Ăn Tết theo Đông y: bánh chưng, thịt mỡ, dưa hành và cái lý "cân hàn nhiệt" của mâm cỗ Việt

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc

Ăn Tết theo Đông y: bánh chưng, thịt mỡ, dưa hành và cái lý "cân hàn nhiệt" của mâm cỗ Việt

Ăn Tết theo Đông y không phải ăn kiêng, mà là hiểu vì sao mâm cỗ Việt vốn đã có phép phối: món béo, ngọt, ấm luôn đi kèm món chua, đắng, mát. Dưa hành cạnh thịt mỡ, canh khổ qua cạnh thịt kho là lối "cân hàn nhiệt" theo đúng tinh thần sách. Cái hại ngày Tết thường là ăn quá no, rượu nhiều, thức khuya.

Kiến thức văn hoá, không thay cho khám chữa bệnh. Bài viết đọc mâm cỗ Tết bằng khái niệm tính vị của y học cổ truyền như một cách hiểu văn hoá ẩm thực. Không có món nào trong bài là món chữa bệnh. Người có bệnh tiểu đường, tim mạch, gan, thận, gút nên hỏi bác sĩ về chế độ ăn dịp Tết.

Tết 2027 rơi vào đâu trong năm khí

Tết Đinh Mùi 2027 là thứ Bảy 6/2/2027, hai ngày sau Lập xuân (4/2/2027), tính bằng bộ máy âm lịch của site. Ông Công ông Táo (23 tháng Chạp) rơi vào 30/1/2027. Với miền Bắc, đó là cuối rét, đầu những đợt nồm ẩm; với miền Nam là giữa mùa khô, trời hanh, nắng mà sáng sớm còn se.

Theo tứ thời dưỡng sinh, Tết đứng ngay cửa mùa xuân, mùa "phát trần" cần khí được nảy nở, thư thái. Ăn uống nặng nề, thức khuya liên tục mấy ngày là làm ngược nhịp ấy, nên bài dưỡng sinh mùa xuân khuyên sau Tết sớm quay về nếp cũ.

Đông y đọc một món ăn thế nào

Mỗi thức ăn, theo sách bản thảo, có tứ khí (hàn, lương, ôn, nhiệt, thêm "bình" là không lệch) và ngũ vị (chua, đắng, ngọt, cay, mặn). Tố Vấn tóm tác dụng của năm vị trong một câu: cay thì tán, chua thì thu, ngọt thì hoà hoãn, đắng thì làm chắc, mặn thì làm mềm. Bài tứ khí ngũ vị giải kỹ khung này.

Nguyên tắc phối gốc đến từ một câu khác của Tố Vấn: "hàn giả nhiệt chi, nhiệt giả hàn chi", lạnh thì dùng nóng, nóng thì dùng lạnh. Trong bếp, nó thành phép cân: món ấm béo đi với món mát chua; món mát đi với gia vị ấm. Một mâm cỗ "đúng sách" không phải mâm toàn món bổ, mà là mâm mà tổng thể không lệch hẳn về một phía.

Một lưu ý về nguồn: tính vị dưới đây lấy chủ yếu theo Bản Thảo Cương Mục, bộ sách bản thảo đầy đủ nhất mà các thầy thuốc Việt xưa vẫn dùng, đối chiếu với bảng thực phẩm hàn nhiệt của site. Sách bản thảo khác nhau có khi ghi khác nhau một bậc (chẳng hạn thịt lợn, có sách ghi "bình", có sách ghi "hơi hàn"); bảng chỉ để hiểu cái lý, không để kiêng khem.

Mâm cỗ miền Bắc qua bảng tính vị

MónThành phần chínhTính vị theo sách (đại ý)Vai trò trong mâm
Bánh chưnggạo nếp, đậu xanh, thịt lợn mỡ, hạt tiêunếp ngọt, ôn; đậu xanh ngọt, hàn; thịt lợn hơi hàn; tiêu cay, nhiệttự thân đã là một món phối: ấm của nếp và tiêu cân mát của đậu xanh
Giò lụathịt lợn nạc, nước mắmthịt lợn hơi hàn; mắm mặnđạm dễ ăn, nhạt hơn thịt mỡ
Thịt đôngthịt lợn, bì, mộc nhĩ, tiêubéo, hơi hàn; tiêu cay ấmmón lạnh ăn giữa mùa rét, phải có tiêu
Gà luộcthịt gà, lá chanhgà ngọt, hơi ônmón ấm, ít mỡ hơn thịt lợn
Canh măng chân giòmăng khô, chân giòmăng ngọt, hơi hàn; chân giò béomăng mát, nhiều xơ, đỡ cái béo của chân giò
Dưa hànhcủ hành tím muối chuahành cay, ôn; vị chua của lên menmón "cắt" vị béo
Củ kiệukiệu muốikiệu cay, đắng, ônsách thuốc dùng kiệu để "thông dương", hành khí ở ngực
Mứt gừnggừng, đườnggừng cay, hơi ôn; đường ngọtmón ấm ăn kèm trà
Chè (trà)lá chèđắng ngọt, hơi hànuống nóng sau bữa
Rượugạo nếp lên mencay ngọt, đại nhiệtmón nóng nhất mâm

