Mai Hoa Dịch Số là gì: phép đoán gắn tên Thiệu Ung, lập quẻ từ con số trước mắt

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 16 phút đọc

Mai Hoa Dịch Số là gì: phép đoán gắn tên Thiệu Ung, lập quẻ từ con số trước mắt

Mai Hoa Dịch Số là phép đoán lấy một con số có sẵn trước mắt (năm tháng ngày giờ, số vật đếm được, số tiếng động, số nét chữ) đổi ra hai quẻ đơn theo thứ tự tiên thiên, ghép thành một quẻ kép có một hào động, rồi đọc bằng quan hệ sinh khắc giữa quẻ Thể (mình) và quẻ Dụng (việc). Sách đề tên Thiệu Ung đời Tống.

Khác với gieo đồng xu rồi tra lời hào, Mai Hoa gần như không cần lời Kinh Dịch. Khác với Lục Hào, nó không gắn can chi vào sáu hào. Bộ máy của nó nhỏ đến mức tính nhẩm được, và chính vì nhỏ nên phần còn lại phải dựa vào con mắt người đoán. Bài này là cửa vào chuyên mục: phép này là gì, từ đâu ra, chạy thế nào, khác các môn bói Dịch khác ở đâu, và nên học theo thứ tự nào.

Mục lục

  • Một định nghĩa cho đúng
  • Thiệu Ung và cuốn sách mang tên ông: truyền thuyết và văn bản
  • Bộ máy năm bước, đi qua ví dụ cành mai
  • Tám con số tiên thiên
  • Các cửa khởi quẻ
  • Mai Hoa khác Lục Hào ở đâu
  • Phần số và phần người
  • Lộ trình đọc trong chuyên mục
  • Sách cổ nói gì
  • Đọc cho đúng mức

Một định nghĩa cho đúng: quẻ đến từ con số, lời đoán đến từ ngũ hành

Có ba ý hay bị hiểu lệch khi nghe tên "Mai Hoa".

Thứ nhất, Mai Hoa không phải một cách gieo quẻ khác để rồi tra cùng một bộ lời hào. Phần lập quẻ đúng là cho ra một quẻ trong 64 quẻ, nhưng phần đọc chủ yếu dựa vào ngũ hành của hai quẻ đơn và tượng của chúng (Càn là ngựa, là người già, là kim loại tròn; Ly là lửa, là mắt, là vật rỗng giữa…). Lời quẻ, lời hào của Chu Dịch đứng ở hàng thứ yếu.

Thứ hai, tên "Mai Hoa" (hoa mai) không phải tên một hệ thống trừu tượng. Nó lấy từ câu chuyện mở màn của sách: Thiệu Ung ngắm mai, thấy hai con chim sẻ tranh cành rơi xuống, lấy giờ khắc ấy lập quẻ và đoán chiều hôm sau có cô gái hái hoa ngã bị thương. Câu chuyện ấy được phân tích từng bước ở bài Quan Mai Chiêm.

Thứ ba, "Dịch Số" ở đây hiểu theo nghĩa hẹp: dùng số để vào Dịch. Số là cửa, không phải đích. Con số chỉ quyết định quẻ nào hiện ra; nói gì về việc thì phải đọc tượng.

Thiệu Ung và cuốn sách mang tên ông: tách truyền thuyết khỏi văn bản

Điều sử liệu cho biết. Thiệu Ung (1011–1077), tự Nghiêu Phu, thuỵ Khang Tiết, sống ở Lạc Dương thời Bắc Tống, gọi nhà mình là "An Lạc oa" (tổ an vui). Ông là một trong năm nhà Lý học đầu đời Tống (cùng Chu Đôn Di, Trương Tái, Trình Hạo, Trình Di). Tác phẩm được xác nhận của ông là Hoàng Cực Kinh Thế, một bộ khung số học khổng lồ tính vận trời đất theo nguyên, hội, vận, thế, và tập thơ Y Xuyên Kích Nhưỡng. Các sơ đồ "Phục Hy bát quái" (thứ tự và phương vị tiên thiên) truyền tới nay qua Chu Hy cũng được ghi là từ học phái của ông. Phần Đạo học truyện trong Tống sử chép đường truyền "Tiên Thiên học" của ông đi ngược lên Lý Chi Tài, Mục Tu, Chủng Phóng, và các tài liệu đời sau nối tiếp lên tới Trần Đoàn.

