Ngô Thì Nhậm và Dịch học: nhà Nho Tây Sơn đọc Kinh Dịch trong thiền, và những điều không nên gán cho ông
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc
Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803), nhà Nho, đại thần nhà Tây Sơn, về cuối đời lấy hiệu Hải Lượng thiền sư, dùng Kinh Dịch theo hai cách: trong thơ, quẻ Dịch là ngôn ngữ để nói về thời thế và cách giữ mình; trong Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, Dịch và lịch khí là khung để nối Nho với Phật. Không có văn bản nào của ông là sách bói, và không nên gán cho ông các giai thoại xem quẻ đoán việc.
Ông thuộc Ngô gia văn phái, dòng họ văn học lớn ở làng Tả Thanh Oai (Hà Nội ngày nay), con trưởng của Ngô Thì Sĩ. Đỗ tiến sĩ năm 1775, làm quan dưới chúa Trịnh, rồi theo Nguyễn Huệ từ năm 1788, giữ việc văn thư, ngoại giao, từng làm chánh sứ sang nhà Thanh năm 1793. Sau khi nhà Tây Sơn mất, ông bị bắt năm 1801 và mất năm 1803.
Ba lớp tư liệu, ba mức tin cậy
| Tư liệu | Ông viết gì liên quan đến Dịch | Mức chắc |
|---|---|---|
| Thơ, nhất là Cúc Thu Bách Vịnh (xướng hoạ với Phan Huy Ích từ năm 1796) | dẫn quẻ, hào, Thoán từ để nói về thời thế, cách ở ẩn | có văn bản, đọc được |
| Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh (tựa năm Cảnh Thịnh Bính Thìn, 1796) | dùng Dịch, tiết khí, can chi làm khung cho 24 "thanh"; so Dịch với kinh Phật | có văn bản; phần ý của ông, phần lời của Vũ Trinh, Nguyễn Đăng Sở |
| Giai thoại "Ngô Thì Nhậm xem quẻ", "biết trước vận Tây Sơn" | không có văn bản của ông | không nên dùng |
Bài này đi theo đúng thứ tự ấy, từ chỗ chắc nhất.
Dịch trong thơ: ngôn ngữ của người sống giữa thời loạn
Cúc Thu Bách Vịnh là một trăm bài thơ Đường luật xướng hoạ giữa Ngô Thì Nhậm và em rể là Phan Huy Ích, bắt đầu từ tiết Trùng Dương năm 1796 (bài Tết Trùng Cửu kể về tiết này). Theo các bản chú thích, thơ của ông dẫn Kinh Dịch rất dày:
- Thái cực sinh lưỡng nghi khi bàn về gốc của vạn vật.
- Quẻ Đồng Nhân khi nói về những người hiểu nghĩa quẻ mà lui về ẩn, lấy gương Phạm Lãi; đây là lúc ông bày tỏ ý muốn tránh tranh chấp trong triều Tây Sơn.
- Quẻ Khôn, câu "trực, phương, đại, bất tập vô bất lợi" (ngay thẳng, vuông vức, lớn lao, không cần tập mà không gì không lợi), để nói về đạo của người bề tôi.
- Quẻ Khôn, câu "lý sương, kiên băng chí" (đạp sương thì biết băng cứng sắp tới), để khuyên giữ thận trọng từ lúc việc mới manh nha.
- Văn Vương diễn Dịch khi bị giam ở Dữu Lý: ông so cảnh mình từng trốn tránh ở Thái Bình, viết lời bàn Kinh Xuân Thu (sách Xuân Thu Quản Kiến), với cảnh Văn Vương viết lời quẻ trong ngục.
Điều đáng thấy: trong thơ, Dịch của ông là Dịch nghĩa lý, Dịch của người quân tử đọc thời mà giữ mình, đúng như truyền thống Trình, Chu (xem Chu Dịch Bản Nghĩa). Không có một bài nào lập quẻ hỏi việc.
Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh: nối Nho với Phật
Sau khi nghỉ việc triều, ông lập thiền viện Trúc Lâm ở phường Bích Câu (Thăng Long), tự xưng Hải Lượng thiền sư, cùng các bạn đạo bàn về Phật học. Kết quả là Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh: phần đầu chép truyện ba vị tổ Trúc Lâm (Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang), phần chính gồm 24 chương gọi là 24 "thanh" (âm thanh), dưới tên chung Đại Chân Viên Giác Thanh, mỗi thanh một vấn đề nối giáo lý Nho và Phật. Ý chính là của Ngô Thì Nhậm; Vũ Trinh và Nguyễn Đăng Sở thuật lại, viết luận; Phan Huy Ích viết tựa.
