Tám quẻ đơn (bát quái): tượng, tính, người trong nhà, bộ phận cơ thể, phương vị

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc

Tám quẻ đơn (bát quái): tượng, tính, người trong nhà, bộ phận cơ thể, phương vị

Tám quẻ đơn là tám cách xếp ba hào âm dương: Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn. Mỗi quẻ có một tượng thiên nhiên, một tính, một vai trong nhà, một bộ phận cơ thể, một phương vị. Gần như toàn bộ các nghĩa ấy lấy từ thiên Thuyết Quái của Chu Dịch; bảng dưới đây ghi rõ dòng nào của Thuyết Quái, dòng nào do đời sau thêm vào.

Mọi phép đoán trong trụ Bốc, từ đọc một quẻ kép đến Mai Hoa, Lục Hào, đều dựa trên bảng này. Thuộc nó là bước đầu, hiểu vì sao nó được xếp như vậy là bước thứ hai.

Vẽ và nhớ tám quẻ

Hào vẽ từ dưới lên. Vạch liền là dương, vạch đứt là âm. Chu Hy in ở đầu Chu Dịch Bản Nghĩa một bài tám câu để nhớ hình, gọi là Bát quái thủ tượng ca:

Càn tam liên, Khôn lục đoạn; Chấn ngưỡng vu, Cấn phúc uyển; Ly trung hư, Khảm trung mãn; Đoài thượng khuyết, Tốn hạ đoạn.

Càn ba vạch liền, Khôn sáu đoạn; Chấn như cái bát ngửa, Cấn như cái bát úp; Ly rỗng giữa, Khảm đặc giữa; Đoài khuyết trên, Tốn đứt dưới.

QuẻKý hiệuHào từ dưới lênTượngTính (Thuyết Quái)
Càn☰dương, dương, dươngTrời (thiên)kiện: mạnh, không ngừng
Đoài☱dương, dương, âmĐầm (trạch)duyệt: vui, nói
Ly☲dương, âm, dươngLửa (hoả)lệ: bám vào, sáng
Chấn☳dương, âm, âmSấm (lôi)động: chuyển động, khởi
Tốn☴âm, dương, dươngGió, cây (phong, mộc)nhập: len vào
Khảm☵âm, dương, âmNước (thuỷ)hãm: sa vào, hiểm
Cấn☶âm, âm, dươngNúi (sơn)chỉ: dừng
Khôn☷âm, âm, âmĐất (địa)thuận: theo, chở

Cột "tính" là nguyên văn một câu Thuyết Quái: "Càn kiện dã, Khôn thuận dã, Chấn động dã, Tốn nhập dã, Khảm hãm dã, Ly lệ dã, Cấn chỉ dã, Đoài duyệt dã." Khi đọc một quẻ kép, tính của hai quẻ đơn thường quan trọng hơn tượng: quẻ Truân là Khảm trên Chấn dưới, "động ở trong hiểm", đó là gian nan buổi đầu.

Hãy để ý cột tính khớp với hình. Ly có hào âm kẹp giữa hai hào dương: cái mềm bám vào cái cứng, như lửa bám vào củi. Khảm thì ngược lại: một hào dương sa giữa hai hào âm, như người rơi xuống hố. Chấn có một hào dương nằm dưới hai hào âm, đang đẩy lên: động. Cấn có hào dương nằm trên cùng, chặn lại: dừng.

Người trong nhà: logic "cầu lần thứ mấy"

QuẻNgười trong nhàThân thểCon vật
CànChađầu (thủ, chữ 首)ngựa
KhônMẹbụngtrâu bò
ChấnTrưởng namchânrồng
TốnTrưởng nữđùigà
KhảmTrung namtailợn
LyTrung nữmắtchim trĩ
CấnThiếu namtay (thủ, chữ 手)chó
ĐoàiThiếu nữmiệngdê

Thuyết Quái giải cột thứ hai bằng một câu rất gọn: Càn là trời nên gọi là cha, Khôn là đất nên gọi là mẹ; "Chấn nhất sách nhi đắc nam, cố vị chi trưởng nam", Chấn là lần cầu thứ nhất mà được con trai nên gọi là trưởng nam. Tốn là lần thứ nhất được con gái, Khảm lần thứ hai được trai, Ly lần thứ hai được gái, Cấn lần thứ ba được trai, Đoài lần thứ ba được gái.

