Những thế đất gắn với tên Tả Ao: lời truyền, câu ca và dấu vết thật

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc

Những thế đất gắn với tên Tả Ao: lời truyền, câu ca và dấu vết thật

Các thế đất gắn với tên Tả Ao chia ba tầng nguồn: tầng có văn bản in, chép tay (28 kiểu đất trong sách in năm 1919, 110 kiểu đất trong một bản chép tay); tầng truyện có người chép (huyệt "cửu long tranh châu" ở núi Hồng Lĩnh, huyệt "hàm rồng" bên biển, cuộc đất "nhất khuyển trục quần dương"); và tầng truyền miệng địa phương ở hàng trăm làng.

Vì sao phải phân tầng nguồn

Tả Ao (người làng Tả Ao, Nghi Xuân, Hà Tĩnh) là thầy địa lý nổi tiếng nhất trong ký ức người Việt. Tên thật và niên đại của ông chưa thống nhất; bài Tả Ao, thầy địa lý của người Việt đã bàn kỹ phần con người và sách vở. Bài này làm một việc hẹp hơn: gom những thế đất cụ thể mang tên ông, rồi đánh dấu mỗi thế đất đến từ đâu.

Lý do đơn giản: tên Tả Ao là "con dấu bảo đảm" của nghề địa lý dân gian. Một cuộc đất được nói là "Tả Ao đặt" thì có giá hơn. Người đọc hôm nay cần biết câu nào có văn bản, văn bản ấy sớm hay muộn, và câu nào chỉ là lời truyền.

Tầng một: kiểu đất trong sách in và sách chép tay

Đây là tầng có văn bản cụ thể, có ký hiệu kho sách, ai cũng có thể đến xem:

Văn bảnDạngNội dung về thế đất
Tả Ao chân truyền địa lý (hiệu Nghĩa Lợi, phố Hàng Đào in năm 1919)bản in, 86 trang, 28 hình vẽ28 kiểu đất, cách tìm huyệt; kèm các bài phú, ca bằng quốc âm như Dã đàm ca
Địa lý Tả Ao di thư chân truyền chính pháp (Liễu Văn Đường in năm 1918)bản intám bài về địa lý
Tả Ao xã tiên sư thư truyền bí mật các cụcbản chép tay, 126 trang110 kiểu đất kết phát kèm hình vẽ
Tả Ao tiên sinh bí truyền gia bảo trân tàngbản chép tay, 196 trang, 47 hìnhtìm huyệt, để mả, chọn đất, đặt hướng nhà, đền chùa
Tả Ao địa lý luận (Lịch triều hiến chương loại chí ghi tên)thư mục đầu thế kỷ XIXmột quyển, 21 địa đồ (theo Phan Huy Chú); bản khác ghi 28 địa đồ

Ba nhận xét:

  • Văn bản sớm nhất có niên đại chắc trong nhóm này là các bản in 1918 – 1919. Thư mục của Phan Huy Chú, đầu thế kỷ XIX, cho biết đã có sách mang tên Tả Ao trước đó, nhưng không cho biết nội dung từng kiểu đất.
  • Số kiểu đất không cố định: 21, 28, 110 tùy bản. Đây là dấu hiệu của một truyền thống được thêm dần, không phải một bản gốc duy nhất.
  • Các kiểu đất là kiểu, không phải địa điểm. "Kiểu đất" là hình mẫu (rồng chầu, hổ phục, tay ngai…) để thầy đem ra đối chiếu ngoài thực địa, không phải danh sách các ngôi mộ có thật.

