Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư: cấu trúc ba quyển, các bài phú và những bản in nên đọc

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 11 phút đọc

Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư: cấu trúc ba quyển, các bài phú và những bản in nên đọc

Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư là bộ sách gốc mà mọi phái Tử Vi đều dẫn: quyển một gom các bài phú (Thái Vi Phú, Hình Tính Phú, Cốt Tủy Phú, Nữ Mệnh Cốt Tủy Phú) và các bảng cách cục; quyển hai là phép an sao cùng lời luận mười hai cung; quyển ba bàn hạn, lưu niên, trẻ nhỏ. Sách đề tên Trần Đoàn, nhưng văn bản hiện còn là bản đời Minh – Thanh.

Một bộ sách, ba tầng tên tuổi

Mở bản in phổ biến, bạn sẽ thấy ba cái tên chồng lên nhau, và mỗi cái tên có độ tin khác nhau.

Hi Di tiên sinh (Trần Đoàn). Sách đề "Hi Di Trần Đoàn" là người soạn; phần "Chư tinh vấn đáp luận" viết dưới dạng người học hỏi, Hi Di tiên sinh đáp. Đây là lớp truyền thống: Trần Đoàn là đạo sĩ có thật ở cuối Ngũ Đại, đầu Tống, nhưng không có văn bản đời Tống nào cho thấy ông viết bộ này. Bài Trần Đoàn tách riêng phần ông thật làm và phần được gán.

La Hồng Tiên. Nhiều bản in ghi La Hồng Tiên (1504–1564, tự Đạt Phu, hiệu Niệm Am, người Cát Thủy, Giang Tây), một học giả đời Minh, là người hiệu đính hoặc đề tựa. Ngay chỗ này giới nghiên cứu Đài Loan cũng còn ngờ: có luận văn cho rằng ông chỉ được mượn tên để viết tựa, chứ không trực tiếp biên tập. Nói cách khác, ngay cái tên "đời Minh" cũng chưa chắc.

Người biên tập vô danh. Điều văn bản cho thấy chắc nhất là: đây là một tập hợp. Các bài phú có giọng văn khác nhau, có đoạn lặp ý nhau, có bài mang chữ "tăng bổ", "trọng bổ" trong tên, tức là bài thêm vào sau. Một người đọc cẩn thận sẽ thấy dấu vết của nhiều lớp chép nối.

Một bằng chứng đáng chú ý nữa: bộ Vạn Lịch Tục Đạo Tạng (khắc năm 1607) có chép một sách tên Tử Vi Đẩu Số, ba quyển, không ghi người soạn. Nhưng nội dung quyển hai, quyển ba của sách này luận theo những sao như Quán Sách, Thiên Phúc, gọi là "Động Vi thập bát tinh" — một hệ sao khác với mười bốn chính tinh quen thuộc. Tức là cuối đời Minh, cái tên "Tử Vi Đẩu Số" đã chỉ ít nhất hai dòng thuật khác nhau, và dòng mà người Việt học hôm nay là dòng của Toàn Thư, không phải dòng trong Đạo Tạng.

Cấu trúc: quyển nào chứa gì

Bản số hoá phổ biến chia sách làm ba quyển. Nhiều bản in thương mại thêm phần lá số mẫu ở cuối nên đóng thành bốn; khi bạn thấy "quyển bốn" ở một bản dịch thì nên kiểm xem đó là phần nào.

QuyểnNội dung chínhĐọc để làm gì
MộtThái Vi Phú · Hình Tính Phú · Tinh Viên Luận · Đẩu Số Chuẩn Thằng · Đẩu Số Phát Vi Luận · Trọng Bổ Đẩu Số Cấu Suất · Tăng Bổ Thái Vi Phú · Chư Tinh Vấn Đáp Luận · Đẩu Số Cốt Tủy Phú · Nữ Mệnh Cốt Tủy Phú · Định phú quý bần tiện thập đẳng luận · các quyết đắc địa, thất hãm · Định phú cục, Định quý cục, Định bần tiện cục, Định tạp cụcLý thuyết nén: tính chất sao, cách cục, nguyên tắc đọc
HaiAn thân mệnh lệ (phép an sao) · lời luận mười hai cung từ Mệnh, Huynh Đệ, Thê Thiếp, Tử Nữ… đến Phụ MẫuThực hành: lập lá số và đọc từng cung
BaĐàm tinh yếu luận · luận nhập cách · luận nam nữ khác nhau · luận mệnh trẻ nhỏ, định giờ sinh trẻ nhỏ · luận hạn mười năm, hai hạn và Thái Tuế, lưu niên · luận Kình Đà điệp tịnh, Thất Sát trùng phùng · luận âm chất diên thọVận hạn và những ca khó

