Tết Trùng Cửu mùng 9 tháng 9: số 9 cực dương, lên cao, rượu hoa cúc và câu ca dao xem mưa

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc

Tết Trùng Cửu mùng 9 tháng 9: số 9 cực dương, lên cao, rượu hoa cúc và câu ca dao xem mưa

Tết Trùng Cửu (còn gọi Trùng Dương) là ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch, ngày có hai số 9, số dương lớn nhất. Năm Đinh Mùi rơi vào thứ Sáu 8/10/2027, đúng ngày giao tiết Hàn Lộ. Tục cổ là lên cao, đeo cành thù du, uống rượu hoa cúc; người Việt còn xem trời mưa hay tạnh hôm ấy để đoán mùa.

Ở Việt Nam, Trùng Cửu không phải lễ lớn trong dân gian như Đoan Ngọ hay Trung Thu. Nhưng nó nằm trong một chuỗi những ngày "trùng số" mà nhà Nho xưa rất chú ý, và nó để lại một câu ca dao thời tiết nhà nông nào ở Bắc Bộ cũng thuộc.

Ngày Trùng Cửu các năm

Năm âm lịchMùng 9 tháng 9Tiết khí
Ất Tỵ 2025thứ Tư 29/10/2025Sương Giáng
Bính Ngọ 2026Chủ nhật 18/10/2026Hàn Lộ
Đinh Mùi 2027thứ Sáu 8/10/2027Hàn Lộ bắt đầu khoảng 19 giờ 16 tối cùng ngày
Mậu Thân 2028thứ Năm 26/10/2028Sương Giáng

Ngày tính bằng bộ máy âm lịch của site; giờ giao tiết lấy theo bảng tiết khí 2027. Năm 2027 là năm hiếm khi ngày Trùng Cửu trùng với ngày giao một tiết: tên tiết "Hàn Lộ" nghĩa là sương lạnh, rất hợp với một ngày lễ vốn sinh ra để đón cái lạnh đầu đông.

Vì sao số 9 là "cực dương"

Trong Kinh Dịch, số lẻ là dương, số chẵn là âm. Trong các số từ một đến mười, số dương lớn nhất là 9. Khi bói cỏ thi, hào dương "già" (sắp biến) được ghi bằng số 9, hào âm già bằng số 6; vì vậy các hào dương trong Chu Dịch được gọi là "cửu" (Sơ Cửu, Cửu Nhị…), hào âm gọi là "lục" (xem Dụng Cửu, Dụng Lục).

Ngày 9 tháng 9 vì thế là hai lần cực dương: Trùng Cửu, Trùng Dương. Có hai cách nhìn ngày ấy, và cả hai đều có trong sách cổ:

  • Cách nhìn mừng: chữ "cửu" (九, chín) đọc giống chữ "cửu" (久, lâu dài). Tào Phi, vua đầu nhà Nguỵ, trong một lá thư gửi Chung Do, viết đại ý: chín là số dương, tháng và ngày cùng ứng, người đời khen cái tên ấy, cho là hợp với sự lâu dài, nên mở tiệc. Đây là gốc của việc gắn Trùng Cửu với chúc thọ người già.
  • Cách nhìn dè chừng: dương đến cực thì sắp chuyển. Hào trên cùng quẻ Càn, "Thượng Cửu", có lời "rồng bay quá cao thì có hối" (nguyên văn ở mục sách cổ). Một ngày dương chồng dương vì thế cũng là ngày cần cẩn trọng, và tục lên cao "tránh tai" mọc lên từ đây.

Cùng một con số, một bên đọc ra trường thọ, một bên đọc ra chỗ cần giữ mình. Đó là cách đọc rất Kinh Dịch: thịnh và suy luôn đi cạnh nhau.

Tích Hoàn Cảnh: lên núi, đeo thù du, uống rượu cúc

Sách Tục Tề Hài Ký của Ngô Quân đời Lương chép một truyện, đại ý: Hoàn Cảnh theo học tiên nhân Phí Trường Phòng nhiều năm. Một hôm Phí Trường Phòng bảo ngày mùng 9 tháng 9 nhà Hoàn Cảnh sẽ có tai ương, phải bảo người nhà may túi đỏ đựng cành thù du đeo ở cánh tay, lên chỗ cao uống rượu hoa cúc thì tránh được. Hoàn Cảnh làm theo; chiều về thì gà, chó, trâu, dê trong nhà đều đã gặp nạn thay cho người. Từ đó có tục lên cao ngày Trùng Cửu.