Tầng hai: những cuộc đất trong truyện có người chép

Truyện về Tả Ao được Phan Kế Bính chép trong Nam Hải dị nhân liệt truyện (in đầu thế kỷ XX), và có trong các truyện chữ Hán đời trước mà các nhà nghiên cứu đã tập hợp. Các cuộc đất được nêu tên:

Cuộc đấtỞ đâuTruyện kể gìNguồn
Cửu long tranh châu (chín rồng tranh ngọc)núi Hồng LĩnhTả Ao dời mộ cha đến, về sau mộ bị người khác đào pháNam Hải dị nhân liệt truyện; truyện chữ Hán chép huyệt quý ở Hồng Lĩnh bị người Minh đào trộm
Huyệt "hàm rồng"bãi biển (truyện chữ Hán: ngoài đảo)muốn táng mẹ nhưng không kịp hạ huyệt trước khi "hàm rồng" khép lạiNam Hải dị nhân liệt truyện
Nhất khuyển trục quần dương (một chó đuổi bầy dê)một xứ đồng khoaisinh phần ông chọn sẵn cho mình, nhưng không kịp tớiNam Hải dị nhân liệt truyện
Gò "huyết thực"gò bên đườngnơi ông dặn con chôn mình khi không tới được sinh phầnNam Hải dị nhân liệt truyện
Đất chỉ cho ngườiBút Sơn, Thanh Liêm và nhiều huyện khácông đi khắp nơi chỉ đất, nổi tiếng trong khoảng hai mươi nămNam Hải dị nhân liệt truyện

Dấu vết thật ở tầng này là địa danh. Núi Hồng Lĩnh có thật, là dãy núi nhiều ngọn nằm ngay sau đất Nghi Xuân, đỉnh cao nhất khoảng 676 m theo dữ liệu bản đồ; dân gian quen nói Hồng Lĩnh có "chín mươi chín ngọn". Một dãy núi nhiều ngọn chầu về một điểm là hình ảnh tự nhiên để gọi tên "chín rồng tranh ngọc". Nhưng ngôi mộ cụ thể thì truyện tự nói đã bị đào phá; không có hiện vật nào để kiểm.

Điều đáng chú ý nhất: cả bốn cuộc đất gắn với chính gia đình Tả Ao đều là chuyện lỡ. Mộ cha bị phá, mẹ không kịp táng, bản thân không tới được sinh phần. Truyện kết bằng câu tục ngữ "tiên tích phúc nhi hậu tầm long": trước tích phúc, sau mới tìm long mạch. Đó là thông điệp chủ ý của người kể: đất không thắng được phúc. Lý thuyết "phúc ấm" mà câu tục ngữ này đáp lại được bàn ở bài phúc ấm và Táng Thư.

Tầng ba: lời truyền ở các làng

Theo các nhà sưu tầm như Thái Kim Đỉnh, Vũ Ngọc Khánh, hơn ba trăm địa phương ở miền Trung và miền Bắc có miếu thờ Tả Ao, và rất nhiều làng có chuyện "Tả Ao đặt đất" của riêng mình. Vài ví dụ đã được ghi lại:

  • Ở Nam Trì, Tả Ao được thờ như thành hoàng; truyền thuyết địa phương gắn ông với một việc trấn đất ở làng và một đôi câu đối dân gian.
  • Ở làng Hành Thiện (Nam Định), truyền thuyết kể ông chỉ cách đào giếng trước đền thành hoàng; văn tế hằng năm của làng nhắc tên ông.
  • Ở quê Nghi Xuân, giỗ Tả Ao tổ chức ngày mùng 3 tháng Tư âm lịch.

Tầng này có giá trị lớn về tín ngưỡng và lịch sử địa phương: nó cho thấy tên Tả Ao được dùng để thiêng hoá những quyết định quy hoạch làng (đào giếng, đặt đình, đắp gò). Nhưng nó không phải chứng cứ rằng chính ông đã đến từng nơi. Một người sống trọn một đời không thể đặt đất cho ba trăm làng; tên ông là tên của cả một nghề, cũng như tên Cao Biền là tên của cả một lớp truyện (xem Cao Biền và Cao Vương địa lý).