"Cầu lần thứ mấy" chính là vị trí của hào lẻ loi. Ba quẻ con trai đều có đúng một hào dương: ở dưới cùng là Chấn, ở giữa là Khảm, ở trên cùng là Cấn. Ba quẻ con gái đều có đúng một hào âm, cũng đi từ dưới lên: Tốn, Ly, Đoài. Bạn không cần học thuộc cột này, chỉ cần nhìn hào nào đứng một mình.

Từ đây sinh ra một chỗ hay làm người mới rối: Chấn có hai hào âm, một hào dương, vậy mà là quẻ dương. Hệ Từ hạ đã hỏi đúng câu ấy: "Dương quái đa âm, âm quái đa dương, kỳ cố hà dã? Dương quái cơ, âm quái ngẫu." Quẻ dương nhiều hào âm, quẻ âm nhiều hào dương, vì sao? Vì quẻ dương lẻ, quẻ âm chẵn. Đếm nét: hào dương một nét, hào âm hai nét; Chấn có một cộng hai cộng hai là năm nét, số lẻ. Nói gọn: hào ít quyết định tính quẻ, cái hiếm là cái làm chủ.

Cột thân thể có một bẫy chữ: Càn là "thủ" chữ 首 (đầu), Cấn cũng là "thủ" nhưng chữ 手 (tay). Đọc qua bản phiên âm không có chữ Hán, hai dòng này rất dễ chép lẫn.

Phương vị: hai vòng bát quái

QuẻHậu thiên (Văn Vương)Tiên thiên (Phục Hy)Mùa theo hậu thiên
CànTây BắcNamcuối thu sang đông
KhảmBắcTâyđông
CấnĐông BắcTây Bắccuối đông sang xuân
ChấnĐôngĐông Bắcxuân
TốnĐông NamTây Namcuối xuân sang hạ
LyNamĐônghạ
KhônTây NamBắccuối hạ sang thu
ĐoàiTâyĐông Namthu

Vòng hậu thiên lấy từ chương "Đế xuất hồ Chấn" của Thuyết Quái: "Đế xuất hồ Chấn, tề hồ Tốn, tương kiến hồ Ly, trí dịch hồ Khôn, duyệt ngôn hồ Đoài, chiến hồ Càn, lao hồ Khảm, thành ngôn hồ Cấn." Muôn vật ra ở Chấn, đều đặn ở Tốn, thấy nhau ở Ly, được nuôi ở Khôn, vui ở Đoài, giao tranh ở Càn, mỏi ở Khảm, thành ở Cấn. Đó là một vòng năm, đi từ mùa xuân phía Đông theo chiều kim đồng hồ.

Một điều ít ai để ý: chương ấy ghi thẳng phương cho sáu quẻ (Chấn đông, Tốn đông nam, Ly nam, Càn tây bắc, Khảm chính bắc, Cấn đông bắc), nói Đoài là "chính thu", còn Khôn thì chỉ nói "Khôn dã giả, địa dã", không ghi hướng. Tây Nam của Khôn và Tây của Đoài là suy ra từ vị trí trong vòng. Phong thuỷ bát trạch, Huyền Không, Kỳ Môn đều dùng vòng này.

Vòng tiên thiên dựa trên một câu khác của Thuyết Quái: "Thiên địa định vị, sơn trạch thông khí, lôi phong tương bạc, thuỷ hoả bất tương xạ", trời đất định chỗ, núi đầm thông khí, sấm gió xô nhau, nước lửa không bắn nhau. Câu ấy chỉ nói bốn cặp đối nhau, không ghi hướng. Việc đặt Càn ở Nam, Khôn ở Bắc, Ly Đông, Khảm Tây là cách xếp của Thiệu Ung đời Tống, được Chu Hy in vào đầu Chu Dịch Bản Nghĩa và gán cho Phục Hy. Gọi là "tiên thiên" là theo truyền thống; văn bản thì chỉ có từ đời Tống.

Số và ngũ hành: lớp thêm của đời sau

QuẻSố tiên thiênSố hậu thiên (Lạc Thư)Ngũ hành
Càn16Kim
Đoài27Kim
Ly39Hoả
Chấn43Mộc
Tốn54Mộc
Khảm61Thuỷ
Cấn78Thổ
Khôn82Thổ

Số tiên thiên là số dùng để lập quẻ trong Mai Hoa Dịch Số: chia cho 8, dư 1 là Càn, dư 2 là Đoài, và cứ thế. Số hậu thiên là số ô Lạc Thư, dùng trong Cửu tinh, Huyền Không. Ngũ hành của tám quẻ là gốc của Lục Hào và Mai Hoa: Thể Dụng sinh khắc đều đọc qua cột này.