Điều truyền thống kể. Ông đọc Dịch đến mức dán quẻ khắp vách nhà; ông ném chiếc gối sứ đuổi chuột, gối vỡ, bên trong có dòng chữ ghi sẵn năm tháng ngày giờ gối sẽ vỡ vì ném chuột; ông ngắm mai mà đoán được chuyện cô gái hái hoa. Những chuyện này nằm trong chính sách Mai Hoa và các truyện kể dân gian, không nằm trong tiểu sử chính sử.

Điều văn bản hiện còn cho thấy. Không tác phẩm nào được xác nhận là của Thiệu Ung trình bày phép lập quẻ theo giờ hay phép Thể – Dụng. Các bản Mai Hoa Dịch Số được biết đến xuất hiện muộn, phần đông giới nghiên cứu xếp vào khoảng đời Minh, và văn bản có nhiều lớp chồng lên nhau: có thiên văn phong gọn, có thiên như bài ca để thuộc lòng, có những ví dụ lặp lại cùng một ý. Cách hợp lý nhất là coi đây là một truyền thống thực hành gắn tên Thiệu Ung, được người đời sau biên tập, chứ không phải sách ông tự tay viết.

Nói vậy không làm giảm giá trị của phép này. Nó chỉ giúp đọc sách cho đúng: khi một câu trong Mai Hoa nghe như mâu thuẫn với câu khác, nhiều khả năng đó là hai lớp biên tập, không phải ẩn ý thâm sâu cần giải.

Bộ máy năm bước, đi qua ví dụ cành mai

Toàn bộ phép đoán Mai Hoa có thể gói trong năm bước. Bảng dưới chạy qua ví dụ gốc của sách: năm Thìn, tháng Chạp (tháng 12), ngày 17, giờ Thân. Các con số đã được tính lại bằng máy của site và khớp với lời sách.

BướcLàm gìVí dụ Quan Mai
1. Lấy sốĐổi thời điểm (hoặc vật, tiếng, chữ) ra con sốNăm Thìn = 5, tháng 12, ngày 17, giờ Thân = 9
2. Ra quẻ trênTổng năm + tháng + ngày, chia 8 lấy dư5 + 12 + 17 = 34; 34 chia 8 dư 2 → Đoài
3. Ra quẻ dưới và hào độngCộng thêm giờ, chia 8 lấy dư ra quẻ dưới; chia 6 lấy dư ra hào động34 + 9 = 43; dư 3 → Ly; 43 chia 6 dư 1 → hào sơ động
4. Dựng bốn quẻQuẻ chủ, quẻ hỗ, quẻ biến; chia Thể và DụngChủ: Trạch Hoả Cách; hỗ: Thiên Phong Cấu; biến: Trạch Sơn Hàm. Hào động ở quẻ dưới nên Ly là Dụng, Đoài là Thể
5. ĐọcSinh khắc của Dụng, hỗ, biến với Thể; tượng; ngoại ứng; mùaĐoài Kim là Thể, bị Ly Hoả khắc; hỗ có Tốn Mộc nuôi Hoả; biến ra Cấn Thổ sinh Kim → có thương tổn nhưng không nặng

Nhìn bảng sẽ thấy phần số chỉ chiếm ba bước đầu và rất máy móc. Bước bốn đã cần biết khái niệm, bước năm mới là nơi phép đoán hay hoặc dở. Ba khái niệm phải nắm:

  • Thể và Dụng. Trong hai quẻ đơn, quẻ không chứa hào động là Thể, đại diện người hỏi; quẻ chứa hào động là Dụng, đại diện việc được hỏi. Dụng sinh Thể là thuận nhất, Dụng khắc Thể là nghịch nhất. Bảng năm quan hệ đầy đủ ở bài Thể và Dụng.
  • Hỗ quái. Lấy hào 2–3–4 làm quẻ dưới, hào 3–4–5 làm quẻ trên, ra quẻ "nằm bên trong" quẻ chủ, đọc như diễn tiến giữa chừng.
  • Biến quái. Đổi âm dương hào động, ra quẻ kết cục. Hai quẻ này được giải ở bài hỗ quái, biến quái.

