"Thủy đa Kim trầm", "Mộc đa Hỏa xí": đủ hai mươi câu phản sinh, phản khắc của ngũ hành, mỗi câu một lá số minh hoạ
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 10 phút đọc
Phản sinh, phản khắc là những trường hợp quan hệ sinh khắc thông thường bị đảo ngược vì một bên quá nhiều hoặc quá ít. Sách Tử Bình gom thành hai mươi câu, chia bốn nhóm: mẹ nhiều thì con bị vùi (Thổ đa Kim mai), con nhiều thì mẹ kiệt (Thủy đa Kim trầm), bị khắc quá cứng thì kẻ khắc gãy (Mộc kiên Kim khuyết), yếu gặp khắc mạnh thì tan (Kim suy ngộ Hỏa).
Bài này chép đủ hai mươi câu, giải nghĩa từng câu, và kèm cho mỗi câu một lá số Bát Tự minh hoạ do công cụ lập trụ của site chọn ra. Năm câu "sinh quá hoá hại" đầu tiên đã được bàn kỹ ở bài tương sinh, tương khắc, tương thừa, tương vũ; năm câu "vượng gặp khắc mới thành" ở bài chế hoá trong ngũ hành.
Một nguyên tắc đứng sau cả hai mươi câu
Cả hai mươi câu chỉ nói một điều: sinh khắc là quan hệ có điều kiện về lượng. Tương sinh tốt khi vừa đủ; quá thì hại. Tương khắc có hiệu lực khi kẻ khắc đủ mạnh; nếu kẻ bị khắc mạnh hơn thì khắc quay ngược. Tố Vấn đã nói ý này, đại ý: khí có dư thì lấn hành mình thắng và khinh hành vốn thắng mình; khí không đủ thì bị cả hai bên khinh lấn.
Bốn nhóm câu ứng với bốn kiểu lệch:
| Nhóm | Kiểu lệch | Hình ảnh gia đình |
|---|---|---|
| 1. Sinh nhiều hoá hại | hành mẹ quá nhiều, hành con bị vùi | mẹ chăm quá, con không lớn nổi |
| 2. Sinh quá thì kiệt | hành con quá nhiều, hành mẹ bị rút cạn | con đông quá, mẹ kiệt sức |
| 3. Khắc ngược | hành bị khắc quá mạnh, kẻ khắc bị hỏng | đánh vào đá cứng, gãy tay |
| 4. Yếu gặp khắc | hành đã yếu lại gặp kẻ khắc mạnh | người ốm gặp gió lạnh |
Cách chúng tôi chọn lá số minh hoạ
Với mỗi câu, công cụ Bát Tự của site quét các ngày sinh (năm 1965 đến 2005, các giờ trong ngày) và chọn lá số đầu tiên thoả điều kiện: nhật chủ thuộc hành được nói tới, máy chấm thân nhược hoặc hơi nhược, và hành "gây hại" chiếm khoảng 40% trở lên (nhóm 4: khoảng 35% trở lên, đồng thời hành sinh cho nhật chủ ít). Tỷ lệ là con số máy cân sơ bộ theo tàng can, chi tháng nhân đôi. Ngày sinh chỉ để minh hoạ một câu, không phải luận đoán cho người sinh ngày ấy. Ngày, can chi đã đối chiếu với phép tính số ngày Julius.