Không cột nào trong bảng trên có trong Chu Dịch. Thuyết Quái có cho Càn tượng "kim" (kim loại) và Tốn tượng "mộc" (cây), nhưng hệ ngũ hành gán đủ tám quẻ là việc của các nhà Dịch từ đời Hán trở đi. Biết vậy để không nói "Kinh Dịch dạy Chấn thuộc Mộc".

Tượng mở rộng: một quẻ, hàng chục vật

Chương cuối Thuyết Quái kê cho mỗi quẻ một chuỗi tượng dài. Càn: "vi thiên, vi hoàn, vi quân, vi phụ, vi ngọc, vi kim, vi hàn, vi băng, vi đại xích, vi lương mã…", là trời, là tròn, là vua, là cha, là ngọc, là kim, là lạnh, là băng, là màu đỏ thắm, là ngựa tốt. Khảm có tượng "vi nguyệt" (mặt trăng), "vi đạo" (kẻ trộm), và về người là "vi gia ưu" (thêm lo). Ly có tượng giáp trụ, gươm giáo, và các con vật vỏ cứng ruột mềm như ba ba, cua, ốc, trai, rùa: ngoài cứng trong rỗng, đúng hình hai hào dương bọc một hào âm.

Chuỗi tượng này không phải liệt kê tuỳ tiện. Hầu hết suy ra từ hình hào hoặc từ tính quẻ. Ai nắm được cách suy thì tự mở rộng được, đó là cái nền của bảng "bát quái vạn vật thuộc loại" trong Mai Hoa, xem bài bát quái vạn vật loại tượng.

Sách cổ nói gì

Càn kiện dã, Khôn thuận dã, Chấn động dã, Tốn nhập dã, Khảm hãm dã, Ly lệ dã, Cấn chỉ dã, Đoài duyệt dã.

Càn là mạnh, Khôn là thuận, Chấn là động, Tốn là vào, Khảm là hãm, Ly là bám, Cấn là dừng, Đoài là vui. — Chu Dịch, Thuyết Quái

Bình: tám chữ này là "tính", tức cách hành xử của quẻ. Khi tượng (trời, đất, sấm…) không khớp với việc đang hỏi, đọc theo tính thường ra nghĩa rõ hơn. Hỏi chuyện làm ăn mà gặp Cấn, nghĩ "núi" thì khó hiểu, nghĩ "dừng" thì hiểu ngay.

Dương quái đa âm, âm quái đa dương, kỳ cố hà dã? Dương quái cơ, âm quái ngẫu.

Quẻ dương nhiều hào âm, quẻ âm nhiều hào dương, vì sao? Vì quẻ dương lẻ, quẻ âm chẵn. — Chu Dịch, Hệ Từ hạ

Đọc cho đúng mức

Bảng này gom ba lớp có tuổi khác nhau: tính, người trong nhà, thân thể, con vật, phương vị hậu thiên lấy từ Thuyết Quái; phương vị và số tiên thiên từ Thiệu Ung đời Tống; ngũ hành đủ tám quẻ từ các nhà Dịch đời Hán. Các phép đoán dùng lẫn cả ba, và điều đó không sai, nhưng khi một sách bảo "theo Kinh Dịch thì…", nên hỏi lại: theo tầng nào.

Có vài chỗ các sách ghi khác nhau. Tốn có khi được dịch là "gió", có khi là "gỗ, cây"; cả hai đều có trong Thuyết Quái. Mùa của bốn quẻ góc (Càn, Khôn, Cấn, Tốn) là khoảng giao mùa, các sách chia ranh giới không giống nhau. Con vật của Khôn, chữ "ngưu", có sách dịch là bò, có sách là trâu.

Việc nên làm

  • Tập vẽ tám quẻ từ dưới lên, mỗi ngày một lần trong một tuần, kèm câu "tính" của nó. Thuộc hình và tính trước, tượng mở rộng sau.
  • Nhớ người trong nhà bằng vị trí hào lẻ loi, không học thuộc.
  • Khi đọc một quẻ kép, gọi tên hai quẻ đơn và tính của chúng trước khi đọc lời quẻ. Bài các tầng chữ trong một trang Kinh Dịch chỉ cách Thoán truyện làm đúng việc ấy.
  • Tách riêng trong sổ tay hai vòng phương vị, ghi rõ vòng nào dùng cho môn nào.
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Chu Dịch, Thuyết Quái truyện: các chương về tính, con vật, thân thể, người trong nhà, "Đế xuất hồ Chấn", "Thiên địa định vị", và chương tượng mở rộng.
  • Chu Dịch, Hệ Từ hạ: câu về quẻ dương, quẻ âm.
  • Chu Hy, Chu Dịch Bản Nghĩa: bài Bát quái thủ tượng ca và các đồ tiên thiên theo Thiệu Ung in ở đầu sách.