Bảng này cho thấy một điều người mới hay bỏ qua: phép an sao nằm ở quyển hai, không ở đầu sách. Sách mở bằng phú, tức là bằng kết luận. Người soạn mặc định người đọc đã có thầy dạy an sao, hoặc đã có lá số trong tay, và cần một bộ câu để đối chiếu. Đó là lý do đọc Toàn Thư từ trang đầu như sách giáo khoa thường thấy rối.

Thái Vi Phú: bài mở cửa

Thái Vi Phú là bài được trích nhiều nhất. Câu mở đầu đặt luôn tinh thần của cả môn:

Đẩu số chí huyền chí vi, lý chỉ nan minh.

Đẩu số rất sâu, rất tinh vi, ý lý khó nói cho tỏ. Ngay sau đó, bài phú nói rằng thọ yểu, hiền ngu, giàu nghèo "không thể bàn chung một mực". Phần lớn câu trong bài là nguyên tắc chứ không phải lời đoán: sao phân bố trên mười hai viên, số định trên ba mươi sáu vị; vào miếu là kỳ, mất độ là hư; lấy Thân, Mệnh làm gốc phúc đức. Câu "Tử Vi, Thiên Phủ toàn y Phụ Bật chi công; Thất Sát, Phá Quân chuyên y Dương Linh chi ngược" mà các bài về sao Tử Vi hay dẫn cũng nằm ở bài này.

Hình Tính Phú và Tinh Viên Luận: sao có hình dáng

Hình Tính Phú tả mỗi sao như một con người: Tử Vi "dung mạo hậu trọng", Thiên Phủ "thuần hoà", Thái Dương ví là "kim ô viên mãn", Thái Âm là "ngọc thố thanh kỳ", Thiên Cơ "không cao không thấp, tình hoài hiếu thiện". Đây là gốc của mọi lời tả tướng mạo theo sao Mệnh trong sách Việt. Đọc bài này nên nhớ nó là tượng, tức hình ảnh để nhớ tính chất sao, không phải mô tả gương mặt có thể đem ra so.

Cốt Tủy Phú: kho câu phú quen thuộc

Đẩu Số Cốt Tủy Phú mở bằng câu "Thái cực tinh triền, nãi quần tú chúng tinh chi chủ", rồi đi ngay vào chỗ thực dụng: "Tiên minh cách cục, thứ khán chúng tinh" — trước phải rõ cách cục, sau mới xem các sao. Phần lớn những câu bạn từng nghe như phương ngôn tử vi đều ở đây:

  • "Thất Sát triều Đẩu tước lộc vinh xương; Tử Phủ đồng cung chung thân phúc hậu."
  • "Thất Sát Phá Quân nghi xuất ngoại; Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân."
  • "Cực cư Mão Dậu đa vi thoát tục tăng nhân."

Bài cách cục tử vi và các bài cách như Tử Phủ đồng cung đi ra từ chính những câu này. Điều đáng nói là Cốt Tủy Phú cũng chứa câu tự giới hạn mình: có người sinh cùng năm, cùng tháng, cùng ngày, cùng giờ mà giàu nghèo thọ yểu khác nhau. Người soạn biết rõ lá số không phải tất cả.

Nữ Mệnh Cốt Tủy Phú: đọc như một văn bản của thời nó

Bài này luận riêng cho nữ: "Phủ Tướng chi tinh nữ mệnh triền, tất đương tử quý dữ phu hiền". Gần như mọi câu đều đo người phụ nữ bằng chồng và con. Chúng tôi dẫn bài này để hiểu xã hội đã sinh ra nó, không dùng nó để luận một người phụ nữ hôm nay. Một lá số nữ đọc theo các nguyên tắc ở Thái Vi Phú và Cốt Tủy Phú là đủ; những câu về "trinh", "dâm", "khắc phu" trong bài này nên để lại cho lịch sử.