Nhóm 1: sinh nhiều hoá hại (mẹ nhiều, con vùi)
| Câu | Nghĩa | Lá số minh hoạ (giờ, ngày sinh · tứ trụ) | Máy cân |
|---|---|---|---|
| Kim lại Thổ sinh, Thổ đa Kim mai | Kim nhờ Thổ sinh, Thổ nhiều thì Kim bị chôn | 5:30 ngày 13/6/1973 · Quý Sửu, Mậu Ngọ, Canh Thìn, Kỷ Mão | Thổ 42, Kim 12 |
| Thổ lại Hoả sinh, Hoả đa Thổ tiêu | Thổ nhờ Hoả sinh, Hoả nhiều thì Thổ cháy khô | 5:30 ngày 13/3/1977 · Đinh Tỵ, Quý Mão, Kỷ Tỵ, Đinh Mão | Hoả 36, Mộc 33, Thổ 13 |
| Hoả lại Mộc sinh, Mộc đa Hoả xí | Hoả nhờ Mộc sinh, Mộc nhiều thì Hoả bốc rực (bản khác: Hoả nghẹt) | 5:30 ngày 18/11/1984 · Giáp Tý, Ất Hợi, Bính Thìn, Tân Mão | Mộc 43, Hoả 11 |
| Mộc lại Thuỷ sinh, Thuỷ đa Mộc phiêu | Mộc nhờ Thuỷ sinh, Thuỷ nhiều thì Mộc trôi | 17:30 ngày 13/1/1993 · Nhâm Thân, Quý Sửu, Giáp Ngọ, Quý Dậu | Thủy 43, Mộc 11 |
| Thuỷ lại Kim sinh, Kim đa Thuỷ trọc | Thuỷ nhờ Kim sinh, Kim nhiều thì Thuỷ đục | 17:30 ngày 13/10/1977 · Đinh Tỵ, Canh Tuất, Quý Mão, Tân Dậu | Kim 43, Thủy 11 |
(Can in đậm là nhật chủ.) Ví dụ thứ hai cho thấy giới hạn của việc quét máy: ngoài Hoả 36% còn có Mộc 33% sinh Hoả, nên khối Hoả – Mộc cùng đè lên Kỷ Thổ; về lý thì đúng thế "Hoả đa Thổ tiêu", nhưng một thầy Bát Tự sẽ còn xét tháng Mão (Mộc vượng) trước khi kết luận.
Câu thứ ba có dị bản đáng biết: bản thông hành chép "Mộc đa Hoả xí" (lửa bốc rực), một số bản chép "Mộc đa Hoả tắc/trất" (lửa nghẹt). Bài tương sinh tương khắc đã giải vì sao cả hai đều đúng với bếp củi tuỳ sức lửa ban đầu, và theo bản "nghẹt" cho thế nhật chủ Hoả nhược. Ở đây chúng tôi chép chữ "xí" của bản thông hành và ghi kèm dị bản.
Nhóm 2: sinh quá thì kiệt (con nhiều, mẹ cạn)
| Câu | Nghĩa | Lá số minh hoạ | Máy cân |
|---|---|---|---|
| Kim năng sinh Thuỷ, Thuỷ đa Kim trầm | Kim sinh được Thuỷ, Thuỷ nhiều thì Kim chìm | 9:30 ngày 13/12/1967 · Đinh Mùi, Nhâm Tý, Tân Hợi, Quý Tỵ | Thủy 52, Kim 14 |
| Thuỷ năng sinh Mộc, Mộc thịnh Thuỷ súc | Thuỷ sinh được Mộc, Mộc thịnh thì Thuỷ co cạn | 5:30 ngày 8/2/1965 · Ất Tỵ, Mậu Dần, Quý Tỵ, Ất Mão | Mộc 47, Thủy 11 |
| Mộc năng sinh Hoả, Hoả đa Mộc phần | Mộc sinh được Hoả, Hoả nhiều thì Mộc cháy rụi | 21:30 ngày 23/5/1978 · Mậu Ngọ, Đinh Tỵ, Ất Dậu, Đinh Hợi | Hoả 43, Mộc 14 |
| Hoả năng sinh Thổ, Thổ đa Hoả hối | Hoả sinh được Thổ, Thổ nhiều thì Hoả tối mờ | 21:30 ngày 13/10/1968 · Mậu Thân, Nhâm Tuất, Bính Thìn, Kỷ Hợi | Thổ 43, Hoả 13 |
| Thổ năng sinh Kim, Kim đa Thổ biến | Thổ sinh được Kim, Kim nhiều thì Thổ đổi chất | 17:30 ngày 3/4/1971 · Tân Hợi, Tân Mão, Mậu Ngọ, Tân Dậu | Kim 44, Thổ 14 |
Trong Bát Tự, nhóm này là thế "thực thương (con) quá nặng, thân nhược bị tiết khí": nhật chủ phải nuôi quá nhiều thứ nó sinh ra. Hình ảnh đời thường: một người tài hoa, sáng tạo nhiều mà sức không kịp, dễ kiệt.
