Tủ thờ, sập thờ, án gian: phân biệt ba món đồ thờ và chọn cho phòng thờ nhà phố
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 22/10/2026 · 9 phút đọc
Án gian là bàn thờ cao, dài, hẹp kê sát tường hậu — tầng cao nhất, nơi đặt khám, bài vị, di ảnh. Sập thờ là khối thấp hơn, mặt rộng, kê trước án gian thành cấp thứ hai. Tủ thờ là kiểu đô thị: thân tủ có ngăn kéo, cánh để cất đồ, mặt trên làm mặt thờ. Phòng thờ nhà phố sâu dưới 2,6 m thường chỉ hợp một án gian hoặc một tủ thờ, không đủ chỗ cho bộ hai cấp.
Ba món, ba công năng
Ba tên gọi này hay bị dùng lẫn, nhất là trên các trang bán đồ gỗ. Đặt cạnh nhau thì khác rõ:
| Án gian | Sập thờ | Tủ thờ | |
|---|---|---|---|
| Hình dáng | bàn dài, hẹp, cao; chân thẳng hoặc chân quỳ; hai đầu mặt thường cong vểnh lên | khối thấp, mặt rộng gần vuông; chân quỳ dạ cá, có yếm chạm | thân tủ đặc, có ngăn kéo, cánh mở; mặt trên phẳng |
| Chỗ trong phòng thờ | sát tường hậu, cấp cao nhất | trước án gian, cấp thấp hơn | đứng một mình, hoặc trước án gian thay cho sập |
| Đặt gì trên đó | khám, ngai, bài vị, di ảnh, bát hương chính (tùy nhà) | đồ lễ, đèn nến, lọ hoa, có nhà đặt bát hương ở đây | như sập; ngăn dưới cất đồ đồng, nến, giấy tờ dòng họ |
| Gốc | đồ thờ truyền thống nhà ba gian Bắc Bộ, đình, từ đường | đồ thờ truyền thống, họ hàng với cái sập ngồi của nhà xưa | đồ đô thị thế kỷ 20, sinh ra vì nhà chật cần chỗ cất |
| Hợp với | phòng thờ đủ cao, muốn có cấp bậc rõ | phòng thờ sâu, muốn bộ đồ thờ hai cấp | phòng thờ chật, căn hộ, nhà cần chỗ cất đồ thờ |
Chữ "án" là bàn dài; "gian" là gian nhà — án gian là cái bàn chạy suốt bề ngang gian giữa của nhà ba gian. Trong nhà truyền thống, gian giữa có vách hậu, án gian kê sát vách, trên án là khám thờ, trước án là sập hoặc hương án thấp hơn. Bộ đồ thờ vì vậy có hai cấp: cấp trong cao, cấp ngoài thấp.
Chữ "tủ thờ" có hai nghĩa
Cần tách ra vì người mua hay nhầm:
- Tủ thờ kiểu Bắc Bộ (thị trường đồ gỗ hay gọi vậy): một cái tủ chân thấp, cao ngang bàn thờ, thân có ngăn kéo và cánh; mặt tủ dùng làm mặt thờ. Thường kê một mình hoặc kê trước án gian.
- Tủ thờ kiểu căn hộ: một cái tủ có cánh đóng che cả khu thờ, mở ra khi thắp hương, đóng lại cho khỏi bụi và tránh trẻ nhỏ. Kiểu này bàn ở bài bàn thờ chung cư.
Khi hỏi xưởng, nói rõ mình cần loại nào; hai loại khác nhau hoàn toàn về kích thước và cách thoát khói.
Bộ hai cấp nhìn từ sách: khám bên trong, bàn hương bên ngoài
Chu Tử Gia Lễ, phần Thông lễ, đại ý mô tả từ đường của nhà sĩ phu: bên trong đặt các khám thờ tổ tiên các đời, mỗi khám có bàn riêng; ra ngoài, giữa nhà đặt một bàn hương trên có lư hương, hộp hương. Tức là ngay trong sách lễ đã có hai lớp: lớp trong là chỗ của tổ tiên (khám, bài vị), lớp ngoài là chỗ người sống dâng hương.
