Lê Quý Đôn và Kinh Dịch: Dịch Kinh Phu Thuyết, cuốn sách ít người biết của nhà bác học

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc

Lê Quý Đôn và Kinh Dịch: Dịch Kinh Phu Thuyết, cuốn sách ít người biết của nhà bác học

Dịch Kinh Phu Thuyết là tác phẩm về Kinh Dịch của Lê Quý Đôn (1726 – 1784), được xếp cùng Thư Kinh Diễn Nghĩa và Xuân Thu Lược Luận vào phần kinh học trong di sản của ông. Sách viết bằng chữ Hán, còn ghi tên Dịch Phu Tùng Thuyết, chưa có bản dịch quốc ngữ phổ biến nên rất ít người đọc, dù nó đánh dấu giai đoạn người Việt học Dịch bằng con mắt khảo cứu.

Năm 2026 và một góc khuất của nhà bác học

Năm 2026 là tròn ba trăm năm ngày sinh Lê Quý Đôn, và UNESCO đã đưa dịp này vào danh sách kỷ niệm danh nhân. Người ta nhắc nhiều tới Phủ Biên Tạp Lục (chép về xứ Đàng Trong), Kiến Văn Tiểu Lục, Vân Đài Loại Ngữ, Đại Việt Thông Sử. Ít ai nhắc rằng ông còn dành sức cho ba bộ kinh: Thư, Xuân Thu và Dịch.

Đó là chỗ bài này muốn soi. Không phải để thêm một lời tán dương, mà để đặt cuốn sách về Dịch vào đúng chỗ của nó, và nói rõ những gì ta biết, những gì chưa biết.

Người viết: đọc sách để khảo, không để thuộc

Lê Quý Đôn quê Diên Hà, trấn Sơn Nam (vùng Thái Bình cũ, nay thuộc Hưng Yên), đỗ Giải nguyên năm 1743, rồi đỗ đầu kỳ thi Hội và đỗ Bảng nhãn khoa năm 1752. Năm 1760 – 1762 ông đi sứ nhà Thanh; ở Bắc Kinh ông bút đàm với sứ thần Triều Tiên và đọc nhiều sách mới in bên Trung Hoa.

Cái làm ông khác phần đông nhà Nho đương thời không phải là đọc nhiều, mà là cách đọc: ông ghi chép, so sánh, nghi vấn. Tên các sách đã nói lên điều ấy:

SáchTên nghĩa làTinh thần
Quần Thư Khảo Biệnkhảo xét, biện luận các sáchsoát lại sử, sách, chỉ chỗ sai
Vân Đài Loại Ngữlời ghi theo loại ở Vân Đàighi chép bách khoa, xếp theo chủ đề, mở đầu bằng phần lý khí
Thư Kinh Diễn Nghĩagiảng rộng nghĩa Kinh Thưgiảng kinh theo từng thiên
Xuân Thu Lược Luậnbàn lược về Xuân Thuluận chứ không chú từng câu
Dịch Kinh Phu Thuyếtlời bàn nông cạn về Kinh Dịchtên khiêm tốn, theo lối nhà Nho

Tên sách nói gì

Chữ phu (膚) nghĩa đen là da, bề ngoài; "phu thuyết" là lời bàn ngoài da, nông cạn. Đây là lối đặt tên khiêm của học giả Đông Á: người viết tự nhận mình chỉ chạm được lớp ngoài của một bộ kinh sâu thẳm. Lối khiêm này hợp với chính Kinh Dịch, bộ sách mà Hệ Từ truyện thừa nhận chữ không nói hết lời, lời không nói hết ý.

Tên thứ hai, Dịch Phu Tùng Thuyết, thêm chữ tùng (叢), nghĩa là gom góp, tụ lại. "Tùng thuyết" là thể loại tập hợp các lời bàn theo điều mục, không phải một bộ chú giải liền mạch từ quẻ Càn tới quẻ Vị Tế. Nếu tên ấy phản ánh đúng nội dung, thì cuốn sách gần với lối ghi chép khảo luận của Vân Đài Loại Ngữ hơn là lối chú kinh của Phan Bội Châu hai thế kỷ sau.

Chúng tôi nói "nếu", vì cho tới nay chúng tôi chưa đọc trực tiếp văn bản. Các thư mục và bài giới thiệu về trước tác Lê Quý Đôn đều xếp sách vào nhóm triết học, ghi cả hai tên, nhưng không mô tả chi tiết cấu trúc từng quyển.

Vì sao ít người biết

  • Chưa có bản dịch phổ biến. Phần lớn người đọc Việt hôm nay tiếp cận Lê Quý Đôn qua bản dịch; sách nào chưa dịch thì gần như vô hình.
  • Danh tiếng sử học che mất kinh học. Ông được nhớ như nhà sử, nhà địa chí, nhà bách khoa; phần kinh học bị coi là "việc của nhà Nho", ít được giới thiệu.
  • Học Dịch ở Việt Nam chủ yếu dựa vào sách Trung Hoa. Thi cử thời Lê lấy Tứ Thư, Ngũ Kinh theo lời chú của Chu Hy và các bộ Đại Toàn đời Minh; người đi thi học bản chuẩn của triều đình, ít ai tìm đọc lời bàn riêng của một học giả Việt.
  • Kho Hán Nôm còn nhiều sách chưa khai thác. Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện giữ khoảng hai mươi tên sách của Lê Quý Đôn với nhiều bản chép khác nhau; không phải bản nào cũng đã được hiệu đính, in ra.