Hai mươi bốn thanh, hai mươi bốn khí
Các nghiên cứu về tác phẩm cho biết 24 thanh được phối với 24 tiết khí, với thiên can, địa chi và bát quái, thành một vòng khép kín, có cả một đồ hình mang tên "Nhị thập tứ thanh phối khí ứng sơn chi đồ" (đồ 24 thanh phối với khí, ứng với núi). Con số 24 ở đây không ngẫu nhiên: 24 tiết khí là vòng năm của lịch (xem 24 tiết khí là gì), 24 sơn là vòng phương hướng trên la kinh (xem ba vòng 24 sơn). Đặt 24 chương thiền vào hai vòng ấy là cách nói: con đường tu tâm cũng tuần hoàn, trọn vẹn như năm tháng và trời đất.
Người đọc nên thấy đây là dùng khung, không phải dùng phép. Ông không tính tiết khí để chọn ngày, cũng không lấy 24 sơn để định hướng nhà; ông mượn hai vòng tròn quen thuộc nhất của văn hoá chữ Hán làm bộ khung cho một chương trình giảng.
Dịch và kinh Phật đặt cạnh nhau
Một câu được các nhà nghiên cứu hay dẫn từ tác phẩm, đại ý: Dịch có sáu mươi tư quẻ mà chỉ một quẻ Khốn nói đến "trí mệnh"; kinh Lăng Già bàn tám thức mà chỉ chỗ Niết Bàn là cứu cánh. Câu này đặt một chữ của Dịch (trí mệnh, dốc hết mệnh mình mà thành chí, ở Đại Tượng quẻ Khốn) cạnh một chữ của Phật (Niết Bàn), để nói rằng mỗi hệ đều có một điểm tận cùng, và hai điểm ấy có thể soi nhau.
Tinh thần chung của sách, theo các nghiên cứu, là lấy Nho làm gốc mà đưa Phật vào: Nho nói chính tâm, thành ý; Phật nói minh tâm, kiến tính; chỗ quy về của tâm tính là một, chỉ khác cách đi. Đạo giáo đứng ở vị trí thứ yếu, có chỗ còn bị phê. Đây là một biểu hiện muộn và rất ý thức của Tam giáo đồng nguyên, và nối với tinh thần ngồi yên của Nho gia đời Tống, Minh mà bài tĩnh toạ Nho gia kể.
Những điều không nên gán cho ông
Thầy bói, thầy số. Không có văn bản nào của Ngô Thì Nhậm là sách bói, sách số, sách phong thuỷ. Một số trang mạng gán cho ông các giai thoại đoán trước vận Tây Sơn, đoán số phận người này người kia bằng quẻ; những chuyện ấy không có nguồn trong tác phẩm của ông.
"Ngô Thì Nhậm biết trước kết cục mà vẫn theo Tây Sơn". Đây là cách kể đậm màu số mệnh. Văn bản cho thấy một điều giản dị hơn: một người đọc Dịch theo lối nghĩa lý, trong thơ có ý muốn lui về, có lời tự răn "đạp sương biết băng sắp tới", nhưng vẫn làm việc đến cùng. Đó là đạo xử thế, không phải phép tiên tri.
Chuyện đời ông. Việc ông mất năm 1803 thường được kể gắn với một cuộc đánh đòn ở Văn Miếu; đó là lời kể truyền thống, chi tiết khác nhau giữa các nguồn. Bài này không dùng nó để giải thích tư tưởng của ông.
Sách cổ nói gì
澤無水,困。君子以致命遂志。 Trạch vô thuỷ, Khốn. Quân tử dĩ trí mệnh toại chí.
Đầm không có nước là quẻ Khốn. Người quân tử theo đó mà dốc cả mệnh mình để thành chí. — Chu Dịch, quẻ Khốn, Đại Tượng
Bình: đây là chữ "trí mệnh" mà Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh nhắc tới. Đọc trong đời Ngô Thì Nhậm, nó gần như một lời tự hoạ: người gặp lúc khốn vẫn giữ chí, không đổi chí theo thời.
六二:直方大,不習無不利。 Lục Nhị: trực, phương, đại, bất tập vô bất lợi.
Hào hai: ngay, vuông, lớn, không cần tập mà không gì không lợi. — Chu Dịch, quẻ Khôn
Bình: câu ông dẫn trong thơ để nói về đạo người bề tôi. Khôn là đạo thuận theo, nhưng thuận mà vẫn ngay thẳng, vuông vức; đó là cách một nhà Nho làm quan với một triều mới hiểu chữ "thuận".
