Lễ Hạ Điền, Thượng Điền: những ngày lễ của lịch nông vụ, từ lễ tịch điền của Lê Đại Hành năm 987 đến đình làng hôm nay

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc

Lễ Hạ Điền, Thượng Điền: những ngày lễ của lịch nông vụ, từ lễ tịch điền của Lê Đại Hành năm 987 đến đình làng hôm nay

Lễ Hạ Điền là lễ "xuống đồng" của làng, làm trước khi bắt đầu cày cấy một vụ, để khấn thần làng, Thần Nông cho mùa thuận; lễ Thượng Điền là lễ "lên đồng", làm khi xong việc đồng (sau khi cấy xong, hoặc sau khi gặt, tuỳ vùng). Hai lễ có gốc gần với lễ tịch điền của nhà vua; ở Việt Nam, sử ghi Lê Đại Hành cày ruộng tịch điền ở núi Đọi năm 987.

Hai lễ đánh dấu hai đầu một vụ

Lễ Hạ ĐiềnLễ Thượng Điền
Nghĩa chữxuống ruộnglên khỏi ruộng
Thời điểmtrước khi cày cấy một vụkhi xong việc đồng: cấy xong (nhiều làng Bắc Bộ) hoặc gặt xong (nhiều nơi Nam Bộ)
Ý chínhxin phép đất, cầu mưa thuận gió hoàtạ ơn, nghỉ ngơi sau mùa vất vả
Nơi làmđình làng, miếu Thần Nông, đầu ruộngđình làng, từng nhà
Người chủ lễchức sắc làngchức sắc làng, các gia đình

Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục (đầu thế kỷ 20) ghi lại tục ở làng Bắc Bộ, đại ý: khi sắp cấy, làng làm lễ hạ điền ở đình; cấy xong, làng làm lễ thượng điền, có nơi mở tiệc, có nơi tổ chức trò vui. Ở Nam Bộ, các đình làng giữ hai lễ trong lịch lễ năm cùng với lễ Kỳ Yên: hạ điền khi bắt đầu mùa mưa, xuống giống; thượng điền sau khi gặt xong, lúa đã vào kho.

Vì vậy cùng một tên "thượng điền", mỗi vùng lại làm ở một thời điểm khác nhau trong năm. Cái cố định không phải ngày, mà là vị trí trong vụ: hạ điền mở vụ, thượng điền khép việc đồng.

Gốc tích: lễ tịch điền của nhà vua

Ở cấp triều đình, có một lễ cùng tinh thần nhưng mang ý nghĩa chính trị: lễ tịch điền (cày ruộng tịch). Thiên Nguyệt Lệnh trong Lễ Ký tả, đại ý: tháng đầu xuân, thiên tử chọn ngày tốt, tự mang cày bừa, dẫn tam công, cửu khanh, chư hầu, đại phu ra cày ruộng tịch; thiên tử đẩy cày ba lần, tam công năm lần, khanh và chư hầu chín lần.

Ý nghĩa của nghi lễ rất rõ: người đứng đầu tự tay cày ruộng để làm gương cho thiên hạ, và để thóc gạo dâng lên tông miếu là do chính tay mình làm ra.

Ở Việt Nam, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi hai mốc:

  • Năm Đinh Hợi 987, Lê Đại Hành lần đầu cày ruộng tịch điền ở núi Đọi, cày được một hũ nhỏ vàng; lại cày ở núi Bàn Hải được một hũ nhỏ bạc, nên đặt tên là ruộng Kim Ngân (đại ý).
  • Năm Mậu Dần 1038, Lý Thái Tông ra cửa biển Bố Hải cày ruộng tịch điền. Có quan can rằng đó là việc của nông phu, vua cần gì làm; vua đáp, đại ý: trẫm không tự cày thì lấy gì dâng xôi cúng tông miếu, lấy gì làm gương cho thiên hạ.

Chuyện hũ vàng hũ bạc ở năm 987 nên đọc như lời chúc lành mà sử gia gắn vào sự kiện, còn điều có thật là nghi lễ đã được nhà Tiền Lê đưa vào triều đình. Lời đáp của Lý Thái Tông năm 1038 thì cho thấy ý thức rất rõ: nhà vua cày ruộng không để lấy thóc, mà để giữ chữ tín với nghề nông.

Lễ tịch điền được các triều đại sau tiếp tục, đến triều Nguyễn vẫn còn tổ chức ở kinh đô Huế. Ngày nay, lễ hội Tịch điền ở Đọi Sơn (Duy Tiên, Hà Nam cũ) được khôi phục, thường tổ chức đầu xuân, quanh mùng 7 tháng Giêng; năm 2027, mùng 7 tháng Giêng là thứ Sáu 12/2/2027 (tính bằng bộ máy âm lịch của site).