Bộ án gian – sập thờ của Bắc Bộ đi đúng mạch ấy: án gian cao ở trong đặt khám và bài vị, sập hoặc hương án thấp ở ngoài là chỗ bày đồ lễ, người đứng lễ. Tên gọi, kiểu dáng là của thợ Việt; cái khung hai lớp có từ sách.
Điều sách không nói: án gian phải cao bao nhiêu, sập phải thấp hơn bao nhiêu, gỗ gì. Những thứ đó là nghề và tục.
Xếp bộ hai cấp: chênh bao nhiêu thì vừa
Bộ hai cấp đẹp khi người đứng trước nhìn thấy rõ cả hai tầng: đồ trên sập không che khuất bài vị, di ảnh trên án gian. Kinh nghiệm của thợ đồ thờ là để án gian cao hơn sập chừng 25 – 45 cm, và hai món cách nhau một khe nhỏ 5 – 10 cm để lau dọn, để khói hương không bị kẹt.
Các cặp dưới đây đều là số đỏ trên cả hai thước 42,9 và 38,8 cm (tính bằng công cụ thước Lỗ Ban):
| Án gian cao | Sập hoặc tủ phía trước cao | Chênh | Hợp với |
|---|---|---|---|
| 133 cm | 106 cm | 27 cm | phòng thờ trần cao, người trong nhà dáng cao |
| 127 cm | 88 cm | 39 cm | cỡ phổ biến, nhìn rõ hai tầng |
| 133 cm | 88 cm | 45 cm | án gian có khám cao, muốn sập thấp cho thoáng |
Khe đỏ chung của từng số: 127 cm nằm trong 124,2 – 128,0; 133 cm trong 131,9 – 134,1; 106 cm trong 104,8 – 108,6 (106 cm nằm giữa cung trên cả hai thước, cách mép hơn 1 cm; cỡ 107 cm cũng đỏ nhưng sát ranh Nghĩa – Quan của thước 42,9); 88 cm trong 85,4 – 89,2. Đừng chọn 81 cm cho sập — số này đỏ nhưng khe chung chỉ rộng chừng một phân (80,4 – 81,5 cm), lót tấm kính mặt là đã lệch ra ngoài.
Chiều cao đo tới mặt trên cùng, kể cả tấm kính lót nếu có. Chuyện kính lót và lớp sơn làm lệch số đo có ở bài kích thước bàn thờ.
Chọn theo bề ngang phòng thờ nhà phố
Phòng thờ nhà phố thường ở tầng trên cùng, bề ngang bằng lòng nhà: nhà mặt tiền 4 m, trừ hai tường còn chừng 3,6 – 3,8 m; nhà 5 m còn chừng 4,6 – 4,8 m. Nhưng tầng trên cùng hay có cầu thang chiếm một bên, nên bức tường đặt bàn thờ thực tế hẹp hơn lòng nhà.
Cách tính đơn giản: lấy bề ngang bức tường đặt bàn thờ, trừ đi mỗi bên ít nhất 40 – 60 cm để đi lại, lau dọn, đặt chân đèn đứng hoặc đôn hai bên. Phần còn lại là chiều ngang tối đa của án gian.
| Bề ngang bức tường | Án gian / tủ thờ nên chọn | Số đỏ cả hai thước |
|---|---|---|
| 2,4 – 2,8 m | 153 cm | khe chung 151,3 – 155,5 cm |
| 2,8 – 3,3 m | 175 hoặc 176 cm | khe chung 170,7 – 177,0 cm; 176 cm xa mép hơn 175 cm trên thước 38,8 |
| 3,3 – 3,9 m | 196 hoặc 197 cm | khe chung 190,1 – 197,9 cm; 196 cm xa mép hơn |
| 3,9 – 4,6 m | 216 cm | khe chung 209,5 – 217,3 cm; tránh 217 cm (cách mép 2,8 mm trên thước 38,8) |
| trên 4,6 m | 235 cm, hoặc hai bàn riêng | khe chung 230,6 – 236,7 cm |
Sập đặt trước án gian thường ngắn hơn án gian một cỡ (án 197 thì sập 175 hoặc 153), để nhìn từ trước thấy hai đầu án gian vểnh lên hai bên sập — đó là dáng quen của bộ đồ thờ Bắc Bộ.