Đây là một truyện giải thích tục, giống tích Giới Tử Thôi của Tết Hàn Thực hay tích Khuất Nguyên của Tết Đoan Ngọ: tục có trước, truyện gắn vào sau. Các nhà nghiên cứu thường đọc lớp gốc của Trùng Cửu là lễ cuối thu: mùa màng đã thu xong, trời bắt đầu lạnh, người ta lên đồi cao dạo chơi, hái thảo dược mùa thu, uống rượu ngâm hoa, như một cách chuẩn bị cho mùa đông.

Ba vật trong tích đều có lý theo mùa:

VậtLà gìVì sao gắn với tháng Chín
Thù ducây ngô thù du, quả và lá có mùi hăng, Đông y dùng làm thuốcquả chín đỏ vào cuối thu; mùi hăng được tin là xua khí độc, côn trùng
Hoa cúccúc vàng nở rộ tháng Chín âm lịch, nên tháng này còn được gọi là "cúc nguyệt"hoa nở muộn, chịu lạnh, thành biểu tượng của sự bền bỉ
Lên caoleo đồi, núi, tháptrời cuối thu khô, trong, nhìn được xa; dạo chơi trước khi rét đến

Riêng hoa cúc còn gắn với Đào Uyên Minh, nhà thơ đời Tấn "hái cúc dưới rào đông, thong thả thấy núi nam"; truyền thống kể ông có một năm Trùng Cửu không có rượu, ngồi bên khóm cúc, được bạn đem rượu tới. Cúc vì thế thành hoa của người ẩn dật, và Trùng Cửu thành ngày của thi nhân.

Trùng Cửu trong chuỗi những ngày "trùng số"

Người Trung Hoa xưa thích những ngày có số tháng trùng số ngày, nhất là số lẻ (số dương). Người Việt giữ được một phần chuỗi ấy và thêm một ngày của riêng mình:

Ngày âm lịchTên ở Việt NamBài trên site
3/3Tết Hàn ThựcTết Hàn Thực
5/5Tết Đoan NgọTết Đoan Ngọ
7/7Thất TịchThất Tịch
9/9Trùng Cửubài này
10/10Trùng Thập, Tết cơm mới ở nhiều làngTết cơm mới

Ngày Trùng Thập là số chẵn, ít gặp trong chuỗi lễ phương Bắc; người Việt giữ nó vì nó rơi vào mùa gặt vụ mùa. Đây lại là một ví dụ lễ đi theo cây lúa chứ không đi theo con số.

"Mồng chín tháng chín có mưa": ca dao xem trời

Ở Bắc Bộ, cái người nông dân nhớ về mùng 9 tháng 9 không phải là rượu cúc mà là câu ca dao:

Mồng chín tháng chín có mưa, Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn. Mồng chín tháng chín không mưa, Thì con bán cả cày bừa đi buôn.

Cách giải phổ biến: mùng 9 tháng 9 âm lịch rơi vào tháng Mười dương lịch, cuối mùa mưa ở miền Bắc. Còn mưa vào thời điểm ấy nghĩa là mùa mưa kết thúc muộn, đồng ruộng đủ nước để làm vụ đông và chuẩn bị vụ chiêm; tạnh ráo hẳn thì có thể sắp một mùa khô hạn, ruộng thiếu nước, nên khuyên đi buôn bán thay vì trông vào ruộng.

Câu ca dao là một quan sát khí hậu có lý, nhưng chỉ ở mức kinh nghiệm: mưa hay tạnh của một ngày không quyết định cả mùa. Có nhiều dị bản đổi chữ "làm ăn", "đi buôn", nhưng ý giữ nguyên.

Trùng Cửu ở các nước và hôm nay

  • Trung Quốc: Trùng Dương vẫn là dịp leo núi, ngắm cúc; từ cuối thế kỷ hai mươi được đặt làm ngày người cao tuổi, dựa đúng vào nghĩa "cửu" là lâu dài.
  • Nhật Bản: một trong năm "tiết cú" truyền thống (ngày 7 tháng Giêng, 3/3, 5/5, 7/7, 9/9), còn gọi là tiết hoa cúc, nay ít được tổ chức như ba tiết 3/3, 5/5, 7/7.
  • Hàn Quốc: gọi là Junggu, có tục ăn bánh hoa cúc, nay cũng mờ nhạt.
  • Việt Nam: trong dân gian ít người làm lễ; trong thơ chữ Hán của các nhà Nho, đề tài Trùng Cửu, lên cao, nhớ nhà, hoa cúc xuất hiện khá nhiều, theo khuôn của thơ Đường.