Cách chia và chia lấy dư được trình bày tỉ mỉ, kèm các trường hợp dư 0, giờ Tý, tháng nhuận, ở bài lập quẻ Mai Hoa theo thời gian.

Tám con số tiên thiên: vì sao Càn là 1, Khôn là 8

Mọi phép khởi quẻ của Mai Hoa đều quy về tám số:

Số12345678
QuẻCàn ☰Đoài ☱Ly ☲Chấn ☳Tốn ☴Khảm ☵Cấn ☶Khôn ☷
Ngũ hànhKimKimHoảMộcMộcThuỷThổThổ

Đây là thứ tự tiên thiên, gắn với tên Thiệu Ung qua sơ đồ "Phục Hy bát quái thứ tự". Nó không tuỳ tiện: nếu sinh tám quẻ bằng cách gấp đôi âm dương ba lần (Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái), đọc các nhánh từ dương sang âm thì ra đúng Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn. Cách dựng được giải ở bài Lưỡng Nghi, Tứ Tượng và số tiên thiên, hậu thiên.

Một chỗ hay vấp: ngũ hành của tám quẻ lại theo hệ hậu thiên (Càn Đoài Kim, Chấn Tốn Mộc, Khảm Thuỷ, Ly Hoả, Cấn Khôn Thổ). Mai Hoa dùng số tiên thiên để ra quẻ nhưng dùng ngũ hành hậu thiên để đọc quẻ. Thứ tự tiên thiên chỉ là cái "bàn phím" gõ con số thành quẻ.

Các cửa khởi quẻ: thời gian, con số, chữ, tiếng, vật, người

Bản lưu hành của Mai Hoa liệt kê nhiều cách lấy số. Có thể chia làm hai họ:

HọCách lấyVí dụBài riêng
Tiên thiên (số trước, quẻ sau)Năm tháng ngày giờ âm lịchQuan Mai, Mẫu ĐơnTheo thời gian
Một hoặc hai con số bắt gặpsố vật đếm được, số người đi quaTheo con số, chữ, tiếng
Số nét chữ, số chữ trong câutên người, biển hiệunhư trên
Số tiếng độngtiếng gõ cửa, tiếng chimnhư trên
Đo chiều dàitrượng, thước, tấcnhư trên
Hậu thiên (tượng trước, số sau)Người đến hỏi, con vật, đồ vật, phương hướng, màu sắcông già từ hướng đông nam đi tớiTheo người đến hỏi, Tiên thiên và hậu thiên

Họ tiên thiên lấy con số rồi mới biết quẻ. Họ hậu thiên làm ngược lại: thấy một ông già (Càn) đi tới từ phương đông nam (Tốn trong phương vị hậu thiên), ghép thành quẻ trước, rồi mới cộng số của hai quẻ với giờ để ra hào động. Sách cho rằng quẻ tiên thiên và quẻ hậu thiên đọc ứng kỳ khác nhau; chi tiết ở bài ứng kỳ Mai Hoa.

Có một điểm chung đáng để ý: dù lấy số kiểu gì, hào động luôn tính bằng tổng chia 6, và hầu như mọi cách đều cộng thêm giờ ở một bước nào đó. Giờ là sợi dây buộc quẻ vào khoảnh khắc hỏi. Hai người cùng đếm được bảy con cò nhưng hỏi ở hai giờ khác nhau sẽ ra hai quẻ khác nhau.