Những câu ca, câu sấm địa lý gán cho Tả Ao

Trên mạng và trong sách phổ thông có rất nhiều câu lục bát, câu sấm "Tả Ao nói rằng…". Cách phân loại:

LoạiDấu hiệuMức tin
Câu có trong các bài ca quốc âm của sách in 1918 – 1919 (Dã đàm ca, Tâm long gia truyền bảo quốc ngữ…)tìm được trong bản in có ký hiệucó nguồn chép, nhưng muộn
Câu có trong bản chép tay ở kho Hán Nômcần ký hiệu bản, tờcó nguồn, niên đại thường không rõ
Câu chỉ thấy trên sách in sau năm 2000 hoặc trên mạng, không ghi bản gốckhông ghi nguồntruyền miệng hoặc soạn mới
Câu sấm về vận nước, về một dòng họ, một ngôi mộ "phát vương"nội dung tiên tri cụ thểthuộc về truyện, không thuộc về phép địa lý

Chúng tôi không chép lại các câu "Tả Ao nói rằng" đang lưu hành, vì chưa đối chiếu được câu nào với bản in có ký hiệu. Người đọc gặp một câu như vậy nên hỏi: trong bản nào, ký hiệu kho nào, tờ nào.

Sách cổ nói gì

Nam Hải dị nhân liệt truyện, truyện Tả Ao, đại ý: ông tìm được nhiều đất quý cho người, nhưng mộ cha bị phá, mẹ không kịp táng ở huyệt đã chọn, chính ông cũng không tới được sinh phần; người đời nói "tiên tích phúc nhi hậu tầm long". — Phan Kế Bính, Nam Hải dị nhân liệt truyện

Bình: Phan Kế Bính là nhà văn hoá có tinh thần cải lương, chép truyện dị nhân để giữ lại ký ức, không để cổ vũ mê tín. Cách ông kết truyện Tả Ao bằng câu "tích phúc trước, tìm long sau" cho thấy ngay người chép truyện đã đặt phép địa lý dưới đạo đức.

Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, phần Văn tịch chí, ghi tên sách Tả Ao địa lý luận một quyển, có địa đồ, đại ý như vậy. — Lịch triều hiến chương loại chí

Bình: đây là bằng chứng thư mục rằng đầu thế kỷ XIX đã có sách địa lý mang tên Tả Ao lưu hành. Nó không cho biết sách ấy do ai viết, viết khi nào.

Đọc cho đúng mức

  • Số trang, ký hiệu kho các bản Tả Ao theo các thư mục Hán Nôm và các bản số hoá đã công bố; chúng tôi chưa tự mở từng bản.
  • Không có cuộc đất "Tả Ao đặt" nào có văn bản đương thời xác nhận người đặt là ông. Mọi gán ghép đều đến từ truyện hoặc lời truyền đời sau.
  • Kiểu đất trong sách là hình mẫu, giống bộ tranh minh hoạ; đừng tìm "ngôi mộ thật" cho từng kiểu.
  • Giá trị của truyền thống Tả Ao nằm ở chỗ nó là kho kinh nghiệm đọc địa hình đồng bằng Việt (gò thấp, ao, ngòi, lạch), không nằm ở lời hứa phát phúc.

Việc nên làm

  • Khi một thầy nói "đất này là kiểu Tả Ao đặt", hỏi họ dựa vào bản sách nào; nếu chỉ là lời truyền thì coi như một câu chuyện đẹp.
  • Muốn đọc văn bản, tìm các bản đã số hoá và có ký hiệu (bản in 1918, 1919), đọc kèm các bài nghiên cứu Hán Nôm thay vì sách soạn lại không ghi nguồn.
  • Đọc truyện Tả Ao cùng bài những ngôi mộ có tiếng trong truyện địa lý Việt để thấy mô típ "đất không thắng được phúc" lặp lại thế nào.

Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?

Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.

Xem lịch các thầy

Nguồn tham khảo

  • Phan Kế Bính, Nam Hải dị nhân liệt truyện — truyện Tả Ao (đại ý).
  • Tả Ao chân truyền địa lý — bản in hiệu Nghĩa Lợi, Hàng Đào, 1919; Địa lý Tả Ao di thư chân truyền chính pháp — Liễu Văn Đường, 1918 (theo thư mục Hán Nôm và các bản số hoá).
  • Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí — Văn tịch chí, mục Tả Ao địa lý luận (đại ý).
  • Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án, Tang thương ngẫu lục — chỗ giải thích tên Tả Ao là tên làng (đại ý, theo trích dẫn).
  • Các bài nghiên cứu văn bản Tả Ao của Nguyễn Quốc Khánh trên Tạp chí Hán Nôm (2016, 2017).
  • Độ cao đỉnh Hồng Lĩnh: dữ liệu bản đồ OpenStreetMap.