Chọn theo chiều sâu phòng: chỗ người ta hay quên
Chiều sâu mới là thứ quyết định có kê nổi bộ hai cấp hay không.
| Món | Sâu thường gặp, số đỏ cả hai thước |
|---|---|
| Án gian | 61 cm hoặc 67 cm |
| Sập thờ | 88 cm hoặc 106 cm |
| Tủ thờ | 61, 67 hoặc 88 cm |
Cộng lại: án gian 61 + khe 5 + sập 88 = 1,54 m; án gian 67 + khe 10 + sập 106 = 1,83 m. Trước sập còn phải có chỗ người đứng, quỳ lễ — ít nhất chừng một mét. Vậy:
- Phòng thờ sâu dưới 2,6 m: không đủ cho bộ hai cấp thoải mái. Chọn một án gian, hoặc một tủ thờ, hoặc án gian kèm một tủ thờ sâu 61 cm thay cho sập.
- Phòng thờ sâu 2,6 – 3 m: bộ án gian 61 + sập 88 vừa khít.
- Phòng thờ sâu trên 3 m: đủ cho bộ lớn.
Nhà ống có phòng thờ tầng trên cùng thường chỉ sâu 2,5 – 3,5 m vì phần còn lại là cầu thang và sân phơi. Đo trước khi đặt xưởng, tránh cảnh bộ đồ thờ đẹp mà người lễ phải đứng sát cửa. Phòng thờ tầng thượng bàn ở bài bàn thờ tầng trên cùng nhà phố.
Gỗ, chân và một chuyện ít ai hỏi: đưa lên tầng thế nào
Gỗ. Đồ thờ Bắc Bộ truyền thống chuộng gỗ mít (mềm, thớ mịn, dễ chạm, màu vàng sẫm khi để lâu) và gỗ gụ, gỗ hương (cứng, nặng, màu sẫm). Gỗ tự nhiên cần sấy kỹ; gỗ ẩm đóng xong co ngót, nứt mặt sau một mùa khô. Gỗ công nghiệp phủ sơn rẻ và nhẹ, nhưng chạm khắc không sâu được và kỵ ẩm.
Chân. Chân quỳ dạ cá (chân cong vào trong, mũi cuộn) là dáng cổ của sập và án gian; chân thẳng đơn giản hợp phòng thờ hiện đại. Chân quỳ chiếm thêm chỗ ở phần dưới — đo chiều sâu phải đo phủ bì cả chân, không chỉ mặt bàn.
Đưa lên tầng. Cầu thang nhà ống thường rộng 80 – 90 cm, chiếu nghỉ hẹp, xoay gấp. Án gian 197 cm hay sập gỗ gụ nguyên khối nặng hàng trăm ký nhiều khi không xoay qua được chiếu nghỉ. Trước khi đặt hàng, hỏi xưởng hai câu: bàn có tháo lắp được không (mộng tháo, mặt rời chân), và nếu không thì có đưa lên bằng dây qua ban công được không. Nhiều gia đình đã phải trả lại hàng vì câu hỏi này đến muộn.
Đọc cho đúng mức
Phân biệt án gian, sập, tủ thờ là chuyện nghề mộc và tục bày biện, không phải phép phong thủy. Sách lễ cho cái khung hai lớp (bên trong là chỗ tổ tiên, bên ngoài là chỗ dâng hương); thợ Việt cụ thể hoá thành án gian cao và sập thấp. Các vùng khác nhau: Nam Bộ ít dùng bộ án gian – sập, phổ biến hơn là một bàn thờ đứng hoặc tủ thờ; Huế có kiểu án thờ riêng của nhà rường.