Lễ đi theo mùa vụ, mùa vụ đi theo tiết khí

Người làm ruộng đồng bằng Bắc Bộ xưa có hai vụ chính:

VụCấy khoảngGặt khoảngTiết khí gần (năm 2027)
Vụ chiêm (chiêm xuân)tháng Chạp, tháng Giêng âm lịchtháng Tư, tháng Năm âm lịchcấy quanh Lập Xuân (4/2); gặt quanh Mang Chủng (6/6)
Vụ mùatháng Sáu, tháng Bảy âm lịchtháng Mười âm lịchcấy quanh Tiểu Thử (7/7), Đại Thử (23/7); gặt quanh Sương Giáng (23/10), Lập Đông (7/11)

Ngày tiết khí lấy từ bảng tiết khí 2027. Người nông dân không cần đọc lịch thiên văn vẫn biết những mốc này qua ca dao:

Tháng Chạp là tháng trồng khoai, Tháng Giêng trồng đậu, tháng Hai trồng cà. Tháng Ba cày vỡ ruộng ra, Tháng Tư làm mạ, mưa sa đầy đồng.

Và câu "Lúa chiêm lấp ló đầu bờ, hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên": cây lúa chiêm đang nhú, gặp những cơn mưa giông đầu mùa (có sấm) thì vươn nhanh. Đây là một quan sát nông lịch chính xác: mưa giông mang theo đạm từ sấm sét và nước cho ruộng.

Vì mỗi làng có ruộng cao, ruộng trũng, mùa nước khác nhau, ngày làm lễ hạ điền, thượng điền mỗi làng một khác, thường được chọn trong lệ làng hoặc theo ngày tốt do các cụ xem, rồi giữ năm này qua năm khác. Phần chọn ngày cho việc đồng có ở bài chọn ngày theo việc.

Hạ điền, thượng điền và các lễ khác trong năm

Hai lễ này đứng trong một chuỗi lễ gắn với cây lúa:

  • Đầu năm: lễ tịch điền (cấp vua), các lễ cầu mùa của làng.
  • Mở vụ: lễ hạ điền.
  • Giữa vụ: lễ cầu mưa khi hạn, lễ trừ sâu bệnh ở một số làng.
  • Xong việc đồng: lễ thượng điền.
  • Sau gặt vụ mùa: Tết cơm mới, dâng cơm gạo mới lên tổ tiên, ở nhiều nơi gắn với rằm tháng Mười, tức Hạ Nguyên (xem Tam Nguyên Đạo giáo).

Nhìn cả chuỗi sẽ thấy: lịch lễ của làng Việt xưa là lịch của cây lúa. Mỗi bước của cây lúa có một nghi lễ, và mỗi nghi lễ là một dịp để cả làng cùng dừng tay, cùng ăn, cùng nhìn lại.

Sách cổ nói gì

Lễ Ký, Nguyệt Lệnh, đại ý: tháng đầu xuân, thiên tử chọn ngày tốt, tự mang cày bừa, dẫn tam công, cửu khanh, chư hầu, đại phu ra cày ruộng tịch của vua; thiên tử ba lần đẩy cày, tam công năm lần, khanh và chư hầu chín lần. — Lễ Ký, Nguyệt Lệnh

Bình: thứ bậc càng thấp thì cày càng nhiều đường: một cách nói rằng người ở dưới phải làm nhiều hơn người ở trên, nhưng người ở trên cũng không được đứng ngoài.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, năm Đinh Hợi 987, đại ý: mùa xuân, vua bắt đầu cày ruộng tịch điền ở núi Đọi, được một hũ nhỏ vàng; lại cày ở núi Bàn Hải được một hũ nhỏ bạc, nhân đó đặt tên là ruộng Kim Ngân. — Đại Việt Sử Ký Toàn Thư

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, năm Mậu Dần 1038, đại ý: vua cày ruộng tịch điền ở cửa biển Bố Hải; có người can, vua nói rằng mình không tự cày thì lấy gì dâng xôi cúng, lấy gì làm gương cho thiên hạ. — Đại Việt Sử Ký Toàn Thư

Bình: lời Lý Thái Tông là định nghĩa gọn nhất của tinh thần lễ tịch điền, và cũng là tinh thần của lễ hạ điền ở làng: việc đồng là việc thiêng, người đứng đầu phải tự mình mở đầu.

Đọc cho đúng mức

  • Thời điểm lễ thượng điền khác nhau giữa các vùng (sau khi cấy xong ở nhiều làng Bắc Bộ, sau khi gặt ở nhiều đình Nam Bộ); không có một ngày chung cho cả nước.
  • Lịch cấy gặt ở bảng là khung phổ biến của đồng bằng Bắc Bộ xưa; giống lúa, thuỷ lợi hiện đại đã làm lịch thời vụ thay đổi nhiều.
  • Chuyện hũ vàng, hũ bạc năm 987 là chi tiết sử chép, nên đọc như lời chúc lành hơn là sự kiện khảo chứng được.
  • Ngày lễ hội Tịch điền Đọi Sơn có thể thay đổi theo kế hoạch của địa phương; nên xem thông báo chính thức từng năm.

