Thời luận mệnh bằng năm sinh: Lý Hư Trung, lối "lấy năm làm chủ" và bước chuyển sang can ngày của Từ Tử Bình

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc

Thời luận mệnh bằng năm sinh: Lý Hư Trung, lối "lấy năm làm chủ" và bước chuyển sang can ngày của Từ Tử Bình

Lý Hư Trung (khoảng 762 – 813) là người đời Đường được coi là tổ của nghề luận mệnh theo can chi. Theo mộ chí do Hàn Dũ viết, ông dựa vào năm, tháng, ngày sinh, chưa dùng giờ. Lối cũ ấy "lấy năm làm chủ", nạp âm năm sinh đứng ở trung tâm; đến đời Tống mới chuyển sang lấy can ngày làm chủ, gắn với tên Từ Tử Bình.

Nguồn duy nhất đáng tin: một tấm mộ chí

Gần như mọi điều đáng tin về Lý Hư Trung đến từ một văn bản: bài mộ chí Hàn Dũ viết cho ông. Hàn Dũ là văn hào lớn đời Đường, lại là bạn của Lý, nên bài viết vừa có giá trị văn học vừa là sử liệu đáng tin. Những điều bài ấy cho biết:

  • Tên Hư Trung, tự Thường Dung; đỗ tiến sĩ, làm đến Điện trung thị ngự sử.
  • "Học không gì không thông, sâu nhất là sách ngũ hành."
  • Phép của ông: lấy năm, tháng, ngày lúc mới sinh, can chi của ngày giờ ứng với chúng, xét sinh, thắng, suy, tử, tướng, vượng mà cân nhắc, để đoán thọ yểu, sang hèn, lợi hay không lợi; nói trước năm nào, lúc nào, "trăm lần không sai một hai".
  • Thuyết của ông "mênh mông sâu đẹp", "nghìn mối vạn đầu"; người học theo lúc đầu tưởng nắm được, rồi bỗng mất.
  • Tháng tư năm Nguyên Hoà thứ tám (813) được triệu về triều, một tháng sau phát nhọt ở lưng, mất tháng sáu, năm mươi hai tuổi.

Một chi tiết hay: trước khi mất, Lý kể với Hàn Dũ giấc mơ núi lớn nứt ra chảy chất vàng đỏ. Hàn Dũ sau đó giải: "Núi là Cấn, Cấn là lưng; nứt ra chảy vàng đỏ là tượng nhọt." Chính người viết mộ chí cũng dùng tượng quẻ để đọc giấc mơ của bạn.

Ba trụ, chưa có giờ

Câu then chốt của mộ chí là "dĩ nhân chi thuỷ sinh niên, nguyệt, nhật": năm, tháng, ngày lúc sinh. Không có chữ "thời" (giờ). Các nhà biên soạn Tứ Khố Toàn Thư đời Thanh đọc thẳng như vậy và kết luận: thuyết lộc mệnh đến Lý Hư Trung đời Đường vẫn chỉ tính từ năm, tháng, ngày, chưa có cái gọi là "tám chữ".

Nhưng câu ấy còn một vế dễ gây tranh cãi: "sở trực nhật thần chi can" (can chi của ngày giờ ứng với chúng). Có thể hiểu là can chi của ba mốc năm, tháng, ngày nói chung; cũng có thể hiểu là ông đặc biệt xét can chi của ngày. Chính chỗ hai cách đọc này sinh ra hai câu chuyện khác nhau về Lý Hư Trung (xem mục dưới về Tam Mệnh Thông Hội).

Cuốn "Lý Hư Trung Mệnh Thư": thật hay giả

Hiện có một bộ ba quyển mang tên Lý Hư Trung Mệnh Thư, đề là Quỷ Cốc Tử soạn, Lý Hư Trung chú, được các nhà Tứ Khố gom lại từ Vĩnh Lạc Đại Điển. Đề yếu của Tứ Khố xét rất kỹ:

  1. Hàn Dũ khen thuyết của Lý nhưng không nói ông có viết sách; Đường Thư, Nghệ Văn Chí cũng không có tên sách này; đến Tống Sử mới có, và các thư mục đời Tống ghi tên, số quyển lệch nhau.
  2. Phần đầu sách bàn 60 giáp tý, không nhắc giờ sinh, khớp với điều Hàn Dũ tả. Phần sau lại nói nhiều về "tứ trụ", vốn là thuyết đời Tống.
  3. Bài tựa ký "Nguyên Hoà sơ tải" (năm đầu Nguyên Hoà), dùng chữ "tải" thay chữ "niên", mà đời Đường chỉ dùng chữ "tải" trong khoảng Thiên Bảo, Chí Đức; dùng cho niên hiệu Nguyên Hoà là dấu hiệu làm giả.