Lê Quý Đôn đọc vũ trụ thế nào: manh mối từ Vân Đài Loại Ngữ

Không đọc được Dịch Kinh Phu Thuyết, ta vẫn có manh mối về cách ông nghĩ qua phần lý khí mở đầu Vân Đài Loại Ngữ. Giới nghiên cứu, cả ở Việt Nam lẫn ở Đài Loan, đã có những công trình riêng về "lý khí luận" và "cách vật" của Lê Quý Đôn, cho thấy ông đứng trong khung Tống Nho của Chu Hy nhưng đặt nặng khí và việc khảo sát sự vật cụ thể.

Đó là điều quan trọng để đoán cách ông đọc Dịch. Dịch học đời Tống chia hai nhánh: nghĩa lý (Trình Di) và tượng số (Thiệu Ung, rồi Chu Hy dung hợp). Một người coi trọng khí và cách vật có lẽ sẽ quan tâm cả tượng số, tức hình quẻ, con số, Hà Đồ Lạc Thư, chứ không chỉ bài học đạo đức. Đây là giả thuyết, cần văn bản để kiểm.

Chỗ đứng trong dòng học Dịch của người Việt

Đặt Dịch Kinh Phu Thuyết vào một dòng dài, ta thấy nó nằm ở khúc chuyển:

ThờiNgười, sáchCách tiếp cận Dịch
LýThiền sư Vạn HạnhDịch hoà trong sấm, phương vị Bát Quái, tư tưởng thiền
Lê sơthi cử Ngũ Kinhhọc theo lời chú chuẩn của Chu Hy
MạcNguyễn Bỉnh KhiêmDịch thấm vào thơ: chữ Trung, lẽ thịnh suy
Lê Trung HưngLê Quý Đôn, Dịch Kinh Phu Thuyếtlời bàn khảo cứu của một học giả
Lê Trung HưngHải Thượng Lãn ÔngDịch làm khung lý luận y học
Tây SơnNgô Thì Nhậmdung hợp Dịch với Phật
Thế kỷ hai mươiPhan Bội Châu, Ngô Tất Tố, Nguyễn Hiến Lêdịch trọn bằng quốc ngữ, giảng cho đại chúng

Thế kỷ mười tám là lúc học giả Việt bắt đầu viết sách bàn về kinh của riêng mình, không chỉ học thuộc lời chú Trung Hoa. Lê Quý Đôn với ba bộ Thư, Xuân Thu, Dịch là người tiêu biểu nhất của khúc chuyển ấy. Dù nội dung cụ thể của Dịch Kinh Phu Thuyết còn chờ được giới thiệu, sự tồn tại của nó đã là một dữ kiện: người Việt có một tiếng nói riêng về Kinh Dịch từ giữa thế kỷ mười tám.

Sách cổ nói gì

Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý.

Dịch: Chữ viết không nói hết lời, lời nói không nói hết ý. — Chu Dịch, Hệ Từ thượng

Bình: Hệ Từ nói câu này rồi giải: vì thế thánh nhân mới dựng hình tượng để nói hết ý, đặt quẻ để nói hết thật giả. Một học giả đặt tên sách là "phu thuyết", lời bàn ngoài da, là đang đứng đúng chỗ câu này chỉ: biết chữ mình không chạm tới đáy.

Bách tính nhật dụng nhi bất tri.

Dịch: Trăm họ dùng hằng ngày mà không biết. — Chu Dịch, Hệ Từ thượng

Bình: câu nói về đạo, nhưng cũng đúng với chính Dịch học ở Việt Nam. Người Việt dùng chữ "cách mạng", "thái bình", "bĩ cực thái lai", xem ngày, gieo quẻ, mà ít ai biết đã có những người như Lê Quý Đôn ngồi viết sách bàn về bộ kinh ấy.

Đọc cho đúng mức

  • Chúng tôi chưa đọc trực tiếp văn bản Dịch Kinh Phu Thuyết. Những gì nói về nội dung trong bài là suy từ tên sách, từ cách xếp loại trong thư mục và từ các tác phẩm khác của ông; đã ghi rõ chỗ nào là giả thuyết.
  • Số quyển, năm soạn, ký hiệu kho của sách chúng tôi chưa kiểm được nên không ghi.
  • Lê Quý Đôn không làm thầy bói. Quan tâm của ông với Dịch là của nhà kinh học; gán cho ông các phép xem quẻ, xem ngày là không có cơ sở văn bản.
  • Khi một trang mạng trích "lời Lê Quý Đôn bàn về quẻ…", hãy hỏi trích từ bản nào. Rất có thể đó là lời gán.