Đại ý từ Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh: Dịch sáu mươi tư quẻ chỉ quẻ Khốn nói trí mệnh; Lăng Già tám thức chỉ chỗ Niết Bàn là cứu cánh.
Đọc cho đúng mức
- Ông không phải nhà Dịch học chuyên môn theo nghĩa có một bộ chú giải Dịch riêng; Dịch có mặt trong thơ và trong khung của Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh.
- Phần nào của Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là lời ông, phần nào của Vũ Trinh, Nguyễn Đăng Sở cần đọc kỹ theo bản Ngô Thì Nhậm Toàn Tập (tập V); các trích dẫn trong bài này theo các nghiên cứu, chưa đối chiếu nguyên bản Hán.
- Phối 24 thanh với 24 khí, 24 sơn là khung biểu tượng, không phải hướng dẫn chọn ngày hay xem hướng.
- Các giai thoại thuật số gắn tên ông không có nguồn trong tác phẩm của ông.
- So sánh với Lê Quý Đôn: Lê Quý Đôn có sách chuyên bàn Dịch (xem Lê Quý Đôn và Kinh Dịch); Ngô Thì Nhậm thì dùng Dịch trong thơ và triết lý Tam giáo. Hai cách tiếp cận khác nhau, đều là Dịch nghĩa lý.
Việc nên làm
- Đọc Cúc Thu Bách Vịnh bản có chú thích, đánh dấu các câu dẫn Dịch, xem mỗi câu được dùng để nói chuyện gì.
- Đọc Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh qua bản dịch trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập, chú ý phần thanh dẫn và đồ phối khí.
- Khi gặp giai thoại "Ngô Thì Nhậm đoán quẻ" trên mạng, hỏi nguồn; nếu không có văn bản của ông, coi là truyện kể.
- Đọc quẻ Khốn và quẻ Khôn trong Chu Dịch để hiểu hai chữ ông hay dùng.
- Đặt ông cạnh Lê Quý Đôn, Phạm Đình Hổ để thấy ba cách nhà Nho Việt thế kỷ 18 sống cùng Kinh Dịch.
Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?
Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.
Xem lịch các thầyNguồn tham khảo
- Ngô Thì Nhậm, Vũ Trinh, Nguyễn Đăng Sở, Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập, tập V, Viện Nghiên cứu Hán Nôm (đại ý, theo các nghiên cứu trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học).
- Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Cúc Thu Bách Vịnh (đại ý, theo bản dịch và chú thích lưu hành).
- Chu Dịch, quẻ Khốn và quẻ Khôn (đối chiếu bản số hoá).
Câu hỏi thường gặp
Ngô Thì Nhậm có viết sách về Kinh Dịch không?
Không có một bộ chú giải Dịch riêng. Dịch có mặt dày đặc trong thơ của ông (nhất là Cúc Thu Bách Vịnh) và làm khung tư tưởng trong Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh.
Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là sách gì?
Là sách bàn sự dung hợp Nho và Phật, tựa năm 1796, ý chính của Ngô Thì Nhậm, do Vũ Trinh và Nguyễn Đăng Sở thuật lại, viết luận; gồm truyện ba tổ Trúc Lâm và 24 chương gọi là 24 "thanh".
24 thanh liên quan gì đến 24 tiết khí?
Theo các nghiên cứu, 24 thanh được phối với 24 tiết khí, can chi, bát quái và 24 sơn, thành một vòng khép kín. Đó là khung biểu tượng cho con đường tu tâm, không phải phép chọn ngày hay xem hướng.
Ngô Thì Nhậm có làm thầy bói, xem quẻ không?
Không có văn bản nào cho thấy điều đó. Các giai thoại ông xem quẻ đoán việc trên mạng không có nguồn trong tác phẩm của ông.
Hải Lượng thiền sư là ai?
Là hiệu Ngô Thì Nhậm tự đặt khi lập thiền viện Trúc Lâm ở phường Bích Câu, Thăng Long, về cuối đời, để cùng bạn đạo bàn Phật học.
Nguồn tham khảo: Ngô Thì Nhậm, Vũ Trinh, Nguyễn Đăng Sở — Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh (tựa năm 1796) · Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích — Cúc Thu Bách Vịnh · Ngô Thì Nhậm Toàn Tập, Viện Nghiên cứu Hán Nôm · Chu Dịch — quẻ Khốn, Đại Tượng; quẻ Khôn, hào Lục Nhị