Nhóm 3: khắc ngược (bị khắc quá mạnh, kẻ khắc gãy)
| Câu | Nghĩa | Lá số minh hoạ | Máy cân |
|---|---|---|---|
| Kim năng khắc Mộc, Mộc kiên Kim khuyết | Kim khắc được Mộc, Mộc cứng quá thì Kim mẻ | 13:30 ngày 18/3/1965 · Ất Tỵ, Kỷ Mão, Tân Mùi, Ất Mùi | Mộc 47, Kim 14 |
| Mộc năng khắc Thổ, Thổ trọng Mộc chiết | Mộc khắc được Thổ, Thổ dày quá thì Mộc gãy | 9:30 ngày 23/6/1968 · Mậu Thân, Mậu Ngọ, Giáp Tý, Kỷ Tỵ | Thổ 42, Mộc 11 |
| Thổ năng khắc Thuỷ, Thuỷ đa Thổ lưu | Thổ khắc được Thuỷ, Thuỷ nhiều quá thì Thổ trôi | 17:30 ngày 8/2/1972 · Nhâm Tý, Nhâm Dần, Kỷ Tỵ, Quý Dậu | Thủy 44, Thổ 14 |
| Thuỷ năng khắc Hoả, Hoả viêm Thuỷ chước | Thuỷ khắc được Hoả, Hoả rực quá thì Thuỷ bị nung cạn | 13:30 ngày 28/5/1965 · Ất Tỵ, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Đinh Mùi | Hoả 42, Thủy 11 |
| Hoả năng khắc Kim, Kim đa Hoả tức | Hoả khắc được Kim, Kim nhiều quá thì Hoả tắt | 5:30 ngày 3/9/1968 · Mậu Thân, Canh Thân, Bính Tý, Tân Mão | Kim 42, Hoả 11 |
Đây chính là "tương vũ" trong ngôn ngữ Nội Kinh (kẻ bị khắc quay lại lấn kẻ khắc). Trong Bát Tự, nhóm này là thế tài quá nặng, thân nhược không gánh nổi: nhật chủ "khắc" được tài nhưng tài quá nhiều thì chính nhật chủ bị hao. Câu dân gian "tham thì thâm" là bản tiếng Việt của nhóm này.
Nhóm 4: yếu gặp khắc (đã yếu lại gặp kẻ mạnh)
| Câu | Nghĩa | Lá số minh hoạ | Máy cân |
|---|---|---|---|
| Kim suy ngộ Hoả, tất kiến tiêu dung | Kim suy gặp Hoả, ắt bị nung chảy | 21:30 ngày 8/6/1972 · Nhâm Tý, Bính Ngọ, Canh Ngọ, Đinh Hợi | Hoả 46, Kim 11 |
| Hoả nhược ngộ Thuỷ, tất vi tức diệt | Hoả yếu gặp Thuỷ, ắt bị dập tắt | 17:30 ngày 13/11/1968 · Mậu Thân, Quý Hợi, Đinh Hợi, Kỷ Dậu | Thủy 38, Hoả 11 |
| Thuỷ nhược phùng Thổ, tất vi ứ tắc | Thuỷ yếu gặp Thổ, ắt bị lấp nghẽn | 13:30 ngày 23/7/1966 · Bính Ngọ, Ất Mùi, Quý Mùi, Kỷ Mùi | Thổ 41, Thủy 11 |
| Thổ suy ngộ Mộc, tất tao khuynh hãm | Thổ suy gặp Mộc, ắt bị sụt lở | 5:30 ngày 18/3/1972 · Nhâm Tý, Quý Mão, Mậu Thân, Ất Mão | Mộc 44, Thổ 12 |
| Mộc nhược phùng Kim, tất vi khảm chiết | Mộc yếu gặp Kim, ắt bị chặt gãy | 9:30 ngày 23/9/1966 · Bính Ngọ, Đinh Dậu, Ất Dậu, Tân Tỵ | Kim 48, Mộc 11 |
Đây là "tương thừa": khắc quá mức. Trong Bát Tự, nhóm này là thế quan sát quá nặng, thân nhược: áp lực từ bên ngoài vượt sức chịu.
