Tượng Di Lặc: tích Bố Đại hòa thượng và đặt tượng sao cho giữ lễ
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 22/10/2026 · 8 phút đọc
Tượng Di Lặc nên đặt ở chỗ cao và sạch: kệ hoặc bàn thờ Phật ở phòng khách, phòng thờ, mặt tượng nhìn ra không gian chung, tầm mặt tượng ngang hoặc cao hơn tầm mắt người đứng. Không đặt sát đất, trong phòng ngủ, gần nhà vệ sinh hay chung bàn với Thần Tài – Ông Địa. Tượng Phật là đối tượng để kính, nên cách đặt theo lễ, không theo mẹo vật phẩm.
Di Lặc trong kinh và Di Lặc trên kệ: hai hình khác nhau
Trong kinh điển, Di Lặc là vị Bồ Tát đang ở cõi trời Đâu Suất, được Phật Thích Ca thọ ký sẽ hạ sinh làm Phật kế tiếp, nên gọi là Phật vị lai (kinh Di Lặc Hạ Sinh, đại ý). Tượng Di Lặc sớm ở Ấn Độ và Trung Hoa, như ở hang đá Vân Cương, Long Môn thời Bắc Ngụy, tạc một vị Bồ Tát đội mũ báu, ngồi thõng chân hoặc bắt chéo chân, dáng thanh mảnh, gương mặt trầm tĩnh.
Hình ông sư bụng to, cười rộng, vác túi vải mà nhà nào cũng biết là một hình khác, ra đời muộn hơn nhiều: đó là Bố Đại hòa thượng, một con người có thật. Từ đời Tống trở đi, hình Bố Đại dần thành hình phổ biến nhất của Di Lặc ở Trung Hoa, rồi sang Việt Nam.
Ở nhiều chùa Việt, hai hình này vẫn đứng riêng: trên tòa Tam Thế, Phật Di Lặc tượng trưng đời vị lai được tạc theo dáng Phật trang nghiêm như hai pho bên cạnh; còn tượng Bố Đại bụng phệ đặt ở tiền đường hoặc tòa riêng.
Bố Đại hòa thượng: ông sư túi vải đời Ngũ Đại
Theo Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, bộ sử Thiền do Đạo Nguyên soạn đầu đời Tống, Bố Đại là một nhà sư ở Phụng Hóa, Minh Châu (nay thuộc vùng Ninh Ba, Chiết Giang), tự xưng tên là Khế Thử, sống vào đời Hậu Lương thời Ngũ Đại. Ông thân hình béo, bụng phệ, nói năng không theo khuôn phép, đi đâu cũng vác chiếc túi vải lớn, xin được gì bỏ vào túi, ngủ đâu cũng được. Người ta gọi ông là "Bố Đại", ông sư túi vải (đại ý).
Sách chép, khoảng năm 916, ông ngồi trên tảng đá dưới mái chùa Nhạc Lâm, đọc bài kệ rồi tịch:
Di Lặc chân Di Lặc, phân thân thiên bách ức, thời thời thị thời nhân, thời nhân tự bất thức.
Dịch: Di Lặc thật là Di Lặc, phân thân trăm nghìn ức, lúc nào cũng chỉ cho người đời, mà người đời tự chẳng nhận ra.
Từ bài kệ ấy, người đời coi Bố Đại là hóa thân của Di Lặc. Cần tách hai lớp: việc Bố Đại có thật và bài kệ được chép là sử liệu Thiền tông; còn ông "chính là" Di Lặc là niềm tin của người đời sau đọc bài kệ. Truyền Đăng Lục cũng chép rằng sau khi ông tịch, có người còn gặp ông ở châu khác vác túi đi (đại ý). Đó là lớp truyền kỳ thường thấy quanh các vị Thiền sư.
Chi tiết đáng giữ nhất của tích này là cái túi vải: ông xin để cho, xin rồi chia cho trẻ con. Đó là hình ảnh của buông bỏ và hoan hỷ, không phải của tích trữ.
Di Lặc ở chùa Việt: tượng ông cười giữa sáu đứa trẻ
Ở nhiều chùa miền Bắc có pho tượng Bố Đại ngồi cười, quanh mình có sáu đứa trẻ đứa móc rốn, đứa bịt tai, đứa kéo áo, đứa cù nách. Sáu đứa trẻ ấy thường được giảng là lục tặc, sáu tên giặc, ứng với sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Bị sáu cái quấy suốt ngày mà ông vẫn cười: nghĩa của tượng là giữ tâm an giữa những thứ kéo mình đi.