Các "cục": danh mục cách cục viết như bảng tra

Cuối quyển một là bốn danh mục: định phú cục, định quý cục, định bần tiện cục, định tạp cục. Mỗi mục là một tên cách kèm điều kiện ngắn, ví dụ:

  • "Nhật Nguyệt giáp Tài: Vũ thủ Mệnh, Nhật Nguyệt lai giáp thị dã" — Vũ Khúc giữ Mệnh, Thái Dương và Thái Âm kẹp hai bên.
  • "Nhật xuất Phù Tang: Nhật tại Mão thủ Mệnh thị dã" — Thái Dương ở Mão giữ Mệnh.
  • "Nguyệt lạc Hợi cung: Nguyệt tại Hợi thủ Mệnh thị dã, hựu danh Nguyệt lãng Thiên Môn."

Đây là phần dễ kiểm nhất của sách, vì điều kiện rõ ràng tới mức máy đếm được. Khi một trang mạng gán cho cách nào đó những điều kiện khác hẳn danh mục này, bạn có quyền nghi.

Những bản in: vì sao cùng một câu mà mỗi sách một chữ

Đây là phần ít người viết, mà lại quyết định bạn đọc được gì.

  • Bản khắc gỗ Văn Quang Đường, cuối Minh đầu Thanh. Một bản như vậy do tàng thư Hư Bạch Lư giữ, được nhà Tâm Nhất Đường (Hồng Kông) in ảnh lại. Đây là loại bản người khảo cứu coi là gần gốc nhất hiện có.
  • Bản thạch ấn thời Dân Quốc. Phần lớn sách Toàn Thư in ở Đài Loan, Hồng Kông những năm 1970 – 1980 là in lại hoặc sắp chữ lại từ loại bản này. Theo khảo cứu của Phan Quốc Sâm, đây không phải thiện bản, có nhiều chỗ sai chép, và chính các chỗ sai ấy là một nguồn tranh cãi giữa các phái.
  • Bản dịch tiếng Việt. Bản phổ biến nhất ở miền Nam trước 1975 và được in lại nhiều lần sau này là bản dịch của Vũ Tài Lục. Các bản dịch Việt phần lớn dịch từ bản in Đài Loan, Hồng Kông, tức là thừa hưởng luôn lỗi của bản thạch ấn.
  • Bản số hoá. Kho văn bản Wikisource tiếng Hán có bản Toàn Thư chia ba quyển với đủ mục lục, và tách riêng trang cho sách Tử Vi Đẩu Số trong Đạo Tạng. Chúng tôi dùng bản này để đối chiếu mọi câu nguyên văn trong bài.

Một ví dụ cho thấy chuyện chép lệch: câu người Việt hay đọc là "Cự Môn Tý Ngọ, Khoa Quyền Lộc, thạch trung ẩn ngọc phúc hưng long", trong Cốt Tủy Phú bản số hoá lại viết gọn là "Tý Ngọ Cự Môn thạch trung ẩn ngọc, minh lộc ám lộc cẩm thượng thiêm hoa". Ý chính giống nhau, nhưng điều kiện "Khoa Quyền Lộc" trong bản Việt không có ở câu này. Khi đọc bài thạch trung ẩn ngọc, nên biết câu bạn đang thấy là dị bản nào.

Bản nào nên đọc, và đọc theo thứ tự nào

Với người đọc tiếng Việt không đọc được chữ Hán:

  1. Một bản dịch Toàn Thư có in kèm nguyên văn Hán. Bản chỉ có tiếng Việt thì không tự kiểm được gì.
  2. Đọc Thái Vi Phú trước, vì nó là nguyên tắc; rồi Cốt Tủy Phú, vì nó là câu phú dùng hằng ngày; rồi danh mục các cục.
  3. Quyển hai (an sao) đọc song song với một sách nhập môn tiếng Việt, đối chiếu từng bước với lá số máy lập. Bài học tử vi bắt đầu từ đâu có lộ trình cụ thể.
  4. Quyển ba để sau cùng, khi đã quen đọc hạn mười năm.