Sách cổ nói gì

上九:亢龍有悔。 Thượng Cửu: kháng long hữu hối.

Hào trên cùng (dương): rồng bay lên quá cao, có điều phải hối. — Chu Dịch, quẻ Càn

Bình: số 9 ở vị trí cao nhất là hình ảnh của cái thịnh đã chạm trần. Đây là cách đọc dè chừng về những ngày "trùng dương": không phải điềm xấu, mà là lời nhắc biết dừng ở chỗ vừa đủ.

獨在異鄉為異客,每逢佳節倍思親。遙知兄弟登高處,遍插茱萸少一人。 Độc tại dị hương vi dị khách, mỗi phùng giai tiết bội tư thân. Dao tri huynh đệ đăng cao xứ, biến sáp thù du thiểu nhất nhân.

Một mình nơi đất khách làm khách lạ, mỗi lần gặp tiết đẹp lại càng nhớ người thân. Xa xa biết anh em đang lên chỗ cao, ai cũng cài thù du, chỉ thiếu một người. — Vương Duy, Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ

Bình: bài thơ viết khi Vương Duy mười bảy tuổi, xa nhà. Nó cho thấy vào đời Đường, lên cao và cài thù du ngày 9 tháng 9 đã là tục cả nhà cùng làm, và nó thành bài thơ của người xa quê nhiều thế kỷ sau.

Đại ý từ thư Tào Phi gửi Chung Do: chín là số dương, tháng và ngày cùng ứng số ấy, người đời ưa cái tên, cho là hợp với lâu dài, nên mở tiệc.

Đọc cho đúng mức

  • Trùng Cửu không phải ngày "xấu" theo nghĩa nên kiêng việc. Tích Hoàn Cảnh là truyện giải thích tục, không phải căn cứ để sợ ngày này.
  • Số 9 "cực dương" là quy ước của Dịch học, dùng để đọc hào quẻ; gán nó cho vận may của ngày là cách đọc mở rộng của dân gian.
  • Ca dao xem mưa là kinh nghiệm địa phương, đúng ở mức xu hướng khí hậu Bắc Bộ, không dùng để quyết định chuyện làm ăn của một năm.
  • Thù du là cây thuốc, có độc tính khi dùng sai liều; không tự hái, tự sắc uống theo tục cổ.
  • Ở Việt Nam, Trùng Cửu là lễ của sách vở nhiều hơn của làng xóm. Đừng ép nó thành một tết dân gian lớn chỉ vì nó lớn ở nước khác.

Việc nên làm

  1. Ghi lịch: Trùng Cửu 2027 là thứ Sáu 8/10/2027, cũng là ngày vào tiết Hàn Lộ.
  2. Nếu thích tinh thần "lên cao", dành ngày ấy hoặc cuối tuần gần nhất đi bộ lên một quả đồi, một ngọn núi thấp cùng người lớn tuổi trong nhà, đi chậm, mang đủ nước.
  3. Thăm hỏi ông bà, cha mẹ, người cao tuổi trong xóm: đó là nghĩa "cửu" (lâu dài) mà Tào Phi đã nói.
  4. Pha một ấm trà hoa cúc khô (loại bán làm trà) thay cho rượu, đọc lại bài thơ của Vương Duy và Đào Uyên Minh.
  5. Người làm nông theo dõi mưa cuối mùa bằng dự báo của cơ quan khí tượng, coi câu ca dao là lời nhắc chứ không phải bản tin.
📅Lịch âm – lịch vạn niên
Lịch tháng âm dương, can chi, tiết khí, ngày hoàng đạo.
Mở

Nguồn tham khảo

  • Ngô Quân, Tục Tề Hài Ký (đại ý).
  • Tào Phi, Cửu nhật dữ Chung Do thư (đại ý).
  • Vương Duy, Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ (đối chiếu bản số hoá).
  • Chu Dịch, quẻ Càn, hào Thượng Cửu (đối chiếu bản số hoá).
  • Đào Uyên Minh, Ẩm Tửu, bài thứ năm (đại ý).
  • Ca dao nông lịch Bắc Bộ (truyền miệng).
  • Ngày Trùng Cửu 2025 – 2028 tính bằng bộ máy âm lịch aihuyenhoc.com; giờ giao tiết Hàn Lộ 2027 theo bảng tiết khí của site, đối chiếu PyEphem.

