Tính Thái Ất tích niên cho một năm cụ thể: ví dụ năm Đinh Mùi 2027

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc

Tính Thái Ất tích niên cho một năm cụ thể: ví dụ năm Đinh Mùi 2027

Thái Ất tích niên là tổng số năm tính từ mốc "thượng nguyên Giáp Tý" đến năm cần xem. Năm Đinh Mùi 2027 có tích niên 10.155.944 nếu theo Thái Ất Thống Tông Bảo Giám, và 1.938.584 nếu theo Thái Ất Kim Kính Thức Kinh. Hai con số khác hẳn nhau, nhưng chia ra đều được dương độn cục 56, Thái Ất ở cung 3 (Cấn).

Tích niên là gì

Mọi phép tính của Thái Ất bắt đầu bằng một con số rất lớn: số năm đã trôi qua kể từ một thời điểm thượng cổ mà các nhà lịch pháp coi là lúc trời đất "khởi nguyên" — năm, tháng, ngày, giờ đều là Giáp Tý, các thiên thể cùng đứng một chỗ. Mốc ấy gọi là thượng nguyên Giáp Tý; số năm từ đó đến năm đang xem gọi là tích niên.

Ý tưởng một mốc chung cho mọi chu kỳ không riêng của Thái Ất: lịch pháp Trung Hoa từ đời Hán đến đời Nguyên phần lớn đều tính "thượng nguyên tích niên" như vậy. Thái Ất chỉ mượn con số ấy rồi chia ra theo các chu kỳ riêng của mình — 360, 72, 24, 3 — như bài Thái Ất hành cửu cung đã trình bày.

Hai sách, hai mốc

Kim Kính Thức Kinh (đời Đường). Vương Hy Minh ghi: "Chí kim Đại Đường Khai Nguyên thập nhị niên Giáp Tý tuế, tích đắc nhất bách cửu thập tam vạn thất thiên nhị bách bát thập nhất toán" — đến năm Giáp Tý, năm Khai Nguyên thứ mười hai của nhà Đường (năm 724), tích được 1.937.281 toán. Sách kèm một quy tắc cho mọi năm khác: "Thượng khảo vãng cổ mỗi niên giảm nhất toán, hạ kiểm tương lai mỗi niên gia nhất toán" — xét về trước thì mỗi năm bớt một, xét về sau thì mỗi năm thêm một.

Bản Tứ Khố của Kim Kính còn một con số khác, 40.801, ghi cho "năm Giáp Tý Khai Nguyên thứ mười lăm". Năm Khai Nguyên thứ mười lăm (727) là năm Đinh Mão, không phải Giáp Tý, nên dòng này nhiều khả năng đã bị chép sai qua các đời. Chúng tôi dùng con số 1.937.281 vì nó khớp với năm Giáp Tý thật.

Thống Tông Bảo Giám (đời Nguyên). Sách ghi tích niên tính đến năm Quý Mão, năm Đại Đức thứ bảy (1303): 10.155.219 năm. Sau này Thống Tông được coi là sách gốc của phái Thái Ất đời Minh, Thanh; các bảng tính hiện đại phần lớn theo con số này.

Đếm gồm hay không gồm năm hiện tại

Có một chi tiết mà người mới tính hay vấp: con số trong sách đã gồm năm đó hay chỉ là số năm đã trôi qua? Cách kiểm đơn giản nhất là đối chiếu với vòng sáu mươi can chi: nếu tích niên tính gồm năm thượng nguyên Giáp Tý là năm thứ nhất, thì năm nào cũng phải có tích niên chia 60 dư đúng số thứ tự can chi của năm ấy (Giáp Tý dư 1, Quý Mão dư 40, Đinh Mùi dư 44).

SáchCon số sách ghiNămChia 60 dưCan chi thậtKết luận
Kim Kính1.937.281724 Giáp Tý1Giáp Tý = 1đếm gồm năm đó
Thống Tông10.155.2191303 Quý Mão39Quý Mão = 40đếm số năm đã qua, phải cộng 1

Vậy để dùng chung một quy ước (gồm năm đang xem), con số của Thống Tông cho năm 1303 là 10.155.220. Từ hai mốc ấy ra hai công thức gọn:

  • Theo Kim Kính: tích niên = 1.936.557 + năm dương lịch
  • Theo Thống Tông: tích niên = 10.153.917 + năm dương lịch

(áp cho năm âm lịch bắt đầu sau năm 0; "năm" ở đây là năm âm lịch, tính từ Tết).

