Quẻ Thuần Khôn (2): đức của đất, ngựa cái đi xa và sương báo băng
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026
Đất thuận theo và chở muôn vật; đi sau thì được, bền như ngựa cái.
Thuần Khôn là quẻ số 2, sáu hào đều âm, trên dưới đều là Khôn (đất). Quẻ nói về sức chở, sức đón nhận và hoàn thành: đi sau thì được, đi trước thì lạc. Lời quẻ ví với ngựa cái, con vật vừa thuận vừa bền chân. Hào đầu nhắc giẫm phải sương là biết băng sắp tới, hào cuối kể chuyện rồng đánh nhau ngoài đồng.
Tượng quẻ: đất chồng lên đất
Quẻ đơn Khôn là ba vạch đứt, Thuyết Quái giảng "Khôn, thuận dã", Khôn là thuận. Thuận ở đây không có nghĩa là yếu; đất nhận hạt giống của trời rồi làm cho nó thành cây, thành lúa. Càn cho cái mở đầu, Khôn làm cho cái mở đầu ấy có hình.
Thuyết Quái gán Khôn cho con trâu, còn lời quẻ lại chọn ngựa cái. Lựa chọn ấy có lý: trâu chỉ có cái nhẫn, ngựa cái vừa nhẫn vừa đi đường dài. Thoán truyện giảng đúng ý đó: "tẫn mã địa loại, hành địa vô cương", ngựa cái cùng loài với đất, đi trên đất không bờ bến. Bản lụa Mã Vương Đôi ghi tên quẻ bằng chữ "xuyên" (dòng sông), một dị bản đến nay còn bàn.
Trong mười hai quẻ tiêu tức, Khôn ứng với tháng Mười âm lịch, khi khí dương lui hết khỏi mặt đất.
Lời quẻ và Thoán truyện
Khôn: nguyên hanh, lợi tẫn mã chi trinh. Quân tử hữu du vãng, tiên mê hậu đắc chủ, lợi. Tây Nam đắc bằng, Đông Bắc táng bằng. An trinh cát.
Lớn và thông, lợi cho sự bền chính như ngựa cái. Người quân tử có việc đi, đi trước thì lạc, đi sau thì gặp chủ, có lợi. Tây Nam được bạn, Đông Bắc mất bạn. Yên lòng giữ chính thì tốt.
Chỗ ngắt câu "tiên mê hậu đắc chủ lợi" có hai cách: "đi sau thì được chủ, có lợi" hoặc "đi sau thì được, chủ về lợi". Văn Ngôn viết "hậu đắc chủ nhi hữu thường", nên phần lớn các nhà chú giải theo cách thứ nhất.
Thoán truyện mở bằng "Chí tai Khôn nguyên, vạn vật tư sinh, nãi thuận thừa thiên". Đặt cạnh câu của Càn sẽ thấy hai chữ khác nhau có chủ ý: Càn là "đại tai", lớn thay, muôn vật nhờ đó mà bắt đầu (tư thuỷ); Khôn là "chí tai", tột thay, muôn vật nhờ đó mà sinh thành (tư sinh). Về chuyện bạn bè, Thoán truyện thêm một vế hay bị bỏ quên: Đông Bắc mất bạn nhưng "nãi chung hữu khánh", cuối cùng có điều mừng. Rời nhóm quen để đi đường của mình không bị coi là xấu.
Đại Tượng
Địa thế Khôn, quân tử dĩ hậu đức tải vật.
Thế của đất là Khôn; người quân tử theo đó làm dày đức mình để chở được muôn vật. Đất càng dày càng chở được nhiều; người càng rộng lòng càng gánh được việc của người khác.
Sáu hào và Dụng Lục
Sơ Lục. "Lý sương, kiên băng chí." Giẫm phải sương, biết băng cứng sắp đến. Văn Ngôn từ hào này viết câu nổi tiếng "tích thiện chi gia tất hữu dư khánh", nhà chứa điều lành ắt dư phúc, và nói rõ mọi biến lớn đều "kỳ sở do lai giả tiệm hĩ", đến từ chỗ dần dần.
Lục Nhị. "Trực, phương, đại, bất tập, vô bất lợi." Thẳng, vuông, lớn, không cần tập mà không gì không lợi. Đây là chủ của quẻ: hào âm ở ngôi âm, lại ở giữa quẻ dưới, đúng bản tính của đất nên làm mà không gượng.
Lục Tam. "Hàm chương khả trinh, hoặc tùng vương sự, vô thành hữu chung." Ngậm vẻ đẹp ở trong, giữ được chính; có khi theo việc vua, không nhận thành công về mình mà có kết cục. Tài có nhưng không phô, làm xong để công cho việc chung.
Lục Tứ. "Quát nang, vô cữu vô dự." Thắt miệng túi, không lỗi cũng không khen. Đứng sát ngôi trên, lời nói dễ thành chuyện; lúc này giữ kín là cách an toàn nhất.
Lục Ngũ. "Hoàng thường, nguyên cát." Xiêm màu vàng, rất tốt. Vàng là màu của chính giữa, xiêm là áo mặc phía dưới; ở ngôi cao mà vẫn giữ cái nhún của người ở dưới.
Thượng Lục. "Long chiến vu dã, kỳ huyết huyền hoàng." Rồng đánh nhau ngoài đồng, máu đen và vàng. Âm lên đến cùng thì quay ra tranh với dương; Văn Ngôn giải "thiên huyền nhi địa hoàng", đen là màu trời, vàng là màu đất, hai bên cùng tổn thương.
