Vách ngăn sau cửa chính: cao bao nhiêu, hở bao nhiêu để chắn tầm nhìn mà không chắn sáng

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 10 phút đọc

Vách ngăn sau cửa chính: cao bao nhiêu, hở bao nhiêu để chắn tầm nhìn mà không chắn sáng

Vách ngăn sau cửa chính nhà phố nên đứng cách mặt cửa 1,2 – 1,5 m, rộng xấp xỉ bề rộng cửa, lệch một bên để chừa lối đi 1,0 – 1,1 m. Muốn chắn người ngồi trong nhà khỏi bị nhìn từ ngoài thì cao khoảng 1,1 – 1,3 m; muốn chắn cả người đứng thì 1,7 – 1,95 m, và nên làm vách thưa để không mất sáng.

📏Thước Lỗ Ban
Tra kích thước cửa, bàn thờ, mộ trên ba loại thước 52,2 – 42,9 – 38,8 cm.
Mở

Bình phong Việt vốn đứng ngoài sân

Ở nhà vườn Huế, nhà thờ họ, phủ đệ và nhiều công trình cũ, bình phong là một bức tường đứng riêng ngoài sân, giữa cổng và nhà chính. Phía trước bình phong thường có bể cạn, hòn non bộ. Người từ cổng vào không thấy thẳng gian giữa (nơi đặt bàn thờ), phải đi vòng qua một bên bình phong rồi mới tới thềm nhà.

Bình phong ở đó làm ba việc cùng lúc:

  1. Chắn tầm nhìn từ đường vào gian thờ, giữ sự trang nghiêm của nhà.
  2. Bắt người đi vòng, tạo một khúc quanh trên lối vào.
  3. Làm điểm dừng mắt trang trí: mặt bình phong đắp nổi, khảm sành sứ, có bể nước phía trước.

Nó không nằm trong nhà, và giữa bình phong với thềm nhà luôn là một khoảng sân rộng, đầy nắng. Đây là chi tiết bị quên nhiều nhất khi người ta "đưa bình phong vào nhà phố": ở nhà xưa, vật chắn đứng giữa trời, nên chắn tầm nhìn mà không chắn sáng của gian nhà. Bài kinh thành Huế và phong thủy nói thêm về bình phong ở quy mô cả kinh thành.

Nhà phố không có sân: chuyển nguyên lý vào trong

Nhà phố mặt tiền 4 m không có chỗ cho một bức tường đứng giữa sân. Vách ngăn sau cửa chính là cách đưa nguyên lý bình phong vào trong nhà. Nhưng vì nó nằm trong nhà, ba việc ở trên phải giữ, cộng thêm việc thứ tư: không được chặn ánh sáng và gió từ mặt tiền, vốn là nguồn sáng chính của nhà ống.

Từ đó ra mấy quyết định cụ thể: cao bao nhiêu, rộng bao nhiêu, cách cửa bao xa, hở bao nhiêu.

Cao bao nhiêu: theo tầm mắt bạn muốn chắn

Chiều cao vách không có con số "đúng phong thủy"; nó tùy bạn muốn chắn tầm mắt của ai.

Mục đíchTầm mắt cần chắnChiều cao váchSố đẹp trên thước 42,9 (mm)
Người ngồi sofa không bị nhìn thấy từ ngoài cửamắt người ngồi khoảng 1,1 – 1,2 m1,1 – 1,3 m (vách lửng)1.100 (Quan) · 1.250 – 1.300 (Bản, Tài)
Người đứng ngoài cửa không nhìn xuyên vào nhàmắt người đứng khoảng 1,5 – 1,6 m1,7 – 1,95 m1.700 (Bản) · 1.900 – 1.950 (Nghĩa, Quan)
Ngăn hẳn hai khoảng—kịch trầnchỉ nên làm vách thưa hoặc kính mờ

Vách là khối đặc nên nhiều thợ tra thước 42,9 cm. Tra bằng công cụ thước Lỗ Ban, mấy con số tròn rất hay được đặt lại rơi vào cung xấu: 1.200 mm (Hại), 1.800 mm (Bệnh), 2.000 mm (Kiếp), 2.200 mm (Bệnh). Số 1.500 mm nằm trong Nghĩa nhưng chỉ cách ranh giới 1,5 mm, lệch một lớp sơn là sang cung khác; nên tránh.

Vách lửng 1,1 – 1,3 m là lựa chọn hợp nhất cho đa số nhà phố: chắn được chỗ ngồi, người đứng vẫn nhìn qua được, ánh sáng gần như không mất. Vách cao 1,7 – 1,95 m chỉ nên làm khi cửa chính mở ra vỉa hè đông người qua lại cả ngày.