Tính từng bước cho năm 2027

Năm Đinh Mùi bắt đầu từ Tết, thứ Bảy 6/2/2027 (theo lịch Việt Nam, cũng là ngày Tết theo lịch Trung Hoa năm ấy). Một số người làm Thái Ất lấy mốc Lập Xuân (4/2/2027) thay cho Tết; với phép tính theo năm, hai mốc chỉ khác nhau với ai xét đúng mấy ngày đầu tháng Hai.

Bước 1 — tích niên.

Kim KínhThống Tông
Tích niên 20271.936.557 + 2027 = 1.938.58410.153.917 + 2027 = 10.155.944
Kiểm: chia 60 dư4444
Đinh Mùi là năm thứ mấy trong vòng 604444

Cả hai đều dư 44 — đúng vị trí của Đinh Mùi. Con số không sai ở chỗ can chi.

Bước 2 — chia 360 (chu kỷ). Kim Kính: 1.938.584 ÷ 360 dư 344. Thống Tông: 10.155.944 ÷ 360 dư 344. Hai con số khác nhau hàng triệu mà dư như nhau, vì hiệu của chúng là 8.217.360 = 360 × 22.826. Hai sách chọn mốc cách nhau đúng một số chẵn chu kỷ 360 năm, nên mọi phép chia sau đó cho cùng kết quả.

Bước 3 — chia 72 (nguyên). 344 ÷ 72 dư 56. Năm 2027 là dương độn cục 56. Theo phép năm, mọi cục đều là dương độn. Số dư 344 rơi vào khoảng 289 – 360, tức nguyên thứ năm (nguyên Nhâm Tý) của chu kỷ, mở từ năm Nhâm Tý 1972.

Bước 4 — chia 24 (tiểu chu). 56 ÷ 24 dư 8.

Bước 5 — chia 3 và đếm cung. 8 ÷ 3 được 2, dư 2. Theo lời Kim Kính "khởi nhất cung, thuận hành bát cung, bất du trung ngũ, toán ngoại": đi qua trọn hai cung (cung 1, cung 2), sang cung thứ ba trong dãy 1 – 2 – 3 – 4 – 6 – 7 – 8 – 9, tức cung 3, Cấn, Đông Bắc; số dư 2 cho biết đây là năm thứ hai Thái Ất ở cung này.

Kết quả này khớp với thư viện mã nguồn mở kintaiyi (bản 0.2.3) chạy cho năm 2027 theo cả hai mốc.

Từ tích niên ra các ngôi khác

Cũng con số ấy cho ra các ngôi còn lại của thức năm (chi tiết ở các bài riêng):

NgôiPhép tínhNăm 2027
Văn Xương (Thiên Mục)cục 56 chia 18 dư 2; đếm từ Vũ Đức theo vòng mười sáu thần, gặp Âm Đức, Đại Vũ thì đếm hai lầnThái Thốc (Dậu)
Kế thầntích niên chia 12 dư 8; đếm ngược từ DầnMùi
Thủy Kích (Khách mục)đặt Kế thần lên Hòa Đức (Cấn), xem Văn Xương rơi vào đâuThái Dương (Thìn)

Cách đặt Văn Xương, Thủy Kích ở bài Văn Xương, Thủy Kích; vòng mười sáu thần ở bài mười sáu thần Thái Ất; ba con số chủ toán, khách toán, định toán ở bài chủ toán, khách toán.

Khi các mốc không khớp nhau

Không phải mốc nào cũng cách nhau chẵn 360 năm. Một số bảng tính đời sau và vài công cụ hiện đại còn dùng mốc thứ ba (có nơi gắn với bài ca "Thái Ất đào kim ca"), lệch với Thống Tông 276 năm — không chia hết cho 360, cũng không chia hết cho 72 — nên cho ra cục khác, cung khác. Gặp hai lá thức Thái Ất cùng một năm mà khác nhau, việc đầu tiên là hỏi: mỗi bên lấy tích niên theo sách nào?