Kết luận của Tứ Khố: có lẽ đời Đường có một cuốn sách thật, rồi người đời Tống chen thuyết của mình vào, mượn tên Lý Hư Trung và Quỷ Cốc Tử cho thêm thiêng. Thật giả lẫn lộn, không tách hẳn được. Đây là mẫu mực của cách đọc sách mệnh cổ: không bác hẳn, không tin hẳn, chỉ ra lớp nào thuộc thời nào.

Lối "lấy năm làm chủ" vận hành ra sao

Trước khi can ngày lên ngôi, trung tâm của lá số là năm sinh, và hành của năm thường đọc qua nạp âm. Tam Mệnh Thông Hội đời Minh còn giữ lại dấu vết lối cũ:

  • "Độn tháng theo năm thì lấy năm làm gốc, độn giờ theo ngày thì lấy ngày làm chủ. Phép xưa xem theo năm, Tử Bình xem theo ngày, là bởi vậy."
  • Khi bàn hình phạt giữa các trụ: "lấy năm làm chủ, tháng ngày giờ làm khách".
  • Trong mục nạp âm: lấy nạp âm năm sinh làm gốc, rồi xem tháng, ngày, giờ và thai nguyên có nạp âm cùng hành mà lớn hơn hay nhỏ hơn để "bỏ nhỏ theo lớn" hay "bỏ lớn theo nhỏ". Ví dụ người sinh năm Canh Dần, Tân Mão (Tùng Bách Mộc) mà tháng, ngày, giờ không có Mộc khác thì luận như cây tùng bách; nếu gặp Dương Liễu hay Thạch Lựu Mộc thì "bỏ lớn theo nhỏ", không luận là tùng bách nữa.

Tức là ở lối cũ, ba mươi tên nạp âm không chỉ để gọi cho đẹp: chúng là đơn vị luận đoán, so qua so lại giữa năm với các trụ khác. Bài nạp âm ngày sinh, giờ sinh có một ví dụ đọc theo lối này.

Từ Tử Bình và bước chuyển sang can ngày

Đời Bắc Tống, khoảng niên hiệu Tuyên Hoà, Kiến Viêm, một bài phú tên Lạc Lục Tử Tam Mệnh Tiêu Tức Phú bắt đầu lưu hành, dùng năm, tháng, ngày, giờ, đủ tám chữ. Người chú bài phú ấy có Từ Tử Bình. Từ đó nghề tính "tám chữ" mang tên ông: "xem Tử Bình". Về con người Từ Tử Bình, Tứ Khố thừa nhận chẳng biết gì chắc: có thuyết nói ông tên Cư Dịch, người đời Ngũ Đại, ẩn ở Hoa Sơn với Trần Đoàn, Lã Động Tân; có thuyết nói người đời Tống Mạt tên Ngạn Thăng; các nhà biên soạn kết luận gọn: lời của thuật gia "trăm câu không một câu thật".

Điều rõ hơn là phương pháp: lấy can ngày làm "chủ" (nhật chủ), xét nó mạnh yếu theo tháng sinh, rồi gọi các can khác theo quan hệ với nó (thập thần). Nạp âm năm sinh lùi xuống thành lớp phụ (bài nạp âm và chính ngũ hành); muốn hiểu vai của can ngày, xem bài nhật chủ.

Tam Mệnh Thông Hội lại nói khác

Điều thú vị là chính Vạn Dân Anh, tác giả Tam Mệnh Thông Hội, lại gán bước chuyển ấy cho Lý Hư Trung: "Đời Đường, riêng Lý Hư Trung lấy can ngày làm chủ, rồi đem năm, tháng, giờ hợp xem sinh khắc chế hoá, vượng tướng hưu tù để lập cách cục. Điều này phát ra cái người trước chưa phát, nên thuật gia nay theo."