Rộng bao nhiêu, đặt cách cửa bao xa

Bề rộng vách: xấp xỉ bằng bề rộng lòng cửa, hoặc nhỉnh hơn một chút. Cửa lòng 1,4 m thì vách khoảng 1,25 – 1,33 m (dải Bản – Tài trên thước 42,9). Vách rộng hơn cửa nhiều thì thành bức tường; hẹp hơn nửa cửa thì không chắn được gì.

Khoảng cách tới mặt cửa: 1,2 – 1,5 m. Gần hơn thì người vào nhà như đâm vào vách, không có chỗ thay giày; cửa mở vào trong còn phải cộng thêm bề rộng cánh để cánh mở hết không chạm vách. Xa hơn 1,5 m ở nhà phố thì vách lấn sang phòng khách. Khoảng lùi này chính là huyền quan (bài huyền quan là gì).

Đặt lệch, không đặt giữa: vách đứng chính giữa trục cửa thì người vào phải chọn bên trái hay bên phải, và gió bị chẻ đôi. Đặt lệch hẳn về một bên, chừa một lối đi chính 1,0 – 1,1 m ở bên kia. Lối đi là khoảng rỗng, tra thước 52,2: 1.000 – 1.100 mm nằm trong dải Tể Tướng – Quý Nhân; còn 900 mm rơi vào Cô Độc, mà 90 cm lại là bề rộng lối đi rất hay được kẻ trên bản vẽ.

Hở bao nhiêu: khe trên đỉnh, khe giữa các lam

Một vách đứng trong nhà có hai loại khoảng hở quyết định nó có chắn sáng hay không.

Khoảng hở từ đỉnh vách tới trần. Đây là đường ánh sáng và gió đi vào phần sau của phòng. Vách lửng thì khoảng này rất lớn, không cần bàn. Vách cao thì phải tính. Khoảng hở là khoảng rỗng, nên nếu muốn đẹp cả hai thước thì chọn cặp số cùng lúc. Tìm bằng công cụ, các cặp đẹp cả hai (cách ranh giới từ 1 cm):

Trần cao (mm)Vách cao, thước 42,9 (mm)Hở tới trần, thước 52,2 (mm)
3.0001.910 – 1.9701.090 – 1.030
3.2001.910 – 1.950 hoặc 2.110 – 2.1301.290 – 1.250 hoặc 1.090 – 1.070
3.3001.950 – 1.9701.350 – 1.330
3.5001.900 – 1.9701.600 – 1.530

Khe giữa các lam. Vách lam gỗ hay lam nhôm cho phép chắn tầm nhìn mà gió và sáng vẫn qua. Lam bản 4 – 6 cm, khe hở 3 – 5 cm thì đứng thẳng trước vách vẫn thấy lờ mờ phía sau, đứng chéo thì gần như không thấy. Muốn chắn tốt hơn mà vẫn thoáng, xoay lam nghiêng khoảng 30 – 45 độ so với mặt vách, hướng nghiêng sao cho người đứng ở cửa nhìn vào gặp mặt lam.

Các vật liệu xếp theo mức giữ sáng, từ nhiều tới ít: lam thưa, kệ rỗng hai mặt, kính mờ hoặc kính hoa văn, gỗ đặc. Nhà ống có mặt tiền là nguồn sáng duy nhất của tầng trệt thì nên dừng ở ba loại đầu.

Ví dụ: nhà phố 4 m, cửa giữa, trần 3,2 m

Lòng nhà 3,7 m, cửa chính lòng 1,4 m ở giữa mặt tiền, mở vào trong, cánh rộng 0,7 m mỗi bên. Trần tầng trệt 3,2 m. Gia đình muốn người ngồi sofa không bị nhìn thấy từ vỉa hè, nhưng phòng khách không được tối.

  • Vách lam gỗ cao 1.910 mm (Nghĩa trên thước 42,9), khoảng hở tới trần 1.290 mm (Thiên Tài trên thước 52,2).
  • Vách rộng 1.300 mm, đặt cách mặt cửa 1,4 m (0,7 m cánh cửa + 0,7 m khoảng đứng).
  • Cửa nằm từ 1,15 m đến 2,55 m tính từ tường biên trái (đứng ngoài nhìn vào). Vách đặt từ 1,0 m đến 2,3 m, tức lệch về bên trái, che khoảng 1,15 m trong 1,4 m bề rộng cửa. Bên trái vách còn khe 1.000 mm (Tể Tướng trên thước 52,2) làm lối phụ; bên phải, sau khi kê tủ giày sâu 0,35 m sát tường, lối đi chính còn 1.050 mm (Quý Nhân).
  • Lam bản 5 cm, khe 4 cm, xoay nghiêng 30 độ.