Người đọc được chữ Hán thì nên có trong tay hai bản: một bản lưu hành (để biết người khác đang dẫn gì) và một bản ảnh khắc gỗ (để biết chữ gốc). Bài đọc sách huyền học cổ chỉ cách đối chiếu.

Sách cổ nói gì

Tinh hữu đồng triền, số hữu phân định, tu minh kỳ sinh khắc chi yếu, tất tường hồ đắc viên thất độ chi phân.

Dịch: Sao có khi cùng đóng một chỗ, số mỗi người có phần định riêng; phải hiểu chỗ cốt yếu của sinh khắc, phải xét kỹ sao đắc viên hay thất độ. — Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, Thái Vi Phú

Tiên minh cách cục, thứ khán chúng tinh.

Dịch: Trước phải rõ cách cục, sau mới xem các sao. — Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, Đẩu Số Cốt Tủy Phú

Bình: hai câu này là chìa khoá đọc cả bộ. Câu thứ nhất nói sao giống nhau chưa chắc số giống nhau, phải nhìn độ sáng và sinh khắc. Câu thứ hai nói thứ tự: nhìn thế đứng tổng thể trước, sao lẻ sau. Phần lớn lời đoán sai trên mạng làm ngược lại: nhặt một sao, dán một câu phú, rồi kết luận.

Đọc cho đúng mức

  • Toàn Thư là văn bản đời Minh – Thanh, không phải đời Tống. Dẫn nó là dẫn truyền thống Đẩu Số như nó được ghi lại trong khoảng bốn trăm năm gần đây.
  • Các bài phú viết nén, nhiều câu chỉ đúng khi đủ điều kiện mà câu không nói hết. Một câu phú không bao giờ là kết luận về một con người.
  • Các bản chép lệch nhau ở chính những chỗ quan trọng: độ sáng sao, bảng Tứ Hoá theo can. Các phái Tử Vi tách ra một phần vì thế (bài các trường phái tử vi).
  • Phái Việt dùng thêm nhiều sao và quy ước không có trong Toàn Thư, chủ yếu qua sách quốc ngữ thế kỷ hai mươi. Đọc Toàn Thư giúp biết gốc, không thay được sách phái mình đang theo.

Việc nên làm

  • Nếu chỉ đọc một phần, đọc Thái Vi Phú, chép tay những câu nguyên tắc, không chép câu đoán.
  • Mỗi khi gặp câu phú được dẫn trên mạng, tìm nó trong mục lục bên trên: bài nào, quyển nào. Không tìm được thì coi là "câu truyền miệng".
  • Mua bản dịch có kèm chữ Hán; tránh bản không ghi người dịch, không ghi bản gốc dịch từ đâu.
  • Lập lá số của chính mình rồi đọc quyển hai cung nào ra cung ấy, đó là cách học nhanh nhất.

Xem lá số tử vi của chính bạn

Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.

Lập lá số miễn phí

Nguồn tham khảo

  • Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — Thái Vi Phú, Hình Tính Phú, Đẩu Số Cốt Tủy Phú, Nữ Mệnh Cốt Tủy Phú, Định phú cục, Định quý cục (nguyên văn đối chiếu bản số hoá Wikisource tiếng Hán).
  • Tử Vi Đẩu Số, ba quyển, khuyết danh — trong Vạn Lịch Tục Đạo Tạng (1607); bản số hoá Wikisource tiếng Hán (đại ý mục lục).
  • Phan Quốc Sâm — sách khảo hiệu Toàn Thư, đối chiếu bản khắc Văn Quang Đường (Tâm Nhất Đường in ảnh) với bản lưu hành (theo phần giới thiệu sách).
  • Vũ Tài Lục — bản dịch Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (tiếng Việt).

Câu hỏi thường gặp

Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư có phải do Trần Đoàn viết không?