Hai mươi câu dùng thế nào khi đọc một lá số
- Đừng đọc một câu đơn lẻ. Một lá số thật thường có hai, ba thế chồng lên nhau. Ví dụ nhóm 1 số hai (Kỷ Thổ) vừa có Hoả nhiều, vừa có Mộc nhiều khắc Thổ: "Hoả đa Thổ tiêu" và "Thổ suy ngộ Mộc" cùng lúc.
- Phần trăm chỉ là bước đầu. Máy đếm lượng, nhưng Bát Tự còn xét nguyệt lệnh (sinh mùa nào), thông căn (nhật chủ có gốc ở chi không), hợp xung (chữ nào bị trói, bị xung). Một hành 40% mà bị hợp hoá đi có thể không còn nặng như vậy.
- Câu chỉ ra bệnh, không chỉ ra thuốc. Hai mươi câu nói "chỗ nào lệch"; tìm "thuốc" (dụng thần) là bước khác, theo các phép phù ức, thông quan, điều hậu (xem dụng thần).
- Không đem ra xem tuổi vợ chồng theo mệnh năm. Hai mươi câu nói về lượng ngũ hành trong một lá số đầy đủ tám chữ, không nói về "mệnh Kim lấy mệnh Thuỷ" theo nạp âm năm sinh.
Bạn có thể nhập ngày giờ sinh của mình để xem máy cân ngũ hành và vượng nhược sơ bộ, rồi đối chiếu với bốn nhóm câu ở trên.
🀄Lá số Bát Tự (Tứ Trụ)Bốn trụ năm tháng ngày giờ theo tiết khí, Thập Thần, ngũ hành vượng suy.✨ Dùng thử
Sách cổ nói gì
金賴土生,土多金埋。土賴火生,火多土焦。火賴木生,木多火熾。木賴水生,水多木漂。水賴金生,金多水濁。 Kim lại Thổ sinh, Thổ đa Kim mai. Thổ lại Hoả sinh, Hoả đa Thổ tiêu. Hoả lại Mộc sinh, Mộc đa Hoả xí. Mộc lại Thuỷ sinh, Thuỷ đa Mộc phiêu. Thuỷ lại Kim sinh, Kim đa Thuỷ trọc.
金能生水,水多金沉。水能生木,木盛水縮。木能生火,火多木焚。火能生土,土多火晦。土能生金,金多土變。
金能剋木,木堅金缺。木能剋土,土重木折。土能剋水,水多土流。水能剋火,火炎水灼。火能剋金,金多火熄。
金衰遇火,必見銷熔。火弱遇水,必為熄滅。水弱逢土,必為淤塞。土衰遇木,必遭傾陷。木弱逢金,必為砍折。
— Các câu luận ngũ hành sinh khắc trong sách Tử Bình lưu hành
Bình: hai mươi câu xếp rất cân: bốn nhóm, mỗi nhóm đủ năm hành, câu nào cũng theo khuôn "vế thường lệ, vế đảo ngược". Hình thức ấy cho thấy đây là khẩu quyết để học thuộc, gom kinh nghiệm thành công thức, chứ không phải chứng minh. Giá trị của nó là nhắc người đọc lá số đừng bao giờ quên chữ "lượng".