Bố trí này chắn tầm nhìn từ vỉa hè vào chỗ ngồi, tạo một khúc quanh trên lối vào (giống việc thứ hai của bình phong), mà phần lớn ánh sáng mặt tiền vẫn qua khe lam và khoảng hở trên đỉnh. Nếu cửa trước còn nhìn thẳng ra cửa sau, vách này cũng là cách đầu tiên để bẻ dòng (bài cửa trước thẳng cửa sau).

Sách cổ nói gì

Tuân Tử, thiên Đại Lược, đại ý: "thiên tử ngoại bình, chư hầu nội bình" — bậc thiên tử dựng bình phong ở ngoài cửa, chư hầu dựng ở trong cửa, đó là lễ; bình phong ngoài là để không phải thấy bên ngoài, bình phong trong là để bên ngoài không thấy bên trong. — Tuân Tử, Đại Lược

Bình: câu này cho thấy từ thời Chiến Quốc, bình phong đã có hai chỗ đứng, trong và ngoài cửa, và mỗi chỗ có một mục đích riêng. Vách ngăn sau cửa chính nhà phố là "nội bình": để người ngoài không nhìn thấu vào trong. Đó là lý do về lễ và sự kín đáo, không phải lý do về khí. Chúng tôi dẫn đại ý vì các bản chép có khác nhau vài chữ.

Táng Thư, đại ý: người xưa làm cho khí tụ lại không tán, khí đi thì có chỗ dừng. — Táng Thư

Bình: lý do "khí" của vách ngăn là suy rộng của thầy đời sau từ câu này: khí vào cửa gặp vách thì chậm lại, đổi hướng. Chữ cần giữ là "có chỗ dừng", không phải "bị chặn". Vách thưa, lệch một bên, khớp với tinh thần ấy hơn một bức tường đặc.

Về số đo, Lỗ Ban Kinh là sách nghề mộc, đại ý dạy chọn số đo đồ gỗ rơi vào chữ tốt trên thước. Việc chia "42,9 cho khối đặc, 52,2 cho khoảng rỗng" là quy ước của thợ Việt, sách không ghi (xem ba loại thước Lỗ Ban).

Đọc cho đúng mức

  • Vách ngăn là chuyện kín đáo trước tiên. Lý do về lễ (Tuân Tử) và về tâm lý (không ai thích bị nhìn thấu khi ngồi trong nhà) mạnh hơn lý do về khí.
  • Vách đặc kín đáng ngại hơn không có vách. Ở nhà ống, một bức vách đặc cao 2 m ngay sau cửa có thể làm phòng khách tối hẳn. Phòng tối thì phải bật đèn cả ngày, mà phong thủy lại coi phòng khách là minh đường cần sáng.
  • Số Lỗ Ban là lớp phụ. Tra cho yên tâm, nhưng đừng để nó đẩy vách cao hơn tầm cần chắn, hay đẩy lối đi hẹp dưới 0,9 m.
  • Lối thoát nạn phải thông. Vách không được làm hẹp lối ra cửa chính, nhất là nhà ống chỉ có một cửa.

Việc nên làm

  • Xác định muốn chắn tầm mắt của ai: người ngồi (vách 1,1 – 1,3 m) hay người đứng (1,7 – 1,95 m).
  • Dựng thử bằng tấm bìa hoặc tấm vải căng trên khung trước khi đặt làm; đứng ngoài vỉa hè nhìn vào, ngồi trên sofa nhìn ra, bật tắt đèn để xem mất sáng bao nhiêu.
  • Đặt vách lệch một bên, cách mặt cửa 1,2 – 1,5 m (cửa mở vào thì cộng bề rộng cánh), lối đi chính 1,0 – 1,1 m.
  • Chọn vách thưa hoặc kính mờ cho nhà ống; nếu vách cao, chọn cặp số vách – khoảng hở đẹp cả hai thước theo bảng trên.
  • Cửa mở vào hay mở ra ảnh hưởng thẳng tới khoảng lùi: xem cửa chính mở vào hay mở ra.

Nhiều nhà chọn vách lam gỗ hoặc đặt một chậu cây cao bên cạnh vách để mặt vách mềm hơn, có sức sống ngay chỗ mắt dừng lại khi vào nhà. Gỗ và cây thuộc hành Mộc; nếu muốn thêm một vật nhỏ ở đầu vách theo ngũ hành, món hành Mộc hợp với chất liệu ấy. Nó là điểm nhấn, còn chiều cao, độ thưa của vách mới quyết định căn phòng sáng hay tối.

Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?

Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.

