Kích thước cửa chính theo thước Lỗ Ban 52,2 cm: bảng lọt lòng cho cửa 1, 2 và 4 cánh
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 10 phút đọc
Cửa chính đo bằng thước Lỗ Ban 52,2 cm theo lọt lòng (khoảng trống người đi qua), không theo khung ngoài. Trên thước này, cứ mỗi 26,1 cm có một dải đẹp rộng 13 cm. Số hay dùng cho nhà phố: cửa một cánh rộng 76 hoặc 81 cm; hai cánh 127 – 134 cm; bốn cánh 238, 264 hoặc 286 – 290 cm; cao 213, 238 hoặc 264 cm.
📏Thước Lỗ BanTra kích thước cửa, bàn thờ, mộ trên ba loại thước 52,2 – 42,9 – 38,8 cm.Mở
Thông thủy, lọt lòng, phủ bì: đo chỗ nào
Ba chữ thợ hay nói, nghĩa khác nhau:
| Cách gọi | Đo từ đâu đến đâu | Thước dùng theo thói quen thợ Việt |
|---|---|---|
| Lọt lòng, thông thủy | khoảng trống thật: mép trong khung bao bên này tới mép trong khung bao bên kia; cao từ mặt sàn hoàn thiện (hoặc mặt ngưỡng nếu có) tới mép dưới khung trên | 52,2 cm |
| Phủ bì | mép ngoài khung bao bên này tới mép ngoài bên kia | 42,9 cm (khối đặc) |
| Ô chờ | lỗ để trống trên tường khi xây thô, trước khi lắp khung | không đo Lỗ Ban; ô chờ chỉ để vừa khung |
Chữ "thông thủy" nghĩa đen là chỗ nước chảy thông qua, tức khoảng rỗng. Vì vậy thước 52,2 dùng cho mọi thứ rỗng: cửa đi, cửa sổ, ô thoáng, giếng trời, chiều cao thông tầng. Còn 42,9 dùng cho khối đặc: bệ, bàn, giường, tủ, khung bao. Bài ba loại thước Lỗ Ban giải vì sao có ba thước.
Lỗi hay gặp nhất là đo ô chờ rồi đặt hàng cửa. Ô chờ rộng 2.500 mm, khung gỗ mỗi bên 60 mm, lọt lòng chỉ còn 2.380 mm. Hai con số này rơi vào hai cung khác nhau trên thước 52,2, nên đo sai chỗ là kết luận sai hoàn toàn.
Thước 52,2 chia thế nào, và vì sao một nửa số đo là đẹp
Thước 52,2 cm chia tám cung lớn, mỗi cung 6,525 cm, mỗi cung lớn lại chia năm cung nhỏ. Thứ tự tám cung lớn: Quý Nhân (tốt), Hiểm Họa (xấu), Thiên Tai (xấu), Thiên Tài (tốt), Nhân Lộc (tốt), Cô Độc (xấu), Thiên Tặc (xấu), Tể Tướng (tốt).
Bốn cung tốt, bốn cung xấu, xếp từng cặp. Khi thước lặp vòng, Tể Tướng cuối vòng trước dính liền Quý Nhân đầu vòng sau. Kết quả là dải đẹp và dải xấu xen nhau đều đặn, mỗi dải rộng 13,05 cm, cứ 26,1 cm lặp một lần. Tính bằng công cụ của site, các dải đẹp từ 70 cm đến 3,2 m:
| Dải đẹp (mm) | Cung | Dải đẹp (mm) | Cung |
|---|---|---|---|
| 717,8 – 848,2 | Thiên Tài + Nhân Lộc | 2.022,8 – 2.153,2 | Tể Tướng + Quý Nhân |
| 978,8 – 1.109,2 | Tể Tướng + Quý Nhân | 2.283,8 – 2.414,2 | Thiên Tài + Nhân Lộc |
| 1.239,8 – 1.370,2 | Thiên Tài + Nhân Lộc | 2.544,8 – 2.675,2 | Tể Tướng + Quý Nhân |
| 1.500,8 – 1.631,2 | Tể Tướng + Quý Nhân | 2.805,8 – 2.936,2 | Thiên Tài + Nhân Lộc |
| 1.761,8 – 1.892,2 | Thiên Tài + Nhân Lộc | 3.066,8 – 3.197,2 | Tể Tướng + Quý Nhân |
Nhìn bảng này sẽ thấy một điều ít người nói: không có số đo nào "quá khó". Lệch tối đa 13 cm là vào dải đẹp kế bên. Khó thật sự chỉ nằm ở chỗ con số phải đúng sau khi thi công xong, không phải trên bản vẽ.
