiểu sử cụ là thấy vì sao một nhà cách mạng già lại dồn sức cho Dịch.
Quẻ Khốn: khi bị vây hãm
Quẻ Khốn là đầm cạn nước, hình ảnh của cảnh cùng quẫn. Đại Tượng không khuyên tìm cách thoát bằng mọi giá, mà nói người quân tử ở cảnh ấy thì dốc hết mệnh mình để giữ trọn chí hướng. Với người đang bị giam lỏng, đó là lời gần như viết riêng.
Quẻ Minh Di: ánh sáng bị che
Quẻ Minh Di là mặt trời lặn vào trong đất. Thoán truyện nêu hai tấm gương: Văn Vương bên trong sáng suốt, bên ngoài mềm thuận, nhờ đó qua được nạn lớn; Cơ Tử giấu cái sáng của mình, trong lòng khó khăn mà vẫn giữ được chí chính. Đây là quẻ của người có tài phải sống dưới quyền kẻ khác mà không đánh mất mình.
Quẻ Cách: chữ "cách mệnh" từ đâu ra
Quẻ Cách là quẻ thay đổi. Thoán truyện có câu mà chữ "cách mệnh", "cách mạng" trong tiếng Việt bắt nguồn: vua Thang, vua Vũ thay mệnh trời, thuận với trời mà hợp lòng người. Phan Bội Châu dùng chữ "cách mệnh" từ những năm đầu thế kỷ hai mươi. Giảng quẻ Cách, cụ đang giảng gốc chữ của chính sự nghiệp mình. Lời Dịch cũng đặt điều kiện: thay đổi phải đúng thời, phải được lòng người, và "đến ngày mới tin", tức cần thời gian để người ta tin vào cái mới.
Giá trị của bộ sách hôm nay
| Mặt | Nhận xét |
|---|---|
| Độ đủ | dịch trọn 64 quẻ với lời Thoán, lời hào, Thoán truyện, Tượng truyện, kèm nguyên văn |
| Độ tin về lời chú | theo sát Trình truyện và Bản Nghĩa, hai bộ chú chính của học Dịch từ đời Tống tới đầu thế kỷ hai mươi |
| Chất riêng | lời bàn của một nhà yêu nước, hiếm có ở bản dịch nào khác |
| Khó khăn | văn cũ, dài; lời bàn riêng xen giữa lời chú, cần tách khi muốn biết kinh văn gốc nói gì |
| Dùng tốt cho | học sâu, đối chiếu lời chú; tra lời quẻ khi gieo |
Bài đọc Kinh Dịch bằng bản tiếng Việt nào so bản cụ Phan với các bản Ngô Tất Tố, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần. Ở đây chỉ thêm một lời khuyên: khi đọc bản cụ Phan, đánh dấu riêng đoạn nào là lời chú Tống, đoạn nào là lời cụ. Cả hai đều quý, nhưng là hai loại tư liệu khác nhau.
Sách cổ nói gì
Trạch vô thuỷ, Khốn. Quân tử dĩ trí mệnh toại chí.
Dịch: Đầm không có nước là quẻ Khốn. Người quân tử theo đó mà dốc hết mệnh mình để thành chí hướng. — Chu Dịch, Đại Tượng quẻ Khốn
Nội văn minh nhi ngoại nhu thuận, dĩ mông đại nạn, Văn Vương dĩ chi.
Dịch: Bên trong văn minh sáng suốt, bên ngoài mềm mỏng thuận theo, để chịu qua nạn lớn; Văn Vương đã làm như thế. — Chu Dịch, Thoán truyện quẻ Minh Di
Thang Vũ cách mệnh, thuận hồ thiên nhi ứng hồ nhân.
Dịch: Vua Thang, vua Vũ đổi mệnh, thuận theo trời mà ứng với lòng người. — Chu Dịch, Thoán truyện quẻ Cách
Văn Vương câu nhi diễn Chu Dịch.