Hai câu chuyện:

Tứ Khố (đời Thanh)Tam Mệnh Thông Hội (đời Minh)
Lý Hư Trung dùngnăm, tháng, ngày, chưa có giờcan ngày làm chủ, xem cùng năm, tháng, giờ
Ai đưa can ngày lên làm chủdòng Lạc Lục Tử, Từ Tử Bình đời TốngLý Hư Trung đời Đường
Dựa vàochữ trong mộ chí Hàn Dũ; tuổi văn bản của các sáchtruyền thống thuật gia

Có thể dung hoà một phần: nếu đọc vế "can chi của ngày" trong mộ chí theo nghĩa hẹp, thì Lý Hư Trung đã coi trọng ngày sinh hơn người trước. Nhưng việc ông dùng giờ sinh và dựng hệ thập thần quanh can ngày thì không có văn bản đời Đường nào chứng minh. Giới nghiên cứu hiện nay phần lớn theo cách đọc của Tứ Khố.

Sách cổ nói gì

以人之始生年、月、日,所直日辰支干,相生勝衰死相王斟酌,推人壽夭、貴賤、利不利;輒先處其年時,百不失一二。

Dịch: Lấy năm, tháng, ngày lúc người mới sinh, can chi của ngày giờ ứng với chúng, xét sinh, thắng, suy, tử, tướng, vượng mà cân nhắc, để suy thọ yểu, sang hèn, lợi hay không lợi; thường nói trước năm nào, lúc nào, trăm lần không sai một hai. — Hàn Dũ, Điện trung thị ngự sử Lý quân mộ chí minh

祿命之說至唐李虛中尚僅以年月日起算,未有所謂八字者。

Dịch: Thuyết lộc mệnh đến Lý Hư Trung đời Đường vẫn chỉ tính từ năm, tháng, ngày, chưa có cái gọi là tám chữ. — Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục Đề Yếu, mục Lạc Lục Tử Tam Mệnh Tiêu Tức Phú chú

古法以年看,子平以日看。

Dịch: Phép xưa xem theo năm, Tử Bình xem theo ngày. — Tam Mệnh Thông Hội, quyển 2, Luận niên nguyệt nhật thời

Bình: ba câu đủ dựng lại một đoạn lịch sử. Câu thứ nhất là sử liệu gốc, viết bởi người quen biết. Câu thứ hai là phán đoán của nhà khảo chứng dựa trên câu thứ nhất. Câu thứ ba là trí nhớ của chính nghề mệnh lý về sự thay đổi của mình. Ba nguồn khác nhau cùng chỉ về một bước chuyển: từ năm sang ngày.

Đọc cho đúng mức

  • Mộ chí của Hàn Dũ là nguồn tin cậy nhất về Lý Hư Trung; các chuyện khác về ông phần lớn là truyền thuyết của nghề.
  • Cuốn Lý Hư Trung Mệnh Thư hiện còn là sách lẫn lớp Đường và Tống, theo đánh giá của Tứ Khố.
  • Năm sinh 762 suy từ chỗ mộ chí ghi mất năm 813, năm mươi hai tuổi (cách tính tuổi xưa); có tài liệu ghi 761.
  • Việc Thông Hội gán phép lấy can ngày cho Lý Hư Trung là một truyền thống, không có văn bản đời Đường chứng minh.

Việc nên làm

  1. Khi đọc một sách mệnh lý "theo Lý Hư Trung", xem nó dùng ba trụ hay bốn trụ để biết thuộc lớp nào.
  2. Nhớ công thức gọn: phép xưa lấy năm, Tử Bình lấy ngày; nạp âm năm sinh là di sản của phép xưa.
  3. Thử lập Bát Tự của mình bằng công cụ dưới đây, rồi so nạp âm trụ năm với can ngày để thấy hai "trung tâm" khác nhau thế nào.
🀄Lá số Bát Tự (Tứ Trụ)
Bốn trụ năm tháng ngày giờ theo tiết khí, Thập Thần, ngũ hành vượng suy.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Hàn Dũ — Điện trung thị ngự sử Lý quân mộ chí minh (nguyên văn, bản Wikisource tiếng Hán).
  • Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục Đề Yếu — đề yếu Lý Hư Trung Mệnh Thư, đề yếu Lạc Lục Tử Tam Mệnh Tiêu Tức Phú chú (nguyên văn).
  • Vạn Dân Anh — Tam Mệnh Thông Hội, quyển 1 (mục nạp âm), quyển 2 (Luận niên nguyệt nhật thời, Luận tam hình) (nguyên văn).

