Hình dạng khuôn mặt theo sách tướng: chữ Điền, chữ Do, chữ Giáp, chữ Thân và mười chữ mặt

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 22/10/2026 · 7 phút đọc

Hình dạng khuôn mặt theo sách tướng: chữ Điền, chữ Do, chữ Giáp, chữ Thân và mười chữ mặt

Sách tướng xếp hình dạng khuôn mặt theo nét của một chữ Hán: mặt chữ Điền vuông vức, chữ Do trên hẹp dưới rộng, chữ Giáp trên rộng dưới nhọn, chữ Thân giữa rộng hai đầu hẹp. Bộ đầy đủ gọi là "thập tự diện" (mười chữ mặt), có sách rút còn tám gọi là "bát tự diện". Bảng dưới đây xếp đủ mười chữ, so với tên kiểu mặt dùng hiện nay.

Cách sách dùng chữ Hán để tả mặt

Người xưa không có thước đo hay ảnh chụp chuẩn. Họ mượn hình của chữ viết để nói về hình của mặt: nhìn chữ là thấy ngay đường bao. Muốn đọc đúng bảng, cần nhớ ba quy ước:

  • Chữ được nhìn như đường bao khuôn mặt, phần trên chữ là trán, phần dưới là cằm, hai bên là gò má và hàm.
  • Chữ có nét nhô lên trên (như chữ Do) là trán hẹp; nét thò xuống dưới (như chữ Giáp) là cằm nhọn.
  • Mỗi kiểu mặt luôn được đọc cùng tam đình: mặt rộng phần nào thì sách cho là quãng đời ứng với phần ấy vững hơn.

Bảng mười chữ mặt

ChữHình đường bao (đại ý theo sách)Gần với kiểu mặt gọi hiện naySách đọc, viết lại cho đúng mức
Điềnvuông vức, trán – gò má – hàm rộng gần bằng nhau, cằm bằngmặt vuôngvững, thực tế, chịu được việc nặng
Dotrán hẹp, hàm và cằm rộng (trên nhỏ dưới to)mặt tam giác, hàm bạnhkhởi đầu chật vật, càng về sau càng vững
Giáptrán rộng, cằm nhọn (trên to dưới nhỏ)mặt trái tim, tam giác ngượcthuận ở tuổi trẻ, học hành sớm; về già nên lo trước
Thântrán hẹp, cằm nhọn, gò má rộng (giữa to hai đầu nhỏ)mặt kim cương, hình thoimạnh ở trung niên, đầu và cuối cần chuẩn bị
Đồngdài vuông, trán – hàm cân, mặt hơi dàimặt chữ nhậtcân đối, bền bỉ, được khen nhiều
Vươnggóc cạnh, trán – gò má – hàm đều nhô xương, ít thịtmặt gầy góc cạnhchịu khó, nhiều va chạm, lập thân bằng sức
Viêntròn, má đầy, ít gócmặt trònhoà nhã, dễ gần; sách nhắc giữ ý chí
Mụcdài và hẹp, hai bên gần như thẳngmặt dài hẹpchuyên tâm, thiên về một việc
Dụnglệch, không cân, phần dưới một bên khuyếtmặt bất đối xứng rõsách chê; ngày nay biết ai cũng lệch ít nhiều
Phongtrán hẹp, hàm rất bạnh ra hai bên, như chữ Phongmặt hàm bạnh rộngsách đọc là cứng, giữ của; tuổi già vững

Hai chữ Dụng và Phong không có trong mọi danh sách; nhiều sách chỉ kể tám chữ đầu, nên mới có tên "bát tự diện". Một số sách thay chữ khác vào. Chúng tôi theo danh sách mười chữ phổ biến nhất trong các bản Thần Tướng Toàn Biên lưu hành.

Đọc bảng thế nào cho khỏi sai

Cùng một mặt có thể "lai" hai chữ. Hầu hết người thật không rơi gọn vào một chữ. Mặt hơi vuông mà cằm hơi nhọn nằm giữa Điền và Giáp. Sách xưa cũng thừa nhận điều này và đọc theo chữ trội hơn.

Hình mặt phải đọc cùng thịt và xương. Hai người cùng mặt chữ Điền, một người đầy đặn có thịt, một người gầy lộ xương, sách đọc khác hẳn. Đó là lý do chữ Vương (góc cạnh, ít thịt) được tách riêng dù đường bao gần với chữ Điền.