Mai Hoa khác Lục Hào ở đâu: không cần nạp giáp

Lục Hào và Mai Hoa đều là con cháu của phái Tượng Số (xem hai lối đọc Dịch), đều cho ra một quẻ có hào động. Nhưng sau bước lập quẻ, hai môn rẽ hẳn hai đường.

Phương diệnMai HoaLục Hào
Lập quẻTừ con số (giờ, vật, tiếng), tính nhẩmGieo ba đồng xu sáu lần, hoặc cỏ thi
Số hào độngLuôn đúng mộtTừ không đến sáu
Đơn vị đọcHai quẻ đơn: Thể và DụngSáu hào riêng rẽ
Gắn can chiKhôngNạp giáp: mỗi hào gắn một can chi, xem nạp giáp
"Mình" và "việc"Thể = mình, Dụng = việcHào Thế = mình, hào Ứng = người, dụng thần theo lục thân
Lục thânKhông dùngPhụ Mẫu, Huynh Đệ, Tử Tôn, Thê Tài, Quan Quỷ
Thời gianMùa vượng suy của quẻ Thể; ứng kỳ theo số quẻNguyệt kiến, nhật thần, tuần không, nguyệt phá
Ngoại ứngPhần quan trọng, sách dành nhiều thiênÍt bàn
Đòi hỏi trước khi họcTám quẻ đơn, ngũ hành, tượngTám cung, 64 quẻ nạp giáp, lục thân, vòng trường sinh

Chỗ khác căn bản nằm ở dòng "gắn can chi". Lục Hào biến mỗi hào thành một địa chi có ngũ hành riêng, nên một quẻ có tới sáu "nhân vật" để đặt vào việc. Mai Hoa chỉ có hai nhân vật chính (Thể, Dụng) cộng ba vai phụ (hai quẻ hỗ, một quẻ biến). Ít nhân vật thì dễ học, nhưng cũng ít chỗ để phân biệt các việc tinh vi. Muốn bù, Mai Hoa phải dựa vào tượng (quẻ Ly ứng với cái gì trong việc này) và ngoại ứng (lúc lập quẻ có gì xảy ra quanh mình).

Vì thế nói "Mai Hoa dễ hơn Lục Hào" chỉ đúng ở phần tính. Phần đọc thì khó theo một kiểu khác: Lục Hào khó vì nhiều luật, Mai Hoa khó vì ít luật. So sánh đầy đủ và lời khuyên chọn môn nằm ở bài Mai Hoa và Lục Hào.

Phần số và phần người: vì sao cùng giờ, hai người không đoán như nhau

Hãy làm một phép đếm. Với phép lập quẻ theo thời gian, trong cùng một giờ âm lịch (hai tiếng đồng hồ), mọi người trên đất Việt hỏi bất cứ việc gì cũng ra cùng một quẻ. Một ngày có mười hai quẻ, một tháng âm có khoảng ba trăm sáu mươi quẻ, và vì quẻ trên chỉ phụ thuộc tổng năm + tháng + ngày chia 8, nhiều ngày khác nhau cho cùng quẻ trên.

Nếu Mai Hoa chỉ là phép số, nó sẽ trả lời mọi câu hỏi trong hai tiếng đồng hồ bằng một câu. Sách hiểu rõ điều đó và thêm vào ba lớp khiến hai lần đoán cùng giờ không còn giống nhau:

  1. Câu hỏi quyết định Thể và Dụng đọc vào đâu. Cùng một quẻ Cách, hỏi về nhà thì Dụng là ngôi nhà, hỏi về bệnh thì Dụng là bệnh, hỏi về người đi xa thì Dụng là người ấy.
  2. Tượng quyết định chi tiết. Đoài có thể là cô gái trẻ, là miệng, là cái hồ, là con dê, là vật bị sứt mẻ. Chọn tượng nào phụ thuộc việc hỏi và hoàn cảnh. Bảng tượng đầy đủ ở bài Bát quái vạn vật loại tượng.
  3. Ngoại ứng làm chứng. Tiếng động, người đi ngang, vật lạ xuất hiện lúc lập quẻ được sách coi như một quẻ phụ. Ở ví dụ cành mai, chính hình ảnh hai con chim tranh cành rơi xuống là thứ khiến Thiệu Ung lập quẻ, và là chứng cho lời đoán "có người ngã". Xem bài ngoại ứng và Tam Yếu Linh Ứng.