Xem lịch các thầy

Nguồn tham khảo

  • Tuân Tử, thiên Đại Lược — câu "thiên tử ngoại bình, chư hầu nội bình", đại ý.
  • Táng Thư, gắn tên Quách Phác — "cổ nhân tụ chi sử bất tán, hành chi sử hữu chỉ", đại ý.
  • Lỗ Ban Kinh (Lỗ Ban Kinh Tượng Gia Kính), sách nghề mộc đời Minh — chọn số đo theo chữ tốt trên thước, đại ý.
  • Mọi số đo trên thước 42,9 cm và 52,2 cm trong bài tính bằng công cụ thước Lỗ Ban của aihuyenhoc.com.

Câu hỏi thường gặp

Vách ngăn sau cửa chính nên cao bao nhiêu?

Muốn chắn người ngồi trong nhà thì 1,1 – 1,3 m; muốn chắn người đứng ngoài nhìn vào thì 1,7 – 1,95 m. Nếu tra thước 42,9 cm, các số 1.100, 1.250 – 1.300, 1.700, 1.900 – 1.950 mm nằm trong cung tốt.

Vách ngăn đặt cách cửa chính bao xa?

Khoảng 1,2 – 1,5 m tính từ mặt cửa. Cửa mở vào trong thì cộng thêm bề rộng cánh cửa để cánh mở hết không chạm vách.

Bình phong ngày xưa đặt ở đâu?

Ở nhà vườn Huế, nhà thờ họ, phủ đệ, bình phong là bức tường đứng riêng ngoài sân, giữa cổng và nhà chính, thường có bể cạn phía trước. Nó chắn tầm nhìn từ cổng vào gian giữa mà không chắn sáng của nhà.

Vách ngăn phòng khách nên làm bằng gì cho đỡ tối?

Lam gỗ hoặc lam nhôm thưa, kệ rỗng hai mặt, hoặc kính mờ. Vách gỗ đặc chỉ nên dùng khi phòng có nguồn sáng khác ngoài mặt tiền.

Lối đi cạnh vách ngăn rộng bao nhiêu?

Lối đi chính nên rộng 1,0 – 1,1 m, vừa thoải mái vừa nằm trong dải Tể Tướng – Quý Nhân của thước 52,2 cm. Tránh đúng 900 mm vì rơi vào cung Cô Độc.

Nguồn tham khảo: Tuân Tử — thiên Đại Lược — câu thiên tử ngoại bình, chư hầu nội bình · Táng Thư — gắn tên Quách Phác (đời Tấn) — hành chi sử hữu chỉ · Lỗ Ban Kinh (Lỗ Ban Kinh Tượng Gia Kính) — sách nghề mộc, bản lưu hành đời Minh

Cửa trước thẳng cửa sau: 'xuyên đường' trong sách và chuyện gió lùa của nhà ống, bẻ dòng mà không bịt gióCửa trước thẳng cửa sau: Táng Thư nói khí gặp gió thì tán, kiến trúc nhiệt đới cần gió xuyên phòng. Năm cách bẻ dòng cho nhà ống …
Phòng khách nhỏ dưới 15 m²: kê đồ theo ba nguyên tắc tựa – thoáng – tụPhòng khách nhỏ phong thủy: ba nguyên tắc tựa, thoáng, tụ rút từ loan đầu, áp vào bản vẽ phòng 3,5 x 4 m với số đo cụ thể, không …
Kích thước cửa chính theo thước Lỗ Ban 52,2 cm: bảng lọt lòng cho cửa 1, 2 và 4 cánhKích thước cửa chính theo thước Lỗ Ban 52,2 cm: đo lọt lòng chứ không đo phủ bì, bảng số đẹp cho cửa 1, 2, 4 cánh nhà phố, và thư…
Cửa chính hai cánh hay bốn cánh: chẵn lẻ trong quan niệm và trong Lỗ Ban KinhCửa chính 2 cánh hay 4 cánh: Lỗ Ban Kinh xét số đo, không xét số cánh. Quan niệm chẵn lẻ truyền miệng, cách chọn theo bề ngang mặ…
Phòng khách không có cửa sổ: "minh đường" tối và cách lấy sáng cho nhà ống kẹp giữa hai nhàPhòng khách không có cửa sổ ở nhà ống: minh đường tối theo sách cổ, ánh sáng vào sâu bao nhiêu mét, và bảy cách lấy sáng từ cửa k…
Phòng khách liền bếp: đứng ở cửa chính có nên nhìn thấy bếpPhòng khách liền bếp: Tam Yếu xét bếp theo phương so với cửa, không xét nhìn thấy; kiểm nguồn câu mở cửa thấy bếp, ví dụ căn hộ, …