Bảng số đo cho cửa nhà phố
Số dưới đây chọn ở giữa dải đẹp, cách ranh giới cung ít nhất 2 cm để chừa sai số thi công. Tất cả đã tra lại từng số bằng công cụ thước Lỗ Ban.
Bề rộng lọt lòng
| Loại cửa | Bề rộng thường gặp | Số đẹp nên chọn (mm) | Cung |
|---|---|---|---|
| Một cánh (cửa phụ, cửa căn hộ) | 75 – 110 cm | 760 · 810 · 1.010 · 1.080 | Thiên Tài · Nhân Lộc · Tể Tướng · Quý Nhân |
| Hai cánh, hoặc "mẹ bồng con" | 120 – 160 cm | 1.270 · 1.340 · 1.540 · 1.600 | Thiên Tài · Nhân Lộc · Tể Tướng · Quý Nhân |
| Bốn cánh, mặt tiền 3,5 – 4 m | 180 – 240 cm | 1.810 · 1.860 · 2.050 · 2.120 · 2.310 · 2.380 | xen kẽ hai cặp cung tốt |
| Bốn cánh, mặt tiền 4,5 – 5 m | 250 – 320 cm | 2.570 · 2.640 · 2.840 · 2.900 · 3.100 | xen kẽ hai cặp cung tốt |
Chiều cao lọt lòng (từ mặt sàn đã lát gạch)
| Tầng trệt cao | Chiều cao cửa thường làm | Số đẹp nên chọn (mm) |
|---|---|---|
| 3,3 – 3,6 m | 2,0 – 2,2 m | 2.050 · 2.120 · 2.130 |
| 3,6 – 4,0 m | 2,3 – 2,4 m | 2.310 · 2.330 · 2.380 |
| trên 4 m, có ô thoáng | 2,6 – 2,9 m | 2.590 · 2.640 · 2.840 · 2.900 |
Hai số cần tránh vì hay bị đặt theo thói quen: 2.200 mm (rơi vào Hiểm Họa) và 900 mm cho cửa một cánh (rơi vào Cô Độc). Cửa 90 cm là cỡ cửa phòng rất phổ biến, nhưng với cửa chính, đổi lên 1.010 hoặc xuống 810 là xong.
Hai cái bẫy khiến số đẹp trên giấy thành số xấu ngoài đời
Bẫy thứ nhất: đo chiều cao trước khi lát sàn. Thợ xây khung cửa khi sàn mới là bê tông thô. Sau đó lớp vữa lót và gạch lát thêm 3 – 5 cm. Cửa đo lúc thô 2.060 mm, tra thước thấy nằm trong Tể Tướng, thợ yên tâm làm tiếp; lát gạch xong chỉ còn khoảng 2.020 mm, rơi ra ngoài dải đẹp (dải bắt đầu ở 2.022,8). Ngược lại, cửa đo thô 2.170 mm (Hiểm Họa) lát xong còn khoảng 2.130 mm, lại vào Quý Nhân. Cách tránh: ghi rõ trong bản vẽ là "chiều cao lọt lòng tính từ cốt sàn hoàn thiện", và hỏi thợ cốt hoàn thiện cao hơn cốt thô bao nhiêu.
Bẫy thứ hai: chọn số sát ranh giới. Cửa nhôm, cửa gỗ lắp xong lệch 5 – 10 mm là chuyện thường. Số 2.150 mm nằm trong Quý Nhân nhưng chỉ cách ranh giới 3 mm; lắp lệch 4 mm là sang Hiểm Họa. Công cụ của site in luôn "cách ranh giới bao nhiêu mm" để người đặt hàng tránh số sát mép.
Có nên kiểm cả khung phủ bì theo 42,9 không
Một số thợ Việt kiểm hai lớp: lọt lòng theo 52,2, phủ bì khung theo 42,9. Muốn thỏa cả hai thì phải chọn cặp số cùng lúc, vì khung gỗ dày 6 cm mỗi bên làm phủ bì rộng hơn lọt lòng 12 cm.