Sách diễn ý này bằng nguyên tắc "không có động thì không xem, không nhân việc thì không xem". Quẻ Mai Hoa không lập lúc ngồi rảnh; nó lập khi có một dấu động đi kèm một việc thật. Đó vừa là luật đạo đức của người đoán, vừa là luật kỹ thuật: thiếu dấu động thì thiếu ngoại ứng, thiếu việc thật thì Thể Dụng không có chỗ bám.

Lộ trình đọc trong chuyên mục này

Thứ tự gợi ý cho người mới, từ nền tới ngọn:

  1. Nền: tám quẻ đơn, ngũ hành sinh khắc, vượng tướng hưu tù tử.
  2. Lập quẻ: theo thời gian → theo con số, chữ, tiếng động → theo người đến hỏi → tiên thiên và hậu thiên.
  3. Đọc quẻ: Thể và Dụng → hỗ quái, biến quái → quẻ Thể gặp mùa → ứng kỳ.
  4. Tượng và ứng: Bát quái vạn vật loại tượng → ngoại ứng → Tam Yếu Linh Ứng → Thập Ứng.
  5. Ví dụ: Quan Mai Chiêm → năm ví dụ cổ → việc thường ngày → tìm đồ thất lạc.
  6. Đối chiếu: Mai Hoa và Lục Hào.

Lời khuyên thật: đừng nhảy ngay vào ví dụ cổ. Ví dụ trong sách được kể sau khi đã ứng nghiệm, nên lời giải luôn khít. Hãy tự tính lại từng con số của ví dụ trước khi đọc lời giải, rồi thử đoán trước khi đọc kết quả, sẽ thấy chỗ nào là luật, chỗ nào là con mắt.

Sách cổ nói gì

Cực số tri lai chi vị chiêm.

Dịch: Đi đến tận cùng của số để biết việc sắp tới, gọi là chiêm. — Chu Dịch, Hệ Từ thượng, chương 5

Bình: Đây là câu mà mọi môn "số" trong Dịch đều dựa vào để biện minh. Nhưng nên đọc trọn đoạn: ngay sau đó Hệ Từ nói "thông biến chi vị sự", hiểu được biến hoá mới gọi là làm việc. Số chỉ đưa tới cửa; biết biến mới là việc của người. Mai Hoa đi đúng tinh thần ấy khi đặt ngoại ứng và tượng lên trên phép tính.

Mai Hoa Dịch Số, bản lưu hành, đại ý: không có động thì không xem, không nhân có việc thì không xem; có người hỏi, có vật động, có tiếng lạ thì mới khởi quẻ.

Bình: Câu này hay bị đọc như một lời răn đạo đức. Thật ra nó còn là điều kiện kỹ thuật, như đã nói ở trên: phép tính theo giờ cho mọi người cùng một quẻ, nên quẻ chỉ có nghĩa khi gắn với một việc và một dấu động cụ thể.

Mai Hoa Dịch Số, phần Thể Dụng, đại ý: quẻ Dụng sinh quẻ Thể là có lợi, quẻ Thể khắc quẻ Dụng cũng tốt, hai quẻ cùng hành là thuận; quẻ Thể sinh quẻ Dụng là hao tốn, quẻ Dụng khắc quẻ Thể là không lợi.

Bình: Năm câu này là toàn bộ "ngữ pháp" của Mai Hoa. Người học lâu năm hiểu rằng chúng chỉ là điểm xuất phát; độ mạnh yếu theo mùa, số quẻ cùng phe với Thể và tượng cụ thể sẽ làm câu trả lời có sắc thái.