Việc nên làm

  • Người đọc được chữ Hán có thể tìm bản chép Dịch Kinh Phu Thuyết, Dịch Phu Tùng Thuyết trong thư mục của Viện Nghiên cứu Hán Nôm; tra cả hai tên.
  • Người không đọc chữ Hán nên bắt đầu từ Vân Đài Loại Ngữ bản dịch, phần lý khí, để quen cách Lê Quý Đôn nghĩ về trời đất trước khi bàn chuyện Dịch.
  • Dịp kỷ niệm ba trăm năm là lúc tốt để các nhóm nghiên cứu công bố bản dịch; nếu bạn biết bản dịch nào đã in, hãy cho chúng tôi biết để cập nhật bài.

Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?

Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.

Xem lịch các thầy

Nguồn tham khảo

  • Lê Quý Đôn — Dịch Kinh Phu Thuyết, còn ghi Dịch Phu Tùng Thuyết (theo các thư mục trước tác Lê Quý Đôn; chưa đọc trực tiếp).
  • Lê Quý Đôn — Vân Đài Loại Ngữ (phần lý khí), Quần Thư Khảo Biện, Thư Kinh Diễn Nghĩa (đại ý).
  • Lâm Nguyệt Huệ — bài nghiên cứu về lý khí luận của Lê Quý Đôn (Viện Nghiên cứu Trung ương, Đài Bắc, 2009).
  • Chu Dịch — Hệ Từ thượng.

Câu hỏi thường gặp

Dịch Kinh Phu Thuyết là sách gì?

Là tác phẩm chữ Hán của Lê Quý Đôn bàn về Kinh Dịch, được xếp vào nhóm sách triết học, kinh học của ông cùng Thư Kinh Diễn Nghĩa và Xuân Thu Lược Luận.

Vì sao sách còn có tên Dịch Phu Tùng Thuyết?

Các bản chép và thư mục ghi hai tên. "Phu thuyết" là lời bàn nông cạn, tên khiêm tốn; "tùng thuyết" là lời bàn gom góp theo điều mục.

Đã có bản dịch tiếng Việt của Dịch Kinh Phu Thuyết chưa?

Chúng tôi chưa thấy bản dịch quốc ngữ phổ biến. Đây là lý do chính khiến sách ít được biết so với Phủ Biên Tạp Lục hay Vân Đài Loại Ngữ.

Lê Quý Đôn có xem bói bằng Kinh Dịch không?

Không có văn bản nào cho thấy điều đó. Ông tiếp cận Dịch như một nhà kinh học, khảo cứu, bàn luận, không như người làm nghề bói.

Lê Quý Đôn có vị trí gì trong lịch sử học Dịch ở Việt Nam?

Ông tiêu biểu cho giai đoạn thế kỷ mười tám, khi học giả Việt bắt đầu viết sách bàn riêng về kinh điển thay vì chỉ học thuộc lời chú Trung Hoa.

Nguồn tham khảo: Lê Quý Đôn — Dịch Kinh Phu Thuyết (còn ghi Dịch Phu Tùng Thuyết) · Lê Quý Đôn — Vân Đài Loại Ngữ; Quần Thư Khảo Biện; Thư Kinh Diễn Nghĩa · Chu Dịch — Hệ Từ thượng

Đào Duy Từ và Hổ Trướng Khu Cơ: binh pháp có phần độn giáp, bát quái và phép xem gióĐào Duy Từ và Hổ Trướng Khu Cơ: binh thư ba tập Thiên, Địa, Nhân; trận Bát môn kim tỏa mang tám cửa Kỳ Môn, cờ bát quái, phép xem…
Vân Đằng Thái Thứ Lang và Tử Vi Đẩu Số Tân Biên: cuốn sách định hình tử vi ViệtThái Thứ Lang và Tử Vi Đẩu Số Tân Biên (Sài Gòn, 1956): cấu trúc ba phần, những cách an sao làm nên phái Việt, kết quả đối chiếu …
Nguyễn Bỉnh Khiêm và lý số: Thái Ất, giai thoại và văn bản còn lạiNguyễn Bỉnh Khiêm và lý số: tách ba lớp văn bản ông viết, sử chép và giai thoại; đọc chữ Trung, chữ Nhàn trong thơ Bạch Vân Am nh…
Nguyễn Hiến Lê và "Kinh Dịch – Đạo của người quân tử": đọc Dịch như sách sống ở đờiKinh Dịch – Đạo của người quân tử của Nguyễn Hiến Lê: vì sao đọc Dịch như sách đạo đức, 53 quẻ Đại Tượng nói quân tử, chỗ mạnh vớ…
La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp: ẩn sĩ núi Thiên Nhẫn, giai thoại xem thiên văn và chuyện chọn đất Phượng Hoàng Trung ĐôLa Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp: ẩn sĩ được Quang Trung mời nhiều lần, lời đoán "không quá mười ngày", việc chọn đất Phượng Hoàng Trun…
Tả Ao (Nguyễn Đức Huyên): thầy địa lý của người Việt, một cái tên bốn cách ghiTả Ao, thầy địa lý nổi tiếng nhất của người Việt: tên thật mỗi sách ghi một kiểu, truyện sang Tàu học nghề, các sách ca quyết man…