So với mẫu bán chạy ở các cửa hàng hiện nay là Di Lặc ôm thỏi vàng, ngồi trên đống tiền, cưỡi thiềm thừ, khoảng cách khá xa. Mẫu năm em bé leo lên người Di Lặc ("ngũ tử hí Di Lặc") thì được người bán giải là "ngũ phúc". Người học Phật nhìn những mẫu ôm vàng, ngồi trên tiền thường thấy lệch với tinh thần túi vải. Chọn mẫu nào là việc mỗi nhà; biết gốc tích thì chọn có ý hơn.
Đặt tượng Di Lặc trong nhà phố, căn hộ sao cho giữ lễ
Không có sách phong thủy cổ nào quy định chỗ đặt tượng Di Lặc. Những điều dưới đây là nếp kính Phật quen thuộc của người Việt, cộng với vài việc thực tế của nhà phố, căn hộ.
Chỗ hợp:
- Phòng thờ hoặc bàn thờ Phật, nếu nhà có. Di Lặc đặt cạnh hoặc thấp hơn tượng Phật chính mà gia đình thờ (Thích Ca, A Di Đà, Quán Thế Âm). Chuyện xếp cấp trên bàn thờ có bài bàn thờ Phật trong nhà và thờ Phật và gia tiên chung một phòng.
- Phòng khách, trên kệ cao hoặc tủ trưng bày sát tường đặc, mặt tượng nhìn ra giữa phòng hoặc về phía cửa. Tầm mặt tượng ngang hoặc cao hơn tầm mắt người đứng là cách nhiều nhà chọn, để người đi qua nhìn lên chứ không nhìn xuống.
- Phòng làm việc, cửa hàng: kệ cao sau lưng chỗ ngồi chủ hoặc kệ đối diện lối vào; không đặt trên quầy thu ngân lẫn với tiền, hóa đơn.
Chỗ tránh:
- Sát đất, dưới gầm bàn, gầm cầu thang, cạnh kệ giày: với tượng Phật, đặt thấp là điều nhà Phật tử nào cũng tránh.
- Phòng ngủ, nhất là chỗ chân giường hướng vào tượng; nhà vệ sinh và tường chung với bồn cầu.
- Bàn ăn, bàn nhậu, cạnh gạt tàn, chai rượu: tượng không phải đồ trang trí bàn tiệc.
- Chung bàn thờ Thần Tài – Ông Địa đặt sát đất. Ở Nam Bộ, nhiều tượng Ông Địa được tạc bụng phệ, cười, cầm quạt, nhìn khá giống Di Lặc nên hay bị lẫn. Ông Địa thờ sát đất theo tục; Di Lặc là Phật thì đặt cao. Bài cách đặt bàn thờ Thần Tài – Thổ Địa nói rõ phần của Ông Địa.
- Taplo ô tô: tượng rời có thể văng khi phanh gấp, vướng túi khí. Bài đồ đặt trên ô tô có các giới hạn an toàn.
Ở căn hộ studio, phòng trọ, không tách được phòng: chọn một kệ treo cao trên tường xa giường nhất, có cánh hoặc rèm che được khi cần. Một pho nhỏ 15 – 20 cm đặt chỗ sạch đáng kính hơn một pho lớn đặt chỗ chật.
Thỉnh tượng, an vị và ngày vía
- Người Phật tử thường dùng chữ "thỉnh" thay cho "mua", và nhờ chùa hoặc thầy làm lễ an vị khi đặt tượng lên bàn thờ. Nếu chỉ bày tượng như tác phẩm điêu khắc ở phòng khách, nhiều gia đình không làm lễ, nhưng vẫn giữ chỗ cao, sạch. Bài khai quang vật phẩm bàn chuyện "khai quang" mà cửa hàng hay chào kèm.
- Ngày vía Phật Di Lặc theo truyền thống Phật giáo Bắc tông là mùng 1 tháng Giêng âm lịch. Năm 2027, mùng 1 Tết Đinh Mùi rơi vào thứ Bảy 6/2/2027 (đổi bằng bộ lịch của site). Nhiều nhà lau tượng, thay hoa vào dịp dọn nhà cuối năm, trước ngày ấy.
- Lau tượng gỗ bằng khăn mềm hơi ẩm, tượng đồng bằng khăn khô; tượng sơn son thếp vàng tránh nước và cồn.