Chính con số của Thống Tông cũng từng bị chất vấn. Các biên tập viên bộ Tứ Khố Toàn Thư đời Thanh, khi viết lời đề yếu cho sách này, đã dùng tích niên của sách tính ngược về thượng nguyên và nhận thấy ngày khởi đầu ra không phải ngày Giáp Tý, nên cái gọi là "bảy diệu cùng khởi một nguyên" không đứng được (đại ý). Tức là con số thượng nguyên là một quy ước lịch pháp, chọn sao cho tiện chia, không phải một sự kiện thiên văn đã kiểm.

Sách cổ nói gì

Chí kim Đại Đường Khai Nguyên thập nhị niên Giáp Tý tuế, tích đắc nhất bách cửu thập tam vạn thất thiên nhị bách bát thập nhất toán.

Đến nay, năm Giáp Tý, năm Khai Nguyên thứ mười hai đời Đại Đường, tích được một trăm chín mươi ba vạn bảy nghìn hai trăm tám mươi mốt toán. — Thái Ất Kim Kính Thức Kinh, quyển 1

Thượng khảo vãng cổ mỗi niên giảm nhất toán, hạ kiểm tương lai mỗi niên gia nhất toán.

Xét về quá khứ thì mỗi năm bớt một toán, xét về tương lai thì mỗi năm thêm một toán. — Thái Ất Kim Kính Thức Kinh, quyển 1

Bình: câu thứ hai là lời dặn dùng sách của Vương Hy Minh: người đời sau không cần sách mới, chỉ cần cộng thêm. Mười ba thế kỷ sau, phép cộng ấy vẫn chạy đúng: 1.937.281 cộng 1.303 năm từ 724 đến 2027 ra 1.938.584.

Thái Ất Thống Tông Bảo Giám, quyển 1, đại ý: tính từ thượng nguyên Giáp Tý đến năm Quý Mão, năm Đại Đức thứ bảy đời Nguyên, tích được 10.155.219 năm.

Đọc cho đúng mức

Tích niên là con số quy ước. Nó không đo tuổi vũ trụ hay một sự kiện có thật; nó là mốc lịch pháp được chọn để các chu kỳ chia cho tròn.

Phép tính kiểm được, lời đoán thì không. Từ tích niên ra cục 56, cung Cấn là phép số, ai tính lại cũng ra như nhau nếu dùng cùng mốc. Còn cục ấy, cung ấy "báo" gì cho một nước là chỗ không có cách kiểm.

Kiểm mốc trước khi so. Kim Kính và Thống Tông cho cùng kết quả; các mốc khác thì không. Chúng tôi chỉ dùng hai mốc có trong hai sách gốc.

Thái Ất là thuật của việc nước, việc quân thời xưa. Không dùng phép tính này để xem việc riêng của một người hay một gia đình.

Việc nên làm

  • Muốn tự tính: lấy năm âm lịch cần xem, cộng 10.153.917 (theo Thống Tông) hoặc 1.936.557 (theo Kim Kính), rồi chia lần lượt 360, 72, 24, 3.
  • Kiểm con số bằng vòng can chi: tích niên chia 60 phải dư đúng thứ tự can chi của năm.
  • Khi so hai tài liệu Thái Ất, ghi rõ mỗi bên lấy mốc nào.
  • Đọc bài Thái Ất hành cửu cung để biết số cung Thái Ất khác số Lạc Thư thế nào.

Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?

Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.

Xem lịch các thầy

Nguồn tham khảo

  • Vương Hy Minh — Thái Ất Kim Kính Thức Kinh, bản Tứ Khố Toàn Thư, quyển 1: tích niên đến năm Khai Nguyên thứ mười hai, phép thêm bớt mỗi năm (trích nguyên văn).
  • Thái Ất Thống Tông Bảo Giám (đời Nguyên), quyển 1: tích niên đến năm Đại Đức thứ bảy (đại ý theo bản số hoá).
  • Lời đề yếu Tứ Khố Toàn Thư về Thái Ất Thống Tông Bảo Giám (đại ý).
  • Tính và kiểm năm 2027: công thức tích niên, vòng sáu mươi can chi, thư viện mã nguồn mở kintaiyi (bản 0.2.3).