Hình mặt đi cùng ngũ hành hình tướng. Các sách thường ghép: mặt vuông gần Kim hình, mặt dài gần Mộc hình, mặt tròn gần Thủy hình, mặt nhọn trên gần Hoả hình, mặt dày nặng gần Thổ hình. Bài năm dạng người theo ngũ hành đi sâu vào lối ghép ấy.

Chữ "đọc" ở cột phải là về nhịp đời theo tam đình, không phải về giàu nghèo. Mặt chữ Do rộng phần dưới, sách nói hậu vận vững; mặt chữ Giáp rộng phần trên, sách nói tiền vận thuận. Đọc như vậy thì bảng thành một gợi ý về quãng đời nào nên chuẩn bị gì, không thành lời phán.

Vì sao hình mặt đổi, và điều đó nói gì về bảng

Khuôn mặt người trưởng thành không đứng yên. Những yếu tố sau làm một người "đổi chữ" trong đời mình:

  • Cân nặng: tăng cân làm mặt tròn, đầy (về phía Viên, Điền); giảm cân làm lộ xương (về phía Vương, Thân).
  • Tuổi tác: mỡ má giảm, da chùng, xương hàm tiêu dần khi mất răng; nhiều người trẻ mặt chữ Giáp, về già thành mặt dài hẹp.
  • Cơ hàm: người nghiến răng, nhai nhiều có cơ cắn to, hàm bạnh hơn (về phía Do, Phong).
  • Răng và khớp cắn: niềng răng, mất răng, làm răng giả đổi rõ đường bao phần dưới mặt.
  • Kiểu tóc, râu, kính, ống kính máy ảnh: tóc mái làm trán trông hẹp, râu làm cằm trông vuông, ống kính góc rộng của điện thoại làm mặt trông dài và mũi to hơn. Xem xem tướng qua ảnh có được không.

Như vậy, bảng mười chữ mô tả hình dạng tại một thời điểm, và chính sách tướng, với khái niệm "tướng tùy tâm biến", cũng chấp nhận rằng tướng đổi theo năm tháng.

Sách cổ nói gì

Thần Tướng Toàn Biên, phần luận hình mặt, đại ý: mặt người lấy mười chữ mà phân, là Giáp, Do, Thân, Điền, Đồng, Vương, Viên, Mục, Dụng, Phong; mặt hợp chữ Điền, Đồng thì vuông vức đầy đặn, được coi là thế vững; mặt chữ Do thì trước khó sau dễ, chữ Giáp thì trước dễ sau khó, chữ Thân thì vượng ở khoảng giữa; mặt chữ Dụng lệch lạc, chữ Phong hàm bạnh, sách đều có lời riêng.

Ma Y Tướng Pháp, phần luận diện tướng, đại ý: xem mặt trước hết xem ba đình có cân không, năm nhạc có chầu không, rồi mới xem hình; hình mặt dù đẹp mà thần khí kém thì cũng không thành tướng tốt.

Bình: câu của Ma Y đặt bảng mười chữ vào đúng chỗ của nó: hình mặt là bước sau, không phải bước đầu. Người mới học hay làm ngược, nhìn đường bao trước rồi phán. Sách dạy nhìn sự cân đối và thần khí trước, hình sau cùng.

Đọc cho đúng mức

  • Không có nghiên cứu nào cho thấy hình dạng khuôn mặt dự báo tính cách, sự nghiệp hay vận số. Một số nghiên cứu tâm lý học chỉ ghi nhận rằng người nhìn hay gán ấn tượng (đáng tin, mạnh mẽ, hiền lành) cho từng kiểu mặt, và những ấn tượng đó thường sai.
  • Hình mặt phụ thuộc di truyền, dân tộc, cân nặng, tuổi, răng; một người có thể đổi "chữ" nhiều lần trong đời.
  • Mặt bất đối xứng (chữ Dụng) là chuyện bình thường; gần như không ai có khuôn mặt cân tuyệt đối. Xem mặt lệch trái phải.
  • Bảng này hữu ích để đọc sách tướng cổ, hiểu thuật ngữ, không để đánh giá người khác.