Đọc cho đúng mức
- Phần có sách: Di Lặc là Phật vị lai trong kinh điển; Bố Đại là nhà sư có thật đời Ngũ Đại, bài kệ "Di Lặc chân Di Lặc" chép trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục.
- Phần niềm tin: Bố Đại là hóa thân Di Lặc là cách người đời sau hiểu bài kệ; các chuyện gặp lại ông sau khi tịch là truyền kỳ.
- Phần quy ước đời nay: tượng Di Lặc "đem tài lộc", đặt hướng nào để "hút" may mắn là lời của thời vật phẩm, không có trong kinh hay sách phong thủy cổ. Chính hình ảnh túi vải đi ngược với lời ấy.
- Đây là tượng Phật: với người theo đạo Phật, việc đặt tượng thuộc về lễ kính. Gia đình có Phật tử nên hỏi thêm thầy ở ngôi chùa mình hay đi, vì nếp mỗi chùa có thể khác nhau ở chi tiết.
Việc nên làm
- Chọn chỗ cao, sạch, tựa tường đặc trước khi thỉnh tượng; đo kệ để chọn cỡ tượng vừa.
- Nếu nhà có bàn thờ Phật, đặt Di Lặc cạnh hoặc thấp hơn tượng Phật chính; nếu chỉ bày ở phòng khách, đặt kệ cao nhìn ra giữa phòng.
- Không đặt sát đất, trong phòng ngủ, gần nhà vệ sinh, trên bàn ăn hay chung bàn với Ông Địa.
- Biết gốc tích để chọn mẫu: Bố Đại vác túi, Di Lặc giữa sáu đứa trẻ, hay Bồ Tát Di Lặc dáng cổ; cân nhắc trước các mẫu ôm vàng, ngồi trên tiền.
- Gia đình Phật tử muốn làm lễ an vị thì hỏi thầy ở chùa, và chọn dịp dọn nhà trước Tết, trước ngày vía mùng 1 tháng Giêng.
Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?
Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.
Xem lịch các thầyNguồn tham khảo
- Đạo Nguyên, Cảnh Đức Truyền Đăng Lục — truyện Bố Đại hòa thượng ở Minh Châu và bài kệ "Di Lặc chân Di Lặc"; dẫn nguyên văn bài kệ, phần truyện dẫn đại ý.
- Kinh Di Lặc Hạ Sinh — Bồ Tát Di Lặc sẽ thành Phật đời vị lai; dẫn đại ý.
- Ngày mùng 1 Tết Đinh Mùi 2027 đổi bằng bộ âm lịch của aihuyenhoc (lịch Việt Nam).
Câu hỏi thường gặp
Tượng Di Lặc nên đặt ở đâu trong nhà?
Chỗ cao và sạch: bàn thờ Phật, phòng thờ, hoặc kệ cao ở phòng khách, mặt tượng nhìn ra giữa phòng. Tránh sát đất, phòng ngủ, gần nhà vệ sinh và bàn ăn.
Bố Đại hòa thượng là ai?
Là nhà sư có thật ở Minh Châu đời Ngũ Đại, tự xưng Khế Thử, bụng to, vác túi vải xin ăn. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục chép bài kệ ông đọc trước khi tịch, từ đó người đời coi ông là hóa thân Di Lặc.
Có đặt tượng Di Lặc chung bàn thờ Thần Tài được không?
Không nên. Bàn Thần Tài – Ông Địa đặt sát đất theo tục; Di Lặc là Phật nên đặt cao. Nhiều tượng Ông Địa ở Nam Bộ có dáng giống Di Lặc nên hay bị lẫn, cần phân biệt khi mua.
Tượng Di Lặc có sáu đứa trẻ nghĩa là gì?
Sáu đứa trẻ thường được giảng là lục tặc, ứng với sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Bị quấy mà ông vẫn cười, ý nói giữ tâm an giữa những thứ kéo mình đi.
Ngày vía Phật Di Lặc là ngày nào?
Theo truyền thống Phật giáo Bắc tông là mùng 1 tháng Giêng âm lịch. Năm 2027 là thứ Bảy 6/2/2027, cũng là mùng 1 Tết Đinh Mùi.
Nguồn tham khảo: Cảnh Đức Truyền Đăng Lục — Đạo Nguyên (đời Tống) — truyện Bố Đại hòa thượng ở Minh Châu, bài kệ trước khi viên tịch · Kinh Di Lặc Hạ Sinh — Bồ Tát Di Lặc sẽ hạ sinh làm Phật đời vị lai