Sách đề tên Trần Đoàn là truyền thống tôn sư, nhưng không có văn bản đời Tống nào xác nhận. Văn bản hiện còn là bản khắc đời Minh – Thanh, do người đời sau gom và biên soạn.

Toàn Thư có mấy quyển?

Bản số hoá phổ biến chia ba quyển: phú và cách cục, an sao và mười hai cung, vận hạn. Một số bản in thêm phần lá số mẫu nên đóng thành bốn quyển.

Nên đọc bài phú nào trước?

Thái Vi Phú, vì nó nêu nguyên tắc đọc lá số. Sau đó là Cốt Tủy Phú, nơi có phần lớn câu phú cách cục quen dùng.

Bản dịch tiếng Việt nào dùng được?

Bản dịch của Vũ Tài Lục phổ biến nhất và được in lại nhiều lần. Dù dùng bản nào, nên chọn bản có in kèm chữ Hán để tự đối chiếu khi gặp câu quan trọng.

Toàn Thư có giống sách Tử Vi Đẩu Số trong Đạo Tạng không?

Không. Sách ba quyển trong Vạn Lịch Tục Đạo Tạng luận theo một hệ mười tám sao khác, có các sao như Quán Sách, Thiên Phúc, nên chỉ trùng tên chứ không phải cùng một dòng thuật với Toàn Thư.

Nguồn tham khảo: Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — Thái Vi Phú, Hình Tính Phú, Đẩu Số Cốt Tủy Phú, Nữ Mệnh Cốt Tủy Phú, Định phú cục, Định quý cục · Tử Vi Đẩu Số (ba quyển, khuyết danh) trong Vạn Lịch Tục Đạo Tạng · Bản số hoá Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư và Tử Vi Đẩu Số (Đạo Tạng) trên Wikisource tiếng Hán — dùng để đối chiếu mục lục và câu chữ · Phan Quốc Sâm — Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư cổ quyết biện chính (giới thiệu sách: đối chiếu bản Văn Quang Đường với bản lưu hành)

Ngũ Hành Đại Nghĩa của Tiêu Cát: bách khoa ngũ hành đời Tùy, thất truyền ở Trung Hoa, còn ở NhậtNgũ Hành Đại Nghĩa của Tiêu Cát đời Tùy: năm quyển, thất truyền ở Trung Hoa, còn ở Nhật rồi về lại năm 1804. Dùng sách để kiểm cá…
Táng Thư của Quách Phác: văn bản gốc của chữ "phong thủy", trích, dịch và bình từng câuTáng Thư gắn tên Quách Phác, sách gốc của chữ phong thủy: ba thiên Nội, Ngoại, Tạp của Ngô Trừng; trích, dịch, bình câu sinh khí,…
Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư và Toàn Tập: hai bộ gốc khác nhau ở đâu, trùng nhau ở đâuToàn Thư và Toàn Tập Tử Vi Đẩu Số khác nhau thế nào: hai dòng bản in, phần trùng, phần riêng, chuyện Tiệp Lãm và bản Đạo Tạng, cù…
Lục Nhâm Đại Toàn và các sách Lục Nhâm: bản đồ cho người học sâu, từ thức bàn đời Hán tới Đại Lục Nhâm Chỉ NamLục Nhâm Đại Toàn đời Minh và các sách Đại Lục Nhâm: Thần Định Kinh, Tất Pháp Phú, Chỉ Nam; mỗi cuốn dùng vào việc gì, đọc thứ tự…
Trích Thiên Tủy: bài phú tinh tuý nhất của mệnh học, hai dòng văn bản và cách đọc đoạn Thiên đạoTrích Thiên Tủy là bài phú cốt lõi của Bát Tự: ai viết, bản Tập Yếu của Trần Tố Am và bản chú Nhâm Thiết Tiều, Từ Lạc Ngô; đọc đo…
Tử Bình Chân Thuyên của Thẩm Hiếu Chiêm: sách cách cục, thuận dụng nghịch dụng và lời bình của Từ Lạc NgôTử Bình Chân Thuyên của Thẩm Hiếu Chiêm: dụng thần lấy ở nguyệt lệnh, tám cách thuận nghịch, tướng thần, thành bại cứu ứng và bản…