Ba vòng 24 sơn trên la kinh: Địa Bàn chính châm, Nhân Bàn trung châm, Thiên Bàn phùng châm
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc
La kinh Tam Hợp có ba vòng 24 sơn. Địa Bàn chính châm là vòng gốc, sơn Tý nằm giữa chính Bắc; Nhân Bàn trung châm lùi ngược chiều kim đồng hồ 7,5 độ; Thiên Bàn phùng châm tiến thuận chiều 7,5 độ. Theo khẩu quyết Tam Hợp, chính châm dùng định long và lập hướng, trung châm xét sa, phùng châm xét thủy. Huyền Không chỉ dùng chính châm.
Ba vòng nằm ở đâu, lệch thế nào
Ba vòng có cùng 24 tên sơn, cùng thứ tự, cùng bề rộng 15 độ mỗi sơn. Chỗ khác duy nhất là điểm bắt đầu:
- Địa Bàn chính châm: sơn Tý trải từ 352,5 đến 7,5 độ, tâm Tý trùng chính Bắc (0 độ). Trên phần lớn la kinh Tam Hợp, đây là vòng nằm phía trong nhất trong ba vòng.
- Nhân Bàn trung châm: cả vòng xoay ngược chiều kim đồng hồ nửa sơn. Tý trải từ 345 đến 0 độ, tâm Tý rơi vào đường ranh giới Nhâm – Tý của Địa Bàn. Vòng này thường nằm giữa.
- Thiên Bàn phùng châm: cả vòng xoay thuận chiều kim đồng hồ nửa sơn. Tý trải từ 0 đến 15 độ, tâm Tý rơi vào đường ranh giới Tý – Quý của Địa Bàn. Chữ "phùng" là đường may, đường nối: tâm sơn của vòng này nằm đúng trên "đường may" giữa hai sơn của Địa Bàn. Vòng này thường nằm ngoài cùng trong ba vòng; vị trí cụ thể tuỳ nhà làm la kinh.
Nhìn trên la kinh thật, cách nhận nhanh nhất là tìm chữ Tý của từng vòng và xem nó nằm thế nào so với đường chỉ đỏ chính Bắc: nằm giữa là chính châm, lệch trái là trung châm, lệch phải là phùng châm.
Bảng độ số ba vòng
Độ tính từ chính Bắc theo chiều kim đồng hồ, như bảng ở bài 24 sơn hướng. Cột Địa Bàn khớp từng số với bảng đó; hai cột còn lại là Địa Bàn trừ và cộng 7,5 độ, tính bằng máy rồi soát lại tay ở bốn sơn chính Tý, Mão, Ngọ, Dậu.
| Sơn | Địa Bàn chính châm | Nhân Bàn trung châm | Thiên Bàn phùng châm |
|---|---|---|---|
| Nhâm | 337,5 – 352,5 | 330 – 345 | 345 – 0 |
| Tý | 352,5 – 7,5 | 345 – 0 | 0 – 15 |
| Quý | 7,5 – 22,5 | 0 – 15 | 15 – 30 |
| Sửu | 22,5 – 37,5 | 15 – 30 | 30 – 45 |
| Cấn | 37,5 – 52,5 | 30 – 45 | 45 – 60 |
| Dần | 52,5 – 67,5 | 45 – 60 | 60 – 75 |
| Giáp | 67,5 – 82,5 | 60 – 75 | 75 – 90 |
| Mão | 82,5 – 97,5 | 75 – 90 | 90 – 105 |
| Ất | 97,5 – 112,5 | 90 – 105 | 105 – 120 |
| Thìn | 112,5 – 127,5 | 105 – 120 | 120 – 135 |
| Tốn | 127,5 – 142,5 | 120 – 135 | 135 – 150 |
| Tỵ | 142,5 – 157,5 | 135 – 150 | 150 – 165 |
| Bính | 157,5 – 172,5 | 150 – 165 | 165 – 180 |
| Ngọ | 172,5 – 187,5 | 165 – 180 | 180 – 195 |
| Đinh | 187,5 – 202,5 | 180 – 195 | 195 – 210 |
| Mùi | 202,5 – 217,5 | 195 – 210 | 210 – 225 |
| Khôn | 217,5 – 232,5 | 210 – 225 | 225 – 240 |
| Thân | 232,5 – 247,5 | 225 – 240 | 240 – 255 |
| Canh | 247,5 – 262,5 | 240 – 255 | 255 – 270 |
| Dậu | 262,5 – 277,5 | 255 – 270 | 270 – 285 |
| Tân | 277,5 – 292,5 | 270 – 285 | 285 – 300 |
| Tuất | 292,5 – 307,5 | 285 – 300 | 300 – 315 |
| Càn | 307,5 – 322,5 | 300 – 315 | 315 – 330 |
| Hợi | 322,5 – 337,5 | 315 – 330 | 330 – 345 |
Một hệ quả đáng để ý: ở trung châm và phùng châm, mọi ranh giới sơn đều rơi vào các số tròn 0, 15, 30, 45… còn ở chính châm, ranh giới rơi vào các số lẻ 7,5, 22,5, 37,5… Người đọc ứng dụng la bàn thấy vòng 24 sơn có ranh giới ở số tròn thì biết ngay ứng dụng đang vẽ vòng lệch, không phải chính châm.