Việc nên làm

  • Chụp một ảnh thẳng mặt bằng camera sau, đặt máy cách mặt khoảng một mét rưỡi, ánh sáng đều; khi đó đường bao mặt ít bị méo nhất.
  • Tìm chữ gần nhất trong bảng, rồi đọc cùng tam đình để xem phần nào của mặt rộng hơn.
  • Ghi lại một câu mô tả, không ghi lời phán. Vài năm sau xem lại để thấy khuôn mặt mình đổi thế nào.
  • Muốn tìm hiểu riêng phần hàm và cằm, đọc thêm tướng hàm, xương quai hàm và tướng cằm.
🤳Xem tướng mặt qua ảnh
Chụp selfie: máy đo 478 điểm trên mặt, AI luận tam đình, ngũ quan, các cung trên mặt. Ảnh không lưu.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Thần Tướng Toàn Biên — phần luận hình mặt, mười chữ mặt (đại ý).
  • Ma Y Tướng Pháp — phần luận diện tướng (đại ý).
  • Tài liệu giải phẫu, nha khoa phổ thông về sự thay đổi khuôn mặt theo tuổi, cân nặng và khớp cắn.

Câu hỏi thường gặp

Mặt chữ Điền là mặt thế nào?

Là mặt vuông vức, trán, gò má và hàm rộng gần bằng nhau, cằm bằng. Sách tướng đọc là người vững vàng, thực tế, chịu được việc nặng.

Mặt chữ Do và mặt chữ Giáp khác nhau ra sao?

Mặt chữ Do trên hẹp dưới rộng, sách đọc là trước khó sau dễ. Mặt chữ Giáp trên rộng dưới nhọn, sách đọc là trước dễ sau khó. Hai chữ là hình lộn ngược của nhau.

Bát tự diện và thập tự diện là gì?

Là cách sách tướng chia hình mặt theo nét chữ Hán. Thập tự diện có mười chữ: Giáp, Do, Thân, Điền, Đồng, Vương, Viên, Mục, Dụng, Phong; nhiều sách chỉ kể tám chữ đầu nên gọi là bát tự diện.

Hình dạng khuôn mặt có thay đổi không?

Có. Cân nặng, tuổi tác, cơ hàm, răng và cả kiểu tóc, ống kính máy ảnh đều làm đường bao khuôn mặt khác đi. Một người có thể đổi "chữ mặt" nhiều lần trong đời.

Mặt chữ Dụng có phải tướng xấu không?

Sách tướng chê mặt lệch, nhưng ngày nay biết khuôn mặt ai cũng lệch ít nhiều. Mặt lệch rõ do chấn thương, bệnh hay răng là việc của bác sĩ, không phải dấu hiệu vận số.

Nguồn tham khảo: Thần Tướng Toàn Biên — phần luận hình mặt (thập tự diện) · Ma Y Tướng Pháp (bản lưu hành đời Minh – Thanh) — phần luận diện tướng

Tướng lưỡi trong sách tướng và lưỡi trong thiệt chẩn Đông y: hai cách nhìn một bộ phậnTướng lưỡi: sách tướng đọc lưỡi dài ngắn, màu, vân để đoán sang hèn; thiệt chẩn Đông y đọc chất lưỡi, rêu lưỡi để xét bệnh. Hai c…
Tướng gò má (lưỡng quyền) và câu "đàn bà gò má cao" nên đọc lại thế nàoTướng gò má theo sách tướng: lưỡng quyền ứng tuổi 46, 47, chữ quyền là quyền lực, gò má đỡ mũi; và vì sao câu "đàn bà gò má cao" …
Tướng trán: thiên đình, ba đường vân ngang, chân tóc và chuyện trán cao là người làm nghề trí ócTướng trán theo sách tướng: trán ứng tuổi 15 đến 30, các bộ vị trên trán, ba đường vân thiên nhân địa, chân tóc, và vì sao trán c…
Các kiểu mắt trong tướng thư: mắt phượng, mắt hạc, mắt đào hoa, mắt tam bạch và hơn mười kiểu khácCác kiểu mắt trong tướng thư: mắt rồng, mắt phượng, mắt hạc, mắt đào hoa, mắt tam bạch, tứ bạch; bảng nhận dạng theo năm nét và v…
Má lúm đồng tiền theo tướng thuật: sách cổ có nói không, hay chỉ là lời đồn mớiMá lúm đồng tiền tướng số: Thần Tướng Toàn Biên không có mục riêng, chữ 'yếp' trong sách tướng thường là nốt ruồi; phần lớn 'ý ng…
Tướng miệng, môi: "xuất nạp quan" của lời nói, ăn uống, tình cảm và chuyện khoé miệng lên xuốngTướng miệng, môi theo sách tướng: vì sao miệng là xuất nạp quan, miệng chữ Tứ, miệng trăng ngửa và thuyền úp, môi dày mỏng, sắc m…