Việc nên làm

  • Về quê, hỏi các cụ làng mình có còn làm lễ hạ điền, thượng điền không, làm vào lúc nào trong vụ; ghi lại trước khi những lệ ấy mất đi.
  • Kể cho trẻ nhỏ chuyện vua Lê Đại Hành cày ruộng ở núi Đọi và lời của vua Lý Thái Tông, như một bài học về làm gương.
  • Đọc thêm Thành hoàng làng: đình làng, nơi làm hai lễ này, là trung tâm của cả lịch lễ nông vụ.
📅Lịch âm – lịch vạn niên
Lịch tháng âm dương, can chi, tiết khí, ngày hoàng đạo.
Mở

Nguồn tham khảo

  • Lễ Ký — Nguyệt Lệnh, đoạn tháng đầu xuân (đại ý).
  • Đại Việt Sử Ký Toàn Thư — Bản kỷ, năm 987 và năm 1038 (đại ý).
  • Phan Kế Bính — Việt Nam phong tục, mục lễ hạ điền, thượng điền (đại ý).
  • Ca dao, tục ngữ nông lịch Bắc Bộ.
  • Ngày tiết khí và mùng 7 tháng Giêng năm 2027 tính bằng bộ máy âm lịch aihuyenhoc.com.

Câu hỏi thường gặp

Lễ hạ điền là gì?

Là lễ "xuống đồng" của làng, làm trước khi cày cấy một vụ, để khấn thần làng, Thần Nông, cầu mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt.

Lễ thượng điền là gì?

Là lễ "lên đồng", làm khi xong việc đồng: nhiều làng Bắc Bộ làm sau khi cấy xong, nhiều đình Nam Bộ làm sau khi gặt. Đây là lễ tạ ơn và nghỉ ngơi sau mùa vất vả.

Lễ tịch điền là gì?

Là lễ nhà vua tự tay cày ruộng đầu xuân để làm gương cho thiên hạ. Lễ Ký, thiên Nguyệt Lệnh đã tả lễ này; ở Việt Nam, sử ghi Lê Đại Hành cày ruộng tịch điền ở núi Đọi năm 987.

Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn tổ chức khi nào?

Thường vào đầu xuân, quanh mùng 7 tháng Giêng âm lịch; năm 2027, mùng 7 tháng Giêng là thứ Sáu 12/2/2027. Ngày cụ thể nên xem thông báo của địa phương.

Lễ hạ điền, thượng điền có ngày cố định không?

Không. Mỗi làng chọn ngày theo mùa vụ và lệ riêng của mình, tuỳ ruộng cao hay trũng, mùa nước sớm hay muộn.

Nguồn tham khảo: Lễ Ký — Nguyệt Lệnh — tháng đầu xuân, thiên tử cày ruộng tịch điền · Đại Việt Sử Ký Toàn Thư — Bản kỷ, năm Đinh Hợi 987 (Lê Đại Hành) và năm Mậu Dần 1038 (Lý Thái Tông) · Phan Kế Bính — Việt Nam phong tục — phần hương đảng, mục lễ hạ điền, thượng điền

Ông Công ông Táo 23 tháng Chạp: truyện "hai ông một bà", con cá chép và chỗ khác Táo Quân phương BắcÔng Công ông Táo là ai: truyện hai ông một bà của người Việt, thần bếp trong sách cổ phương Bắc, vì sao thả cá chép; 23 tháng Chạ…
Thất Tịch mùng 7 tháng 7: Ngưu Lang, Chức Nữ là hai ngôi sao có thật và cách tìm chúng trên trờiThất Tịch 2027 là Chủ nhật 8/8/2027. Ngưu Lang là sao Altair, Chức Nữ là sao Vega, cách nhau 14,6 năm ánh sáng; cách tìm hai sao,…
Ba nguyên của Đạo giáo: Thượng Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên và ba vị Thiên Quan, Địa Quan, Thuỷ QuanTam Nguyên Đạo giáo: rằm tháng Giêng, tháng Bảy, tháng Mười ứng Thiên Quan tứ phúc, Địa Quan xá tội, Thuỷ Quan giải ách; gốc từ đ…
Tết Trùng Cửu mùng 9 tháng 9: số 9 cực dương, lên cao, rượu hoa cúc và câu ca dao xem mưaTết Trùng Cửu 2027 là thứ Sáu 8/10/2027, trùng ngày tiết Hàn Lộ. Vì sao số 9 là cực dương, tích Hoàn Cảnh lên núi, rượu hoa cúc, …
Tết Đoan Ngọ mùng 5 tháng 5: giết sâu bọ, giờ Ngọ giữa hè và chỗ tục Việt khác Trung HoaTết Đoan Ngọ là gì: tháng Ngọ, giờ Ngọ và Mặt Trời gần đỉnh đầu giữa hè, tục giết sâu bọ của người Việt khác Khuất Nguyên, thuyền…
Mùng Một và Rằm (sóc, vọng): vì sao cúng vào hai ngày này, và trăng thật sự làm gì hôm ấySóc vọng là gì: sóc là trăng non mở đầu tháng âm, vọng là trăng tròn; gốc lễ cáo sóc thời Khổng Tử, ngày bố tát nhà Phật, con nướ…