Ví dụ cửa bốn cánh nhà 4 m: lọt lòng rộng 2.380 mm là đẹp trên 52,2, nhưng phủ bì 2.500 mm rơi vào cung Hại trên 42,9. Tìm lại bằng công cụ, các cặp đẹp cả hai thước (cách ranh giới từ 1 cm) với khung 6 cm là: lọt lòng 2.040 – 2.060 (phủ bì 2.160 – 2.180), 2.630 – 2.650 (phủ bì 2.750 – 2.770), 2.840 – 2.860. Chiều cao (khung chỉ có thanh trên, cộng 6 cm): lọt lòng 2.310 – 2.330 cho phủ bì 2.370 – 2.390, đẹp cả hai.
Kiểm hai lớp không có trong sách nào; đó là cẩn thận của thợ. Nếu chỉ chọn được một, lọt lòng theo 52,2 là lớp được nhiều thợ coi trọng hơn, vì đó là khoảng người và gió thật sự đi qua.
Cửa nhiều cánh tính lọt lòng thế nào
Cửa bốn cánh, hai cánh hay cửa "mẹ bồng con" (một cánh lớn, một cánh nhỏ) đều tính lọt lòng tổng của cả ô cửa, tức khoảng trống giữa hai thanh khung đứng ngoài cùng, không trừ đố giữa. Lý do: khi mở hết các cánh, đó là khoảng thông thật.
Một số thợ kiểm thêm cánh hay mở hằng ngày (cánh lớn của cửa mẹ bồng con, hai cánh giữa của cửa bốn cánh), vì đó là lối người đi thường xuyên. Không có quy định thống nhất; làm thêm bước này không hại gì nếu chọn được số. Chuyện chọn hai hay bốn cánh có bài riêng: cửa chính hai cánh hay bốn cánh.
Cửa cuốn khác hẳn vì ray và hộp cuốn ăn vào lòng cửa; cách đo ở bài kích thước cửa cuốn theo Lỗ Ban.
Sách cổ nói gì
Lỗ Ban Kinh, sách nghề mộc lưu hành từ đời Minh (tên đầy đủ thường gặp là Lỗ Ban Kinh Tượng Gia Kính), đại ý ghi một cây thước dùng khi làm cửa, chia tám chữ: Tài, Bệnh, Ly, Nghĩa, Quan, Kiếp, Hại, Bản; số đo cửa rơi vào chữ tốt (Tài, Nghĩa, Quan, Bản) thì dùng, rơi vào chữ xấu thì tránh. — Lỗ Ban Kinh, phần thước cửa
Bình: đây là chỗ cần nói thẳng. Tám chữ Tài – Bệnh – Ly – Nghĩa – Quan – Kiếp – Hại – Bản trong sách chính là tám cung của thước 42,9 cm mà thợ Việt hôm nay dùng cho khối đặc. Còn thước 52,2 cm với các cung Quý Nhân, Hiểm Họa, Thiên Tai, Thiên Tài, Nhân Lộc, Cô Độc, Thiên Tặc, Tể Tướng thì chúng tôi không tìm thấy trong các bản Lỗ Ban Kinh lưu hành. Nó là thước của thợ, truyền trong nghề ở Việt Nam và Hoa Nam, nguồn gốc đến nay chưa rõ. Việc "52,2 cho lọt lòng, 42,9 cho khối đặc" cũng là quy ước của thợ Việt, không phải lời sách.
Độ dài thước trong sách tính theo đơn vị xích đời Minh; quy ra centimét thì mỗi nhà nghiên cứu ước một khác. Con số 42,9 cm là quy ước được dùng rộng rãi ở Việt Nam, không nên coi là con số "gốc" chính xác đến từng milimét.
Dương Trạch Tam Yếu, đại ý, coi cửa là nơi nhà nạp khí, xét nhà phải xét cửa trước. — Dương Trạch Tam Yếu
Bình: Tam Yếu xét cửa theo phương (cửa nằm ở phương nào so với nhà), không xét theo số đo. Thước Lỗ Ban là một lớp khác hẳn, đến từ nghề mộc chứ không từ sách địa lý. Hai lớp không mâu thuẫn, nhưng cũng đừng gán lời của sách này cho sách kia.
Đọc cho đúng mức
- Tên cung trên thước là lời chúc, không phải lời phán. Không ai chứng minh được cửa 2.200 mm làm nhà gặp chuyện xấu; người ta chọn số đẹp như chọn ngày đẹp, để yên tâm khi làm việc lớn.