Đọc cho đúng mức

Phép tính rất thô. Năm chỉ lấy theo địa chi nên mười hai năm lặp lại một lần. Quẻ trên chỉ có tám khả năng, quyết định bởi một phép chia lấy dư. Trong hai tiếng đồng hồ, cả nước ra một quẻ. Không có gì trong bộ máy số "biết" việc của riêng bạn. Thứ làm cho quẻ có nghĩa là câu hỏi, tượng và hoàn cảnh, tức là phần do con người đặt vào.

Ví dụ cổ là chuyện kể sau. Mọi ví dụ trong sách đều được chép khi đã biết kết quả. Không có bản ghi nào cho thấy tỷ lệ đoán trúng của Thiệu Ung hay của ai khác. Các ví dụ có giá trị như bài giảng mẫu về cách lập luận, không như bằng chứng về độ chính xác.

Các bản và các thầy khác nhau. Có thầy cộng giờ vào cả quẻ trên; có thầy tính năm theo số thứ tự năm trong chu kỳ sáu mươi; có thầy dùng giờ đồng hồ thay cho mười hai giờ địa chi. Bài này theo cách phổ biến nhất trong bản lưu hành; khi theo cách khác, hãy giữ cố định một cách.

Mai Hoa không thay được suy xét. Ngay cả sách cũng nói người đoán giỏi phải "thông lý". Với những việc có dữ kiện (sức khoẻ, tiền bạc, pháp lý), dữ kiện đứng trước quẻ.

Các phái nhìn khác nhau. Người theo Lục Hào thường cho Mai Hoa là "linh mà không chuẩn": có lúc đoán rất khéo, nhưng khó dạy lại. Người theo Mai Hoa đáp rằng Lục Hào nhiều luật mà vẫn phải dùng mắt. Cả hai đều có lý, và đều là chuyện phương pháp, không phải chuyện môn nào có "thần" hơn.

Việc nên làm

  1. Thuộc tám số tiên thiên và ngũ hành tám quẻ. Không có hai thứ này thì không lập được quẻ Mai Hoa nào.
  2. Tự tính lại ví dụ cành mai từ đầu (năm Thìn 5, tháng 12, ngày 17, giờ Thân 9) cho đến khi ra đúng Cách, Cấu, Hàm mà không nhìn bảng.
  3. Mỗi lần lập quẻ, ghi bốn thứ vào sổ: giờ, câu hỏi, quẻ (chủ, hỗ, biến, Thể, Dụng), và ngoại ứng lúc ấy. Ba tháng sau đọc lại, cách ghi ở bài ghi sổ quẻ.
  4. Chỉ lập quẻ khi có một việc thật đang cần quyết. Câu hỏi đặt theo hướng "nên chuẩn bị gì", đừng hỏi "có hay không".
  5. Dùng công cụ của site để kiểm phép tính tay, không phải để thay phép tính tay.
🌸Mai Hoa Dịch Số
Lập quẻ theo thời điểm hoặc theo số, thể – dụng, hỗ quái, biến quái.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Mai Hoa Dịch Số, bản lưu hành đề Thiệu Ung soạn: phần bát quái số, các phép khởi quẻ, Quan Mai chiêm, Thể Dụng tổng quyết (đại ý).
  • Chu Dịch, Hệ Từ thượng, chương 5.
  • Tống sử, Đạo học truyện, phần Thiệu Ung (đại ý về tiểu sử và đường truyền Tiên Thiên học).
  • Thiệu Ung, Hoàng Cực Kinh Thế (để đối chiếu: sách số học thật của ông không có phép lập quẻ theo giờ).
  • Chu Hy, Chu Dịch Bản Nghĩa, phần các đồ đặt đầu sách (sơ đồ thứ tự và phương vị tiên thiên gắn với Thiệu Ung).

Câu hỏi thường gặp

Mai Hoa Dịch Số có phải do Thiệu Ung viết không?

Theo truyền thống là vậy, nhưng không tác phẩm nào được xác nhận là của Thiệu Ung có phép này, và các bản sách được biết đến xuất hiện muộn, phần đông giới nghiên cứu xếp vào khoảng đời Minh. Nên coi đây là truyền thống thực hành gắn tên ông.