Câu hỏi thường gặp

Lý Hư Trung là ai?

Là người đời Đường (khoảng 762 – 813), đỗ tiến sĩ, làm đến Điện trung thị ngự sử, nổi tiếng giỏi sách ngũ hành và đoán mệnh bằng năm, tháng, ngày sinh. Hàn Dũ viết mộ chí cho ông.

Lý Hư Trung có dùng giờ sinh không?

Theo mộ chí của Hàn Dũ thì không: ông lấy năm, tháng, ngày sinh. Tứ Khố Toàn Thư kết luận đến thời ông chưa có "tám chữ".

Lý Hư Trung Mệnh Thư có phải do ông viết?

Theo Tứ Khố, sách lẫn lớp đời Đường với lớp đời Tống: phần đầu không dùng giờ sinh, phần sau nói tứ trụ; bài tựa có dấu hiệu làm giả.

"Lấy năm làm chủ" là gì?

Là lối luận mệnh cũ, coi năm sinh (thường đọc qua nạp âm) là trung tâm, các trụ tháng, ngày, giờ là khách. Tam Mệnh Thông Hội ghi: phép xưa xem theo năm, Tử Bình xem theo ngày.

Ai là người chuyển sang lấy can ngày làm chủ?

Truyền thống gắn với Từ Tử Bình đời Tống, qua bài Lạc Lục Tử Tam Mệnh Tiêu Tức Phú. Tam Mệnh Thông Hội lại gán cho Lý Hư Trung, nhưng không có văn bản đời Đường chứng minh.

Nguồn tham khảo: Hàn Dũ — Điện trung thị ngự sử Lý quân mộ chí minh · Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục Đề Yếu — Lý Hư Trung Mệnh Thư; Lạc Lục Tử Tam Mệnh Tiêu Tức Phú chú · Vạn Dân Anh — Tam Mệnh Thông Hội, quyển 2, Luận niên nguyệt nhật thời

Sáu nạp âm hành Mộc: Đại Lâm, Dương Liễu, Tùng Bách, Bình Địa, Tang Đố, Thạch Lựu đọc như sáu mùa câySáu nạp âm hành Mộc: Đại Lâm, Dương Liễu, Tùng Bách, Bình Địa, Tang Đố, Thạch Lựu; mỗi tên ứng hai tháng, đọc theo mùa cây; tên T…
Sáu nạp âm hành Hỏa: Lư Trung, Sơn Đầu, Tích Lịch, Sơn Hạ, Phú Đăng, Thiên Thượng và vì sao lửa trời lại cần nướcSáu nạp âm hành Hỏa: lửa lò, đèn, mặt trời, lửa chiều dưới núi, lửa đầu núi, sấm sét; ba nhóm lửa và vì sao Tích Lịch, Thiên Thượ…
Sáu nạp âm hành Thổ: Lộ Bàng, Thành Đầu, Ốc Thượng, Bích Thượng, Đại Dịch, Sa Trung Thổ, ba thứ đất trống và ba thứ đất người đắpSáu nạp âm hành Thổ: đất đường, đất thành, ngói mái, đất vách, đất trạm dịch, đất cát; ba thứ đất trống cần Mộc, ba thứ người đắp…
Ngày có nạp âm khắc nạp âm tuổi: luật "ngày khắc mệnh" khi chọn ngày dân gian tin được tới đâuNgày khắc tuổi theo nạp âm: mỗi tuổi có 12 trên 60 ngày, khoảng 73 ngày một năm; so với luật xung tuổi, thiên khắc địa xung và lố…
Nạp âm làm gì trong Tử Vi và Bát Tự: cục, vòng Tràng Sinh và sinh khắc cung MệnhNạp âm trong Tử Vi định cục, vòng Tràng Sinh và lớp sinh khắc bản mệnh; Bát Tự Tử Bình gần như bỏ nó. Chỗ nạp âm được dùng thật v…
Tam Mệnh Thông Hội luận 30 nạp âm: dịch và chú chương "Luận nạp âm thủ tượng" cho người ViệtDịch, chú chương Luận nạp âm thủ tượng của Tam Mệnh Thông Hội: một đời người trong 12 chi, đời của Kim, phép đối đãi, và chỗ các …