Câu hỏi thường gặp

Tết Trùng Cửu 2027 là ngày nào?

Mùng 9 tháng 9 năm Đinh Mùi là thứ Sáu 8/10/2027, cũng là ngày giao tiết Hàn Lộ. Trùng Cửu năm Bính Ngọ 2026 là Chủ nhật 18/10/2026.

Vì sao gọi là Trùng Dương?

Vì số 9 là số dương lớn nhất trong Kinh Dịch, ngày 9 tháng 9 có hai số 9, tức hai lần dương, nên gọi Trùng Cửu hay Trùng Dương.

Ngày Trùng Cửu người ta làm gì?

Tục cổ là lên cao, cài cành thù du, uống rượu hoa cúc, ngắm cúc, mở tiệc chúc thọ. Ngày nay ở Trung Quốc đây còn là ngày người cao tuổi.

"Mồng chín tháng chín có mưa" nghĩa là gì?

Là ca dao xem trời của nhà nông Bắc Bộ: mùng 9 tháng 9 còn mưa thì nước đủ cho vụ sau, nên lo cày bừa; không mưa thì có thể hạn, nên tính chuyện buôn bán. Đây là kinh nghiệm thời tiết, không phải dự báo chắc.

Tích Hoàn Cảnh lên núi ngày Trùng Cửu kể gì?

Tục Tề Hài Ký kể Hoàn Cảnh được thầy Phí Trường Phòng dặn ngày 9 tháng 9 đưa cả nhà lên cao, đeo túi thù du, uống rượu cúc để tránh tai ương. Đó là truyện giải thích tục, các nhà nghiên cứu coi lớp gốc là lễ cuối thu.

Nguồn tham khảo: Ngô Quân — Tục Tề Hài Ký — chuyện Hoàn Cảnh và Phí Trường Phòng · Tào Phi — Cửu nhật dữ Chung Do thư · Vương Duy — Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ · Chu Dịch — hào Thượng Cửu quẻ Càn · Ngày Trùng Cửu tính bằng bộ máy âm lịch aihuyenhoc.com; giờ tiết Hàn Lộ theo bảng tiết khí 2027 của site

Lễ Hạ Điền, Thượng Điền: những ngày lễ của lịch nông vụ, từ lễ tịch điền của Lê Đại Hành năm 987 đến đình làng hôm nayLễ hạ điền là gì: lễ xuống đồng trước vụ cấy, lễ thượng điền khi xong việc đồng; gốc từ lễ tịch điền, Lê Đại Hành cày ở núi Đọi n…
Chôl Chnăm Thmây, Katê và Tết Nguyên Đán: ba lễ lớn, ba hệ lịch trên đất ViệtTết Khmer Chôl Chnăm Thmây theo Mặt Trời giữa tháng Tư, lễ Katê của người Chăm theo lịch Chăm, Tết Nguyên Đán theo trăng non; vì …
Tết Lạp Bát mùng 8 tháng Chạp: lễ Lạp cuối năm, ngày Phật thành đạo và bát cháo tám thứ hạtTết Lạp Bát mùng 8 tháng Chạp: gốc lễ Lạp tế cuối năm, ngày Phật thành đạo của Phật giáo Bắc truyền, cháo Lạp Bát, tỏi xanh; năm …
Rằm tháng Bảy: Vu Lan của nhà Phật và "xá tội vong nhân" của Đạo giáo, hai lễ khác gốc trùng một ngàyRằm tháng Bảy là ngày gì: Vu Lan báo hiếu theo kinh Vu Lan Bồn, tích Mục Kiền Liên, và Trung Nguyên Địa Quan xá tội; vì sao hai l…
Mùng Một và Rằm (sóc, vọng): vì sao cúng vào hai ngày này, và trăng thật sự làm gì hôm ấySóc vọng là gì: sóc là trăng non mở đầu tháng âm, vọng là trăng tròn; gốc lễ cáo sóc thời Khổng Tử, ngày bố tát nhà Phật, con nướ…
Thanh Minh tảo mộ: "Thanh minh trong tiết tháng ba", nấm mồ Đạm Tiên và tục sửa mộ của người ViệtThanh Minh tảo mộ: tục sửa sang mộ phần từ đâu ra, đoạn Kiều gặp mộ Đạm Tiên, tảo mộ tháng Ba và cuối năm ở ba miền, ngày Thanh M…