Học Mai Hoa cần biết những gì trước?

Tám quẻ đơn với số tiên thiên, ngũ hành của chúng, quan hệ sinh khắc và vượng suy theo mùa. Cách tra tên 64 quẻ thì cần, còn lời hào Chu Dịch không bắt buộc ở giai đoạn đầu.

Vì sao quẻ Mai Hoa luôn chỉ có một hào động?

Vì hào động được tính bằng một phép chia 6 lấy dư, ra đúng một con số từ 1 đến 6. Nhờ vậy quẻ luôn tách gọn thành một quẻ Thể không động và một quẻ Dụng có động.

Cùng một giờ, hai người hỏi hai việc ra cùng quẻ thì đoán sao?

Đúng là ra cùng quẻ. Khác nhau nằm ở chỗ Dụng được đọc là việc gì, tượng nào được chọn, và ngoại ứng lúc lập quẻ. Đó là lý do sách nhấn mạnh phải có việc thật và dấu động mới xem.

Mai Hoa và gieo đồng xu, cái nào chính xác hơn?

Không có số liệu nào so sánh được. Hai phép trả lời theo hai kiểu: gieo đồng xu thường để đọc lời quẻ, lời hào soi việc; Mai Hoa đọc sinh khắc và tượng. Nên chọn theo thứ bạn muốn học, và giữ một phép đủ lâu để tự kiểm.

Nguồn tham khảo: Mai Hoa Dịch Số (bản lưu hành, đề Thiệu Ung soạn) — bát quái số, các phép khởi quẻ, Quan Mai chiêm, Thể Dụng tổng quyết · Chu Dịch — Hệ Từ thượng, chương 5 — câu cực số tri lai chi vị chiêm · Tống sử — Đạo học truyện, phần Thiệu Ung — tiểu sử, đường truyền Tiên Thiên học · Hoàng Cực Kinh Thế — Thiệu Ung

Ngoại ứng trong Mai Hoa: tiếng động, người đi qua, vật lạ lúc lập quẻ và vì sao phần này khó dạy bằng công thứcNgoại ứng trong Mai Hoa là những gì nghe, thấy, gặp lúc lập quẻ, đổi ra tượng rồi so với quẻ Thể. Hai cách dùng, bẫy tâm lý và mộ…
Hỗ quái, biến quái trong Mai Hoa: quá trình và kết cục của việc, đọc trọn một quẻ từ đầu đến cuốiHỗ quái biến quái trong Mai Hoa: dựng quẻ hỗ từ hào 2 đến 5, quẻ biến chỉ đổi bên Dụng, ví dụ Lôi Thuỷ Giải đọc trọn ba cảnh, và …
Quẻ tiên thiên và quẻ hậu thiên trong Mai Hoa: lấy số trước hay lấy tượng trướcMai Hoa chia quẻ tiên thiên (có số rồi ra quẻ) và quẻ hậu thiên (thấy vật ra quẻ, cộng giờ ra hào). Bảng khác nhau và một sự việc…
Quẻ Thể gặp mùa sinh hay mùa khắc: áp vượng suy theo mùa vào phép đoán Mai HoaQuái khí vượng suy Mai Hoa: bảng 8 quẻ đơn theo bốn mùa và Tứ Quý, cách cân Thể – Dụng theo mùa, hai quẻ giống hệt lập hai mùa ch…
Mai Hoa và Lục Hào khác nhau thế nào: một quẻ đọc hai cách, và người mới nên học môn nào trướcMai Hoa và Lục Hào khác nhau thế nào: so độ khó, dữ liệu cần, độ chi tiết; cùng một quẻ Lôi Trạch Quy Muội đọc theo hai môn, và g…
Bát quái vạn vật loại tượng: bảng tượng của tám quẻ dùng khi đoán Mai Hoa, và tầng nào của bảng đáng tinBát quái vạn vật loại tượng: bảng tra người, thân thể, con vật, đồ vật, thức ăn, thời tiết, màu của tám quẻ theo Mai Hoa, tách lớ…