Dụng Lục. "Lợi vĩnh trinh." Lợi giữ chính lâu dài. Dùng khi sáu hào cùng động, Khôn biến thành Càn: cái mềm chuyển sang cứng thì phải lấy sự bền làm gốc.
Gieo được Thuần Khôn nên đọc thế nào
Quẻ này nói nhiều về vị trí đứng thứ hai, mà trong việc đời vị trí ấy không thấp.
- Việc làm: thời hợp với người hoàn thành, người giữ nền, người gánh phần việc không ai nhìn thấy. Muốn tự dẫn đầu ngay thì lời quẻ "đi trước thì lạc" là lời nhắc cân lại. Lục Tam gợi ý cách làm: làm cho xong, đừng tranh tên.
- Quan hệ: cặp "được bạn, mất bạn" cho thấy có lúc đi cùng người giống mình là thuận, có lúc phải tách ra mới có cái mừng về sau. Hào trên cùng là hình ảnh của một bên nhường mãi rồi bùng lên; thấy dấu hiệu sớm thì nói sớm.
- Việc đang chờ: Khôn chịu được chờ. Sương rồi mới tới băng: những thay đổi lớn thường có dấu hiệu nhỏ đi trước, nên dùng thời gian chờ để quan sát.
Khôn đứng ở đâu trong chuỗi 64 quẻ
Quẻ liền trước là Thuần Càn (1). Tự Quái truyện coi Càn Khôn là trời đất, rồi nói khoảng giữa trời đất chật kín muôn vật nên tiếp theo là Thủy Lôi Truân (3), lúc muôn vật vừa nhú.
Khôn lật ngược vẫn là Khôn, không có quẻ đảo; đổi hết sáu hào thì ra Càn, đó là quẻ đối và cũng là cặp của nó trong thứ tự Văn Vương. Tạp Quái truyện tóm cả cặp bằng bốn chữ "Càn cương, Khôn nhu". Quẻ hỗ của Khôn vẫn là Khôn.
☯️Gieo quẻ Kinh DịchGieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Câu hỏi thường gặp
Quẻ Thuần Khôn có phải quẻ yếu?
Không. Lục Nhị là một trong những hào được khen trọn nhất Kinh Dịch. Khôn mạnh theo kiểu chở và bền, không theo kiểu xông lên.
"Tây Nam được bạn, Đông Bắc mất bạn" có phải lời chỉ hướng đi?
Trong việc hỏi hướng, có thầy đọc theo nghĩa đen. Thoán truyện thì nhấn vào chuyện đi cùng người cùng loại hay tách ra, và nói rõ tách ra cuối cùng vẫn có điều mừng.
Sáu hào quẻ Khôn cùng động thì đọc thế nào?
Đọc lời Dụng Lục "lợi vĩnh trinh", rồi xem quẻ biến là Thuần Càn.
Câu "tích thiện chi gia" có nằm trong lời hào không?
Không, câu ấy thuộc Văn Ngôn, phần truyện giảng cho hào Sơ Lục. Lời hào gốc chỉ có năm chữ "lý sương, kiên băng chí".
Nguồn tham khảo: Chu Dịch — kinh văn quẻ Khôn — lời quẻ, sáu lời hào, Dụng Lục · Chu Dịch — Thoán truyện, Đại Tượng, Văn Ngôn quẻ Khôn — Chí tai Khôn nguyên; Địa thế Khôn; Tích thiện chi gia tất hữu dư khánh · Chu Dịch — Thuyết Quái, Tạp Quái truyện · Chu Dịch Bản Nghĩa — Chu Hy
Cả 64 quẻ
Thuần CànThuần KhônThủy Lôi TruânSơn Thủy MôngThủy Thiên NhuThiên Thủy TụngĐịa Thủy SưThủy Địa TỷPhong Thiên Tiểu SúcThiên Trạch LýĐịa Thiên TháiThiên Địa BĩThiên Hỏa Đồng NhânHỏa Thiên Đại HữuĐịa Sơn KhiêmLôi Địa DựTrạch Lôi TùySơn Phong CổĐịa Trạch LâmPhong Địa QuanHỏa Lôi Phệ HạpSơn Hỏa BíSơn Địa BácĐịa Lôi PhụcThiên Lôi Vô VọngSơn Thiên Đại SúcSơn Lôi DiTrạch Phong Đại QuáThuần KhảmThuần LyTrạch Sơn HàmLôi Phong HằngThiên Sơn ĐộnLôi Thiên Đại TrángHỏa Địa TấnĐịa Hỏa Minh DiPhong Hỏa Gia NhânHỏa Trạch KhuêThủy Sơn KiểnLôi Thủy GiảiSơn Trạch TổnPhong Lôi ÍchTrạch Thiên QuảiThiên Phong CấuTrạch Địa TụyĐịa Phong ThăngTrạch Thủy KhốnThủy Phong TỉnhTrạch Hỏa CáchHỏa Phong ĐỉnhThuần ChấnThuần CấnPhong Sơn TiệmLôi Trạch Quy MuộiLôi Hỏa PhongHỏa Sơn LữThuần TốnThuần ĐoàiPhong Thủy HoánThủy Trạch TiếtPhong Trạch Trung PhuLôi Sơn Tiểu QuáThủy Hỏa Ký TếHỏa Thủy Vị Tế