Câu hỏi thường gặp

Thái Ất tích niên là gì?

Là tổng số năm tính từ mốc thượng nguyên Giáp Tý đến năm cần xem. Con số này được chia lần lượt cho 360, 72, 24 và 3 để tìm cục và cung của thần Thái Ất.

Tích niên năm 2027 là bao nhiêu?

Theo Thái Ất Thống Tông Bảo Giám là 10.155.944; theo Thái Ất Kim Kính Thức Kinh là 1.938.584. Hai con số cách nhau đúng 22.826 chu kỷ 360 năm nên đều cho dương độn cục 56.

Vì sao các sách ghi tích niên khác nhau?

Mỗi sách chọn một mốc thượng nguyên riêng. Kim Kính và Thống Tông chọn hai mốc cách nhau chẵn 360 năm nên kết quả trùng; một số mốc đời sau không như vậy nên cho cục khác.

Năm 2027 Thái Ất ở cung nào?

Ở cung 3, tức cung Cấn phía Đông Bắc, năm thứ hai trong cung. Văn Xương ở Thái Thốc (Dậu), Thủy Kích ở Thái Dương (Thìn).

Làm sao kiểm một con số tích niên có đúng không?

Lấy tích niên chia 60: số dư phải bằng thứ tự của năm ấy trong vòng sáu mươi can chi, ví dụ Đinh Mùi là 44. Nếu lệch một, con số đang đếm theo quy ước khác.

Nguồn tham khảo: Thái Ất Kim Kính Thức Kinh — Vương Hy Minh, đời Đường (bản Tứ Khố Toàn Thư), quyển 1 — tích niên đến năm Khai Nguyên thứ mười hai; phép thêm bớt mỗi năm một toán · Thái Ất Thống Tông Bảo Giám — đời Nguyên, quyển 1 — tích niên từ thượng nguyên Giáp Tý đến năm Đại Đức thứ bảy (1303) · Lời đề yếu của các biên tập viên Tứ Khố Toàn Thư về Thái Ất Thống Tông Bảo Giám · Phép tính năm 2027: công thức tích niên, kiểm bằng vòng sáu mươi can chi và đối chiếu thư viện mã nguồn mở kintaiyi

Trạng Trình và Thái Ất: truyền thuyết "Thái Ất thần kinh" ở Việt NamNguyễn Bỉnh Khiêm và Thái Ất: chuyện Lương Đắc Bằng trao Thái Ất thần kinh, câu Hoành Sơn nhất đái trong Đại Nam thực lục, cách t…
Thái Ất nhân mệnh: dùng Thái Ất xem số người, một nhánh ít người biếtThái Ất nhân mệnh: nhánh dùng thức Thái Ất xem số người. Kim Kính chỉ có mục huyền mệnh theo đẳng cấp; so với Tử Vi, Bát Tự để th…
Thái Ất Kim Kính Thức Kinh: bộ sách đời Đường của Vương Hy MinhThái Ất Kim Kính Thức Kinh mười quyển của Vương Hy Minh đời Đường: nội dung từng quyển, chỗ người đời sau chép thêm, và vì sao rấ…
Thái Ất hành cửu cung: tám cung ngoài, không vào cung giữa, mỗi cung ba nămThái Ất hành cửu cung: mỗi cung ba năm, đi tám cung, không vào cung giữa, 24 năm một vòng. Số cung riêng của Thái Ất, so với Kỳ M…
Vì sao triều đình cấm dân giữ sách thiên văn, Thái Ất: luật thời Đường, Minh và ở Việt NamLuật Đường phạt hai năm đồ ai giữ sách Thái Ất, thiên văn, binh thư; luật Minh phạt trăm trượng, thưởng người tố giác. Nguyên văn…
Mười sáu thần Thái Ất: vòng ngoài của thức bàn và cách các ngôi đi trên đóMười sáu thần Thái Ất gồm Địa Chủ, Dương Đức, Hòa Đức, Lã Thân… gắn mười hai chi và bốn duy. Bảng đủ, chính cung, gian thần, so v…