Số đo Lỗ Ban ở trên là số đỏ trên cả hai thước theo quy ước nghề. Không có sách nào bắt án gian phải cao hơn sập đúng bao nhiêu; mức chênh 25 – 45 cm là kinh nghiệm để nhìn cho rõ hai tầng. Bộ đồ thờ cũ của gia đình đã dùng nhiều năm với số đo khác thì không cần thay.
Việc nên làm
- Đo ba số trước khi đi xem hàng: bề ngang bức tường đặt bàn thờ, chiều sâu phòng từ tường hậu tới cửa, chiều cao trần.
- Phòng sâu dưới 2,6 m: chọn một án gian hoặc một tủ thờ; trên 2,6 m mới tính bộ hai cấp.
- Ngang án gian = bề ngang tường trừ mỗi bên 40 – 60 cm, rồi chọn số đỏ gần nhất (153, 176, 196, 216 cm…).
- Bộ hai cấp: án gian 127 – 133 cm, sập hoặc tủ 88 hoặc 106 cm; sập ngắn hơn án gian một cỡ.
- Nói rõ với xưởng mình cần tủ thờ loại nào (tủ chân thấp hay tủ có cánh che khu thờ).
- Hỏi xưởng chuyện tháo lắp trước khi đặt, đo cầu thang và chiếu nghỉ nhà mình.
Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?
Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.
Xem lịch các thầyNguồn tham khảo
- Chu Tử Gia Lễ, phần Thông lễ — chế độ từ đường: khám thờ bên trong, bàn hương bên ngoài (đại ý).
- Lỗ Ban Kinh (Lỗ Ban Doanh Tạo Chính Thức) — quy ước cung tốt xấu của thước thợ mộc (đại ý); mọi số đo tính bằng công cụ thước Lỗ Ban của site.
Câu hỏi thường gặp
Án gian và sập thờ khác nhau thế nào?
Án gian là bàn dài, hẹp, cao kê sát tường hậu, đặt khám, bài vị, di ảnh. Sập thờ thấp hơn, mặt rộng, kê trước án gian làm cấp thứ hai để bày đồ lễ.
Nên mua tủ thờ hay án gian?
Phòng thờ chật, căn hộ, nhà cần chỗ cất đồ thờ thì tủ thờ gọn hơn. Phòng thờ đủ sâu, muốn bộ đồ thờ có cấp bậc kiểu truyền thống Bắc Bộ thì chọn án gian, kèm sập hoặc tủ phía trước.
Án gian cao hơn sập bao nhiêu là vừa?
Kinh nghiệm thợ đồ thờ là chênh khoảng 25 – 45 cm để nhìn rõ cả hai tầng. Các cặp đỏ trên hai thước hay dùng: án gian 127 với sập 88 cm, hoặc án gian 133 với sập 106 cm.
Phòng thờ nhà phố sâu bao nhiêu thì đặt được bộ án gian và sập?
Bộ án gian sâu 61 cm với sập sâu 88 cm chiếm khoảng 1,5 m, cộng thêm chỗ người đứng lễ khoảng một mét. Phòng thờ sâu từ 2,6 m trở lên mới kê thoải mái.
Tủ thờ kích thước bao nhiêu là đẹp?
Ngang chọn theo bức tường: 153, 176, 196 hoặc 216 cm; cao 88, 106 hoặc 127 cm tùy kê một mình hay kê trước án gian; sâu 61, 67 hoặc 88 cm. Các số này đỏ trên cả hai thước 42,9 và 38,8 cm.
Nguồn tham khảo: Chu Tử Gia Lễ — Thông lễ — chế độ từ đường · Lỗ Ban Kinh (Lỗ Ban Doanh Tạo Chính Thức) — sách thợ mộc đời Minh