Nhìn bảng, thấy ngay mâm cỗ Bắc chia hai phe rõ: phe béo, ngọt, ấm (bánh chưng, thịt đông, chân giò, mứt, rượu) và phe chua, cay, đắng nhẹ để giữ thăng bằng (dưa hành, củ kiệu, măng, chè). Phe thứ hai ít, nhỏ, nhưng không bao giờ vắng.

Dưa hành đi với thịt mỡ: phép phối có lý

Câu quen thuộc "thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ" gói đúng một phép phối mà sách thuốc giải thích được ở ba tầng.

Tầng vị. Thịt mỡ ngọt, béo, nặng; theo Đông y, đồ "cao lương hậu vị" (béo ngọt đậm) dễ làm Tỳ Vị trì trệ, sinh đầy bụng. Dưa hành có hai vị bù: vị chua (thu, gom lại, làm miệng tỉnh vị) và vị cay (tán, làm khí lưu thông). Ăn một miếng mỡ, một miếng dưa là đặt "ngọt béo" cạnh "chua cay" đúng như câu cay thì tán, chua thì thu.

Tầng khí. Hành củ tính ôn. Thịt lợn, theo Bản Thảo Cương Mục, tính hơi hàn. Mùa rét mà ăn món béo tính mát thì cần một món ấm đi kèm; hành, tiêu, gừng trong mâm Bắc đều giữ vai đó.

Tầng đời sống. Người ăn quen thấy rõ: dưa chua làm miếng mỡ bớt ngấy, ăn được thêm mà không ợ. Ẩm thực nhiều nước cũng có món chua đi kèm món béo; đó là cách bếp xưa xử lý cảm giác ngấy trước khi có khái niệm tiêu hoá chất béo.

Cái lý ấy có giới hạn: dưa hành không giải được một bữa quá no. Nó chỉ làm bữa ăn cân hơn khi lượng ăn vừa phải.

Mâm Tết miền Nam: cùng một phép, khác món

Mâm cỗ miền Nam đổi món nhưng giữ phép:

MónTính vị theo sách (đại ý)Cặp với
Thịt kho nước dừa, trứngthịt béo, nước dừa ngọtdưa giá, dưa cải, củ kiệu tôm khô
Canh khổ qua nhồi thịtkhổ qua đắng, hànthịt kho béo, mâm nhiều món ngọt
Dưa giágiá đỗ mát, vị chua của dưathịt kho
Củ kiệu tôm khôkiệu cay ấm; tôm ngọt, ônbánh tét
Bánh tétnhư bánh chưngdưa món, củ kiệu

Canh khổ qua là ví dụ đẹp nhất: một món đắng, hàn đặt giữa ngày Tết của xứ nóng, cạnh nồi thịt kho béo ngọt. Người miền Nam còn giải nghĩa thêm bằng lối chơi chữ "khổ qua" là cái khổ qua đi. Tầng chữ thì là tín ngưỡng; tầng vị thì đúng phép "nhiệt giả hàn chi" cho một mâm vừa béo vừa ngọt giữa mùa khô nóng.

Hải Thượng và căn bếp Việt

Hải Thượng Lãn Ông là thầy thuốc Việt đầu tiên coi bếp là một phần của nghề, đến mức dành hẳn một tập trong bộ Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh cho việc nấu nướng, chế biến: tập Nữ Công Thắng Lãm. Tập ấy ghi các món mứt, bánh và cách chế biến theo mùa của người Việt thế kỷ mười tám. Ông không viết thành bảng "món này hàn, món kia nhiệt" cho mâm Tết; phần tính vị ông để ở các tập thuốc như Lĩnh Nam Bản Thảo. Nhưng việc một danh y ghi chép tỉ mỉ cách làm mứt, làm bánh cho thấy tư tưởng ông đã nói ở nhiều chỗ: giữ sức khoẻ bắt đầu từ bữa ăn hằng ngày, và bữa ăn của người Việt phải đọc bằng sản vật Việt.