Câu hỏi thường gặp

Bát quái và tám quẻ đơn có phải là một?

Phải. Bát quái là tám quẻ ba hào, còn gọi là quẻ đơn hay kinh quái. Chồng hai quẻ đơn lên nhau được một trong 64 quẻ kép.

Vì sao Chấn có hai hào âm mà lại là quẻ dương?

Vì quẻ được định tính bởi hào ít. Chấn chỉ có một hào dương nên hào ấy làm chủ; Hệ Từ hạ giải thích quẻ dương là quẻ lẻ khi đếm nét.

Bát quái tiên thiên và hậu thiên khác nhau ở đâu?

Hậu thiên lấy từ chương "Đế xuất hồ Chấn" của Thuyết Quái, xếp theo vòng mùa, dùng trong phong thuỷ. Tiên thiên là cách xếp các cặp đối nhau do Thiệu Ung đời Tống vẽ, dùng số của nó để lập quẻ Mai Hoa.

Ngũ hành của tám quẻ có trong Kinh Dịch không?

Không có đủ. Thuyết Quái chỉ cho Càn tượng kim loại, Tốn tượng cây. Hệ ngũ hành đủ tám quẻ do các nhà Dịch từ đời Hán đặt ra và được các phép đoán đời sau dùng.

Học thuộc bảng tượng của tám quẻ thế nào cho nhanh?

Học hình và tính trước, rồi suy các tượng khác từ hình hào: hào lẻ loi cho biết người trong nhà, hình rỗng giữa hay đặc giữa cho biết vật. Suy được thì không cần học thuộc từng dòng.

Nguồn tham khảo: Chu Dịch — Thuyết Quái truyện — các chương về tính, con vật, thân thể, người trong nhà, đế xuất hồ Chấn, thiên địa định vị · Chu Dịch — Hệ Từ hạ — dương quái đa âm, âm quái đa dương · Chu Dịch Bản Nghĩa — Chu Hy — bài Bát quái thủ tượng ca in ở đầu sách; đồ tiên thiên theo Thiệu Ung

Cát, hung, hối, lận, lệ, vô cữu: thang chữ đánh giá trong hào từ và cách đọc cho đúng mứcVô cữu là gì? Là không lỗi, chữ hay gặp thứ hai trong lời hào. Bảng đếm cát, hung, hối, lận, lệ, vô cữu trên 384 hào và lời Hệ Từ…
Dụng Cửu, Dụng Lục: hào thứ bảy của quẻ Càn, KhônDụng Cửu, Dụng Lục là lời riêng của Càn, Khôn cho lúc sáu hào cùng động. Chu Hy giảng là lệ dùng số 9, số 6; Tả Truyện có ví dụ C…
Tự Quái và Tạp Quái truyện: người xưa giải thích thứ tự 64 quẻ ra sao, và chỗ giải thích gượngThứ tự 64 quẻ được Tự Quái truyện giải bằng 61 mắt xích lý lẽ, có chỗ khéo có chỗ gượng. Tạp Quái lại xếp theo cặp đối nghĩa. Đọc…
Kinh Dịch là gì: sách bói, sách triết hay cả haiKinh Dịch là gì: phần Kinh là lời bói thời Chu, phần Truyện là triết học đời sau. Khổng Tử đọc Dịch đứt lề ba lần để tìm gì, sử l…
Dùng Kinh Dịch để soi một việc: hỏi thế nào thì quẻ trả lời đượcDùng Kinh Dịch tự soi việc: câu hỏi đóng, một việc, có thời hạn; thứ tự kê nghi của Hồng Phạm, bảng câu hỏi hỏng và cách sửa, ví …
Chu Dịch bản lụa Mã Vương Đôi: thứ tự quẻ khác hẳn bản ta đang đọcChu Dịch Mã Vương Đôi là bản chép trên lụa tìm năm 1973 ở Trường Sa, xếp 64 quẻ theo quẻ trên chứ không theo Tự Quái. Bảng so thứ…