Dịch: Văn Vương bị giam mà diễn ra Chu Dịch. — Tư Mã Thiên, Báo Nhậm An thư
Bình: bốn câu này không phải lời cụ Phan, nhưng là bốn câu cụ phải giảng, trong hoàn cảnh của cụ. Đọc chúng là hiểu vì sao bộ Chu Dịch Bến Ngự không chỉ là một bản dịch.
Đọc cho đúng mức
- Đây là bản dịch theo lời chú đời Tống, không phải bản dịch theo nghiên cứu văn bản hiện đại. Những phát hiện như bản Chu Dịch lụa ở Mã Vương Đôi hay các nghiên cứu về nghĩa gốc lời hào thời Chu chưa có trong sách (xem Chu Dịch Mã Vương Đôi).
- Lời bàn riêng mang dấu thời đại. Một số liên hệ chính trị đúng với những năm 1930 mà nay đọc cần đặt vào bối cảnh.
- Tên sách và lịch sử in ấn có nhiều cách ghi khác nhau giữa các lần in; chúng tôi chưa đối chiếu được bản in đầu.
- Đọc Dịch qua cụ Phan là đọc qua một nhà Nho. Người muốn dùng Dịch để gieo quẻ hằng ngày nên có thêm một bản gọn hơn để tra nhanh.
Việc nên làm
- Chọn ba quẻ Khốn, Minh Di, Cách, đọc trong bản cụ Phan rồi đọc tiểu sử cụ: đó là cách vào bộ sách có hứng thú nhất.
- Khi học sâu, đặt bản cụ Phan cạnh một bản chữ Hán có Trình truyện, Bản Nghĩa để thấy cụ dịch sát tới đâu.
- Nếu gieo quẻ, đọc lời hào trong bản cụ Phan sau khi đã tự đọc hình quẻ; lời giảng dài sẽ giúp nghĩ kỹ hơn, không phải để thay suy nghĩ của mình.
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Nguồn tham khảo
- Phan Bội Châu — Chu Dịch, dịch và giảng (các lần in sau năm 1940; đại ý).
- Phan Bội Châu — Phan Bội Châu niên biểu (hoàn cảnh những năm ở Huế; đại ý).
- Chu Dịch — Thoán truyện quẻ Cách, quẻ Minh Di; Đại Tượng quẻ Khốn.
- Tư Mã Thiên — Báo Nhậm An thư (câu "Văn Vương câu nhi diễn Chu Dịch").
Câu hỏi thường gặp
Phan Bội Châu viết bộ Chu Dịch khi nào?
Trong những năm bị giam lỏng ở Bến Ngự, Huế, từ cuối năm 1925 tới khi cụ mất năm 1940. Bộ sách được in sau khi cụ qua đời.
Bản Chu Dịch của Phan Bội Châu có đầy đủ 64 quẻ không?
Có. Cụ dịch và giảng trọn 64 quẻ, kèm nguyên văn chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa và lời giảng theo Trình Di, Chu Hy.
Bản này khác các bản Kinh Dịch tiếng Việt khác ở đâu?
Lời giảng dài, theo sát lời chú đời Tống, và có lời bàn riêng của cụ liên hệ sang chuyện dân, chuyện nước. Văn quốc ngữ những năm 1930 nên khó đọc hơn các bản về sau.
Chữ "cách mạng" có liên quan đến Kinh Dịch không?
Có. Chữ "cách mệnh" lấy từ Thoán truyện quẻ Cách: vua Thang, vua Vũ đổi mệnh trời, thuận trời và hợp lòng người. Tiếng Việt đọc thành "cách mệnh" rồi "cách mạng".
Người mới học có nên đọc bản Phan Bội Châu không?
Nên đọc sau một bản nhập môn dễ hơn. Khi đã quen cấu trúc quẻ hào, bản cụ Phan rất có ích để hiểu sâu lời chú và cách nhà Nho Việt đọc Dịch.
Nguồn tham khảo: Phan Bội Châu — Chu Dịch (dịch và giảng) · Chu Dịch — Thoán truyện quẻ Cách, quẻ Minh Di; Đại Tượng quẻ Khốn · Tư Mã Thiên — Báo Nhậm An thư · Phan Bội Châu — Phan Bội Châu niên biểu