Những điều làm hỏng bụng ngày Tết

Đông y có một câu ngắn mà đúng cho ba ngày Tết: "ẩm thực tự bội, trường vị nãi thương", ăn uống gấp đôi thì ruột dạ dày bị tổn. Món nào cũng có thể vừa phải; cái hại đến từ lượng và nhịp:

  • Ăn liên tục, không thành bữa. Bánh mứt, hạt dưa, nước ngọt cả ngày, tới bữa vẫn ăn đủ. Tỳ Vị theo Đông y cần lúc nghỉ; y học hiện đại thì nói lượng đường, năng lượng vượt xa nhu cầu.
  • Rượu bia. Rượu là món "đại nhiệt" trong sách. Uống nhiều mấy ngày liền làm hại gan, rối loạn nhịp tim, và là nguyên nhân hàng đầu của tai nạn giao thông dịp Tết. Đã uống thì không lái xe.
  • Muối. Giò, chả, dưa muối, thịt kho, nước chấm: mâm Tết rất mặn. Người tăng huyết áp, bệnh thận nên bớt chấm, bớt dưa.
  • Dưa muối chưa chín. Dưa muối mới một hai ngày, còn màu xanh, chưa đủ chua thì không nên ăn; nên ăn dưa đã chua vàng, và bỏ dưa có váng, có mùi lạ.
  • Đồ ăn để lâu. Bánh chưng, thịt đông, giò để nhiều ngày ngoài tủ lạnh trong những ngày nồm ấm dễ mốc, hỏng. Bánh chưng mốc thì bỏ, đừng cắt bỏ chỗ mốc rồi ăn tiếp.
  • Thức khuya. Thức đón giao thừa, rồi tiếp khách, đánh bài khuya liền mấy đêm làm lệch nhịp ngủ. Đông y coi giấc ngủ là lúc dương "tàng" vào âm; xem bài giấc ngủ theo Đông y.

Sách cổ nói gì

Tân tán, toan thu, cam hoãn, khổ kiên, hàm nhuyễn.

Cay thì làm tán, chua thì làm thu, ngọt thì làm hoà hoãn, đắng thì làm chắc, mặn thì làm mềm. — Tố Vấn, Tạng Khí Pháp Thời Luận

Hàn giả nhiệt chi, nhiệt giả hàn chi.

Lạnh thì dùng nóng, nóng thì dùng lạnh. — Tố Vấn, Chí Chân Yếu Đại Luận

Ẩm thực tự bội, trường vị nãi thương.

Ăn uống gấp đôi thì ruột dạ dày bị tổn. — Tố Vấn, Tý Luận

Bình: câu thứ hai là phép chữa bệnh, câu thứ nhất là lý của vị, câu thứ ba là lời cảnh giác. Đem cả ba vào bếp thì ra đúng cái mâm cỗ ông bà để lại: món béo có món chua kèm, món mát có món ấm kèm, và đừng ăn quá. Đây là cách đọc văn hoá; sách không viết các câu này cho bánh chưng.

Đọc cho đúng mức

Tính vị của thức ăn là hệ phân loại của y học cổ truyền, ghi lại từ kinh nghiệm nhiều thế kỷ, không phải kết quả đo đạc. Các sách bản thảo còn ghi khác nhau với cùng một món, nên đừng dùng bảng trên để kiêng cứng nhắc hay để "chữa" cái gì. Phần đáng tin nhất của bài là phần đời thường: ăn đúng bữa, đừng quá no, bớt mặn, bớt rượu, giữ đồ ăn sạch và ngủ đủ, những điều mọi khuyến cáo dinh dưỡng hiện đại đều nói. Người có bệnh mạn tính cần chế độ ăn Tết do bác sĩ hướng dẫn riêng.

Việc nên làm

  1. Giữ ba bữa chính trong ngày Tết; bánh mứt chỉ ăn kèm trà, không ăn thay bữa.
  2. Mỗi mâm có một món chua hoặc đắng (dưa hành, củ kiệu, canh khổ qua, măng); ăn đan xen với món béo.
  3. Bớt chấm, bớt dưa nếu có tăng huyết áp, bệnh thận; ăn dưa đã chua vàng.
  4. Không uống rượu bia khi phải lái xe; nhắc người lớn tuổi trong nhà uống ít.
  5. Cất bánh chưng, thịt đông, giò vào tủ lạnh; thấy mốc thì bỏ cả miếng.
📅Lịch âm – lịch vạn niên
Lịch tháng âm dương, can chi, tiết khí, ngày hoàng đạo.
Mở