Vòng nào dùng vào việc gì
Khẩu quyết của phái Tam Hợp gói gọn trong ba vế: chính châm cách long, trung châm tiêu sa, phùng châm nạp thủy.
Chính châm — định long, lập hướng. Đo hướng mạch đất đi vào huyệt (cách long) và đặt tọa hướng nhà, mộ đều đọc trên Địa Bàn. Đây là vòng mà mọi phái chung nhau, và là vòng duy nhất dùng để gọi tên "tọa … hướng …".
Trung châm — xét sa. Sa là gò núi, đồi nhỏ quanh huyệt; trong phố là nhà cao, khối công trình xung quanh. Người theo Tam Hợp đứng ở tâm nhà hoặc tâm huyệt, ngắm về đỉnh khối sa, đọc tên sơn trên Nhân Bàn rồi xét sinh khắc với tọa. Cách đọc sa có ở bài sa pháp.
Phùng châm — xét thủy. Hướng nước đến, nước đi, và nhất là thủy khẩu (chỗ nước ra khỏi tầm nhìn) đọc trên Thiên Bàn, rồi đối với vòng tràng sinh của cục để luận. Trong phố, đường đi thường được coi như thủy. Chi tiết ở bài thủy pháp và Phái Tam Hợp.
| Phái | Chính châm | Trung châm | Phùng châm |
|---|---|---|---|
| Tam Hợp | Định long, lập hướng | Xét sa | Xét thủy, thủy khẩu |
| Huyền Không Phi Tinh | Lập hướng, lập tinh bàn | Không dùng | Không dùng |
| Huyền Không Đại Quái | Dùng cùng vòng 64 quẻ | Không dùng | Không dùng |
| Bát Trạch | Chỉ cần tám cung Hậu Thiên | Không dùng | Không dùng |
Đây là lý do la kinh Tam Nguyên thường không in hai vòng lệch: người dùng nó không cần.
Một số đo, ba cách đọc
Một ngã ba đường nằm ở 200 độ tính từ tâm nhà. Nếu người Tam Hợp coi ngã ba đó là thủy khẩu, họ đọc phùng châm: 200 độ là ô Đinh (195 – 210). Nếu cũng ở 200 độ là một toà nhà cao, coi như sa, họ đọc trung châm: 200 độ là ô Mùi (195 – 210). Còn nếu mặt tiền nhà quay về 200 độ, tên hướng đọc trên chính châm: hướng Đinh (187,5 – 202,5).
Cùng một góc, ba câu hỏi khác nhau, hai tên sơn khác nhau. Nhầm vòng ở bước này thì phần luận sau đó dù kỹ đến đâu cũng sai từ gốc. Cách đọc toàn bộ các tầng khác của la kinh có ở bài các tầng la kinh.
Vì sao lại lệch đúng nửa sơn
Không có lời giải nào được mọi người chấp nhận. Có ba lối giải hay gặp, nên tách bạch:
Lời giải theo truyền thống nghề. Theo truyền thống, phùng châm gắn với Dương Quân Tùng đời Đường, trung châm gắn với Lại Văn Tuấn (Lại Bố Y) đời Tống; chính châm được coi là có trước cả hai, mỗi sách gán cho một người khác nhau. Cách giải đi kèm thường là: chính châm lấy Tý Ngọ theo kim, phùng châm lấy Tý Ngọ theo bóng mặt trời giữa trưa, trung châm lấy theo sao Bắc Cực — ba "chuẩn" Bắc khác nhau nên ra ba vòng.
Lời giải theo văn bản còn lại. Các sách bàn kỹ ba vòng mà ta đọc được hôm nay phần lớn là sách đời Minh, Thanh. Văn bản đời Đường nói rõ về một la kinh nhiều vòng như vậy thì khó tìm. Vì thế việc gán phùng châm cho Dương Quân Tùng nên hiểu là lời truyền của nghề, không phải điều đã được sử liệu xác nhận.
Giả thuyết độ từ thiên. Thẩm Quát đời Bắc Tống ghi rằng kim nam châm của các nhà phương thuật "thường hơi lệch về Đông, không hoàn toàn chính Nam". Từ đó, Joseph Needham và một số nhà nghiên cứu lịch sử la bàn đặt giả thuyết rằng hai vòng lệch là dấu vết của những thời kỳ người xưa thấy kim lệch khỏi Bắc thật và khắc thêm một vòng để bù. Giả thuyết hấp dẫn, nhưng có chỗ khó: độ từ thiên thật trôi dần theo thời gian và hiếm khi đứng đúng 7,5 độ; con số 7,5 độ lại vừa khéo bằng nửa sơn, giống một lựa chọn hình học hơn là một số đo. Độ từ thiên ở Việt Nam hiện nay chưa tới 2 độ — xem bài độ từ thiên ở Việt Nam.