- Các phái thước khác nhau. Có thợ dùng thước 52,2 cho cả cửa lẫn khung, có thợ dùng 42,9 cho cả hai, có vùng dùng thước dài khác. Bài này theo quy ước phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay.
- Yêu cầu sử dụng đi trước. Cửa chính phải đủ rộng cho xe máy, xe lăn, khiêng đồ và thoát nạn khi cháy. Đừng thu hẹp cửa xuống dưới 80 cm, hay hạ cửa xuống thấp hơn tầm đầu, chỉ để rơi vào một cung tên đẹp.
- Cửa đã làm xong mà rơi cung xấu thì không cần đập. Nếu tiện sửa (thay ngưỡng, đổi khung khi cải tạo) thì chỉnh; không tiện thì để nguyên.
Việc nên làm
- Ghi trong bản vẽ: kích thước cửa là lọt lòng, chiều cao tính từ cốt sàn hoàn thiện.
- Chọn số cách ranh giới cung từ 2 cm trở lên, tra lại bằng công cụ trước khi đặt hàng.
- Nếu muốn kiểm cả phủ bì theo 42,9, chọn cặp số cùng lúc, đừng làm xong lọt lòng rồi mới tính khung.
- Đo lại một lần khi lắp xong khung, trước khi lắp cánh; sai lệch lúc này còn chỉnh được bằng cách chèn hoặc bào khung.
- Với cổng ngoài nhà, xem thêm kích thước cổng nhà và ngưỡng cửa.
Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?
Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.
Xem lịch các thầyNguồn tham khảo
- Lỗ Ban Kinh (Lỗ Ban Kinh Tượng Gia Kính), sách nghề mộc lưu hành đời Minh — phần thước cửa tám chữ, đại ý.
- Dương Trạch Tam Yếu, gắn tên Triệu Cửu Phong, đời Thanh — cửa là nơi nạp khí, đại ý.
- Bảng dải đẹp và mọi số đo trong bài tính bằng công cụ thước Lỗ Ban của aihuyenhoc.com (ranh giới tính đến 1/1000 mm).
Câu hỏi thường gặp
Kích thước cửa chính đo lọt lòng hay phủ bì?
Đo lọt lòng, tức khoảng trống thật giữa hai mép trong của khung bao, cao từ sàn hoàn thiện tới mép dưới khung trên. Phủ bì là mép ngoài khung, thợ nào muốn kiểm thì dùng thước 42,9 cm.
Cửa chính 4 cánh rộng bao nhiêu là đẹp theo Lỗ Ban?
Với nhà mặt tiền 4 m, các số lọt lòng hay chọn là 2.310, 2.380, 2.570 hoặc 2.640 mm. Nhà 5 m có thể chọn 2.840, 2.900 hoặc 3.100 mm. Nên tra lại số cuối cùng bằng công cụ thước Lỗ Ban.
Chiều cao cửa chính 2,2 m có được không?
Lọt lòng 2.200 mm rơi vào cung Hiểm Họa trên thước 52,2 cm. Hạ xuống 2.120 – 2.130 mm hoặc nâng lên 2.310 – 2.380 mm là vào dải đẹp; nhớ tính từ mặt sàn đã lát gạch.
Thước 52,2 cm có trong Lỗ Ban Kinh không?
Chúng tôi không tìm thấy trong các bản Lỗ Ban Kinh lưu hành. Sách ghi thước cửa tám chữ Tài, Bệnh, Ly, Nghĩa, Quan, Kiếp, Hại, Bản, tức thước 42,9 cm của thợ Việt; thước 52,2 cm là thước truyền trong nghề, nguồn gốc chưa rõ.
Cửa đã làm rơi vào cung xấu có phải sửa không?
Không bắt buộc. Tên cung là lời chúc của nghề mộc, không phải điều đã kiểm chứng. Khi nào cải tạo, thay khung hay làm lại ngưỡng thì nhân tiện chỉnh số đo cho vào dải đẹp.
Nguồn tham khảo: Lỗ Ban Kinh (Lỗ Ban Kinh Tượng Gia Kính) — sách nghề mộc, bản lưu hành đời Minh — phần thước cửa tám chữ · Dương Trạch Tam Yếu — gắn tên Triệu Cửu Phong (đời Thanh) — cửa là nơi nạp khí