Nguồn tham khảo

  • Hoàng Đế Nội Kinh — Tố Vấn: Tạng Khí Pháp Thời Luận; Chí Chân Yếu Đại Luận; Tý Luận
  • Lý Thời Trân — Bản Thảo Cương Mục, các mục nếp, đậu xanh, thịt lợn, hành, kiệu, gừng, trà, rượu (đại ý)
  • Hải Thượng Lãn Ông — Nữ Công Thắng Lãm và Lĩnh Nam Bản Thảo, trong bộ Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh (đại ý)
  • Khuyến cáo của Bộ Y tế về giảm muối, rượu bia và an toàn thực phẩm dịp Tết
  • Ngày Tết Đinh Mùi 2027 và tiết Lập xuân tính bằng bộ máy âm lịch aihuyenhoc.com

Câu hỏi thường gặp

Bánh chưng tính nóng hay lạnh?

Theo sách bản thảo, gạo nếp tính ấm, đậu xanh tính mát, thịt lợn hơi mát, hạt tiêu nóng. Chiếc bánh tự nó đã là một món phối, không lệch hẳn về phía nào; ăn nhiều thì nặng bụng vì nếp và mỡ, không phải vì "nóng".

Vì sao ăn thịt mỡ phải có dưa hành?

Theo Đông y, món béo ngọt dễ làm Tỳ Vị trì trệ; vị chua của dưa làm thu gom, vị cay của hành làm khí lưu thông, hành lại tính ấm cân với thịt lợn hơi mát. Trong đời sống, dưa chua làm miếng mỡ bớt ngấy.

Mâm cỗ miền Nam có theo phép cân hàn nhiệt không?

Có, chỉ khác món. Canh khổ qua đắng mát đi với thịt kho nước dừa béo ngọt; dưa giá, củ kiệu đi với bánh tét. Đó là cùng phép "nóng thì dùng mát" của Tố Vấn.

Hải Thượng Lãn Ông có viết gì về món ăn Tết không?

Ông có tập Nữ Công Thắng Lãm ghi cách làm mứt, bánh và chế biến theo mùa của người Việt; phần tính vị ông để ở các tập thuốc. Ông không lập bảng hàn nhiệt riêng cho mâm Tết.

Ăn Tết thế nào để khỏi đầy bụng?

Giữ ba bữa, đừng ăn vặt liên tục, ăn đan món béo với món chua, bớt rượu bia, ngủ đủ. Đau bụng dữ dội, nôn nhiều, đi ngoài ra máu hay vàng da thì phải đi khám ngay.

Nguồn tham khảo: Hoàng Đế Nội Kinh — Tố Vấn — thiên 22 Tạng Khí Pháp Thời Luận (ngũ vị); thiên 74 Chí Chân Yếu Đại Luận (hàn giả nhiệt chi); thiên 43 Tý Luận · Lý Thời Trân — Bản Thảo Cương Mục — các mục nếp, đậu xanh, thịt lợn, hành, kiệu, gừng, trà, rượu · Hải Thượng Lãn Ông — Nữ Công Thắng Lãm; Lĩnh Nam Bản Thảo (trong Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh) · Khuyến cáo của Bộ Y tế về muối, rượu bia và an toàn thực phẩm dịp Tết · Ngày Tết Đinh Mùi 2027 tính bằng bộ máy âm lịch aihuyenhoc.com

Dưỡng sinh bốn mùa ở xứ nhiệt đới: miền Nam không có mùa đông thì làm saoDưỡng sinh ở xứ nhiệt đới: miền Nam chỉ có mùa mưa, mùa khô, nhưng ngày nào cũng đủ bốn mùa thu nhỏ. Đặt hai mùa cạnh bốn mùa của…
Dưỡng sinh mùa thu: hanh khô và phế khíDưỡng sinh mùa thu theo Tố Vấn: ngủ sớm dậy sớm, giữ tâm yên, gom thần khí, nuôi Phế. Áp cho hanh khô miền Bắc, và vì sao thu ở m…
Gió Lào miền Trung: khí "táo nhiệt" mà sách Tàu không có, và cách người xứ Nghệ dưỡng sức qua mùaGió Lào dưới mắt Đông y: nóng như thử mà khô như táo, khí mà Nội Kinh không tả. Chỗ áp được sách, chỗ không, nếp sống xứ Nghệ và …
Trưởng hạ: mùa thứ năm của Đông y, khí thấp và chuyện tiêu hoá cuối hèTrưởng hạ là gì: mùa thứ năm ứng Tỳ Thổ, rơi vào khoảng tháng Sáu âm lịch nóng ẩm. Vì sao sách cổ nói mùa này hay rối tiêu hoá