Sách cổ nói gì
Chính châm cách long, trung châm tiêu sa, phùng châm nạp thủy.
Dùng chính châm để định long, dùng trung châm để xét sa, dùng phùng châm để xét thủy. — Khẩu quyết phái Tam Hợp (đại ý; lời chữ có nhiều dị bản)
Bình: câu này không thuộc riêng một quyển sách nào mà là lời tóm truyền miệng, các sách giải la kinh của phái Tam Hợp chép lại với chữ hơi khác nhau. Giá trị của nó nằm ở chỗ chia việc rõ ràng: một vòng cho cái mình đứng (long, hướng), một vòng cho cái mình nhìn thấy đứng yên (sa), một vòng cho cái chuyển động (thủy). Hiểu như vậy thì thấy ba vòng không phải ba đáp án cạnh tranh cho cùng một câu hỏi, mà là ba thước đo cho ba câu hỏi khác nhau. Người theo Huyền Không không nhận khẩu quyết này; với họ, chỉ có một vòng 24 sơn.
Đọc cho đúng mức
- Ba vòng là công cụ của một phái. Đem phùng châm vào tính tinh bàn Huyền Không là trộn hai hệ, ra kết quả không phái nào nhận.
- Tên tọa hướng nhà luôn đọc trên chính châm, ở mọi phái. Ai gọi tên hướng nhà theo trung châm hay phùng châm thì cần hỏi lại.
- Chuyện ai đặt ra vòng nào thuộc về truyền thống nghề, chưa có sử liệu xác nhận. Giả thuyết độ từ thiên cũng chỉ là giả thuyết.
- Cả ba vòng đều phụ thuộc vào kim đo đúng. Sai số đo vài độ còn lớn hơn mọi tranh luận về 7,5 độ, vì nó làm sai cả ba vòng cùng lúc.
Việc nên làm
- Khi ghi chép, luôn ghi kèm vòng: "Đinh (chính châm)", "Mùi (trung châm)".
- Dùng ứng dụng la bàn có vẽ 24 sơn thì kiểm một lần: Tý phải nằm giữa 0 độ. Ranh giới sơn nằm ở số tròn là ứng dụng vẽ vòng lệch.
- Người học Tam Hợp: tập đọc cả ba vòng trên cùng một sơ đồ khu đất, đánh dấu sa và thủy bằng hai màu khác nhau.
- Người học Huyền Không: bỏ qua hai vòng lệch, dồn sức vào đo chính châm cho đúng.
Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?
Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.
Xem lịch các thầyNguồn tham khảo
- Khẩu quyết phái Tam Hợp "chính châm cách long, trung châm tiêu sa, phùng châm nạp thủy", đại ý; chép trong các sách giải la kinh.
- Thẩm Quát — Mộng Khê Bút Đàm, ghi chép về kim nam châm lệch Đông, đại ý.
- Joseph Needham — bộ Khoa học và Văn minh Trung Hoa, tập 4 phần 1 (vật lý), phần bàn về la bàn và độ từ thiên, đại ý.
Câu hỏi thường gặp
Ba vòng 24 sơn trên la kinh lệch nhau bao nhiêu độ?
Nhân Bàn trung châm lệch ngược chiều kim đồng hồ 7,5 độ, Thiên Bàn phùng châm lệch thuận chiều 7,5 độ so với Địa Bàn chính châm, tức là hai vòng lệch cách nhau 15 độ, đúng một sơn.
Hướng nhà đọc trên vòng nào?
Trên Địa Bàn chính châm, ở mọi phái. Hai vòng còn lại là của phái Tam Hợp, dùng để xét sa và xét thủy chứ không để gọi tên hướng nhà.
Phái Huyền Không có dùng trung châm, phùng châm không?
Không. Huyền Không Phi Tinh và Huyền Không Đại Quái chỉ dùng vòng chính châm, nên la kinh Tam Nguyên thường không in hai vòng lệch.
Làm sao nhận ra vòng chính châm trên la kinh?
Tìm chữ Tý của từng vòng: vòng nào có Tý nằm giữa đường chỉ chính Bắc là chính châm. Tý lệch trái là trung châm, lệch phải là phùng châm.
Vì sao hai vòng lại lệch đúng 7,5 độ?
Chưa có lời giải được mọi người chấp nhận. Truyền thống gắn với ba chuẩn Bắc khác nhau; một giả thuyết hiện đại cho là dấu vết của độ từ thiên thời xưa; con số đúng bằng nửa sơn cho thấy có yếu tố chia hình học.
Nguồn tham khảo: Khẩu quyết phái Tam Hợp: chính châm cách long, trung châm tiêu sa, phùng châm nạp thủy · Mộng Khê Bút Đàm — Thẩm Quát (đời Bắc Tống) · Khoa học và Văn minh Trung Hoa (bộ sách nhiều tập), tập 4 phần 1 — Joseph Needham