Câu hỏi thường gặp

Tả Ao để lại bao nhiêu kiểu đất?

Tùy bản: Lịch triều hiến chương loại chí ghi một bản có 21 địa đồ, bản in năm 1919 có 28 kiểu đất, một bản chép tay ghi 110 kiểu đất kết phát. Số kiểu khác nhau cho thấy truyền thống được thêm dần qua nhiều đời.

"Cửu long tranh châu" của Tả Ao ở đâu?

Theo truyện chép trong Nam Hải dị nhân liệt truyện, ở núi Hồng Lĩnh gần quê ông; ông dời mộ cha đến đó nhưng về sau mộ bị đào phá. Núi có thật, ngôi mộ thì không còn gì để kiểm.

Có ngôi mộ nào chắc là do Tả Ao đặt không?

Không có văn bản đương thời nào xác nhận. Các cuộc đất mang tên ông đến từ truyện kể và lời truyền của các làng.

Những câu ca "Tả Ao nói" trên mạng có đáng tin không?

Chỉ tin khi tìm được câu ấy trong một bản in hoặc bản chép tay có ký hiệu. Câu không ghi nguồn thường là truyền miệng hoặc soạn mới.

Câu "tiên tích phúc nhi hậu tầm long" nghĩa là gì?

Nghĩa là trước hết phải tích phúc, sau mới đi tìm long mạch. Câu này kết truyện Tả Ao trong Nam Hải dị nhân liệt truyện, đặt đạo đức lên trên phép xem đất.

Nguồn tham khảo: Nam Hải dị nhân liệt truyện — Phan Kế Bính — truyện Tả Ao · Tả Ao chân truyền địa lý (bản in Nghĩa Lợi, Hàng Đào, 1919) — 28 kiểu đất · Lịch triều hiến chương loại chí — Phan Huy Chú — Văn tịch chí, mục Tả Ao địa lý luận · Tang thương ngẫu lục — Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án

Đình làng chọn đất thế nào: hướng đình, ao đình và bãi trướcĐình làng phong thủy: nền cao, ao trước, bãi rộng, nhìn về núi xa. Đo trên bản đồ: đình Tây Đằng quay 192°, gần đúng về phía Ba V…
Thành nhà Hồ: hướng thành, núi sông quanh Tây Đô và câu hỏi vì sao kinh đô chỉ đứng bảy nămThành nhà Hồ đo trên bản đồ: tường gần 870 m, mặt chính quay Đông Nam; lời can dời đô năm 1397 bàn thế đất ra sao, vì sao đừng qu…
Đọc bản đồ cổ Việt Nam: Hồng Đức bản đồ, Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư và cách người xưa vẽ núi sôngBản đồ cổ Việt Nam: Hồng Đức bản đồ (lệnh vẽ năm 1467), Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, Bình Nam đồ; vì sao phía tây ở trên, núi vẽ n…
Chuyện "yểm long mạch" ở Việt Nam: đọc truyền thuyết như văn học, không như sửYểm long mạch là gì: bản chép sớm nhất trong Việt Điện U Linh, dị bản về Cao Biền, chuyện cột đồng Mã Viện, và vì sao hiện vật ha…
Chùa Một Cột, chùa Trấn Quốc: kiến trúc trên nước, giấc mộng tòa sen và vì sao nên đọc theo Phật giáo trước phong thủyChùa Một Cột dựng năm 1049 theo giấc mộng tòa sen, mở rộng năm 1105 với ao Bích Trì; chùa Trấn Quốc dời ra gò Kim Ngư năm 1615. Đ…
Phong thủy lăng tẩm triều Nguyễn: lăng Gia Long, Minh Mạng, Tự ĐứcPhong thủy lăng tẩm triều Nguyễn qua ba lăng Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức: núi làm án, sông Hương làm thủy tụ, và hồ đào trước lăn…