Đọc cho đúng mức
- Xuất xứ: hai mươi câu lưu hành rộng trong các sách Tử Bình và thường được nói là của Uyên Hải Tử Bình; chúng tôi chưa đối chiếu được quyển, mục cụ thể trong một bản in có niên đại, và các bản có thể khác nhau đôi chữ (như "xí" và "tắc" ở câu Mộc đa Hoả).
- Lá số minh hoạ do máy chọn theo tỷ lệ ngũ hành; tỷ lệ là ước lượng sơ bộ, không thay việc luận đầy đủ.
- Hai mươi câu không phải định luật; chúng là một mô hình cân bằng theo lượng, giống lối nghĩ "cái gì quá cũng hại" (xem ngũ hành có khoa học không).
- Không dùng hai mươi câu để phán chuyện hợp hay khắc giữa hai người theo năm sinh.
Việc nên làm
- Học thuộc hai mươi câu theo bốn nhóm, mỗi nhóm một hình ảnh gia đình ở bảng đầu bài: dễ nhớ hơn học từng câu.
- Khi đọc một lá số, đếm xem hành nào quá 35 – 40%, rồi tra nhóm tương ứng, nhưng luôn kiểm thêm nguyệt lệnh và thông căn.
- Đọc tiếp chế hoá trong ngũ hành để thấy mặt kia của vấn đề: khi nào khắc lại là điều cần.
Nguồn tham khảo
- Các câu luận ngũ hành sinh khắc trong sách Tử Bình lưu hành (thường nói là của Uyên Hải Tử Bình).
- Hoàng Đế Nội Kinh — Tố Vấn, Ngũ Vận Hành Đại Luận (đại ý về thừa, vũ).
- Hai mươi lá số minh hoạ tính bằng công cụ Bát Tự của aihuyenhoc.com; can chi ngày đối chiếu bằng số ngày Julius.
Câu hỏi thường gặp
Phản sinh phản khắc ngũ hành là gì?
Là những trường hợp sinh khắc bị đảo vì một bên quá nhiều hoặc quá ít: sinh quá hoá hại (Thổ đa Kim mai), sinh quá thì kiệt (Thủy đa Kim trầm), khắc ngược (Mộc kiên Kim khuyết), yếu gặp khắc thì tan (Kim suy ngộ Hỏa).
"Thủy đa Kim trầm" nghĩa là gì?
Kim sinh ra Thủy, nhưng Thủy quá nhiều thì Kim bị chìm, bị rút sức. Trong Bát Tự, đó là thế nhật chủ Kim nhược mà Thực Thương (Thủy) quá nặng.
"Thổ đa Kim mai" khác "Thủy đa Kim trầm" thế nào?
Thổ đa Kim mai là mẹ (Thổ) quá nhiều làm con (Kim) bị chôn; Thủy đa Kim trầm là con (Thủy) quá nhiều làm mẹ (Kim) bị rút cạn. Một bên thừa sinh, một bên thừa tiết.
Mộc đa Hỏa xí hay Mộc đa Hỏa tắc mới đúng?
Cả hai dị bản đều lưu hành. Hỏa có gốc gặp nhiều Mộc thì bùng (xí); Hỏa yếu gặp quá nhiều Mộc thì nghẹt (tắc). Bát Tự thường dùng nghĩa "nghẹt" cho nhật chủ Hỏa nhược mà Ấn quá nặng.
Hai mươi câu này lấy từ sách nào?
Chúng lưu hành rộng trong các sách Tử Bình và thường được nói là của Uyên Hải Tử Bình; các bản in có thể khác nhau đôi chữ.
Nguồn tham khảo: Các câu luận ngũ hành sinh khắc trong sách Tử Bình lưu hành (thường nói là của Uyên Hải Tử Bình) · Hoàng Đế Nội Kinh — Tố Vấn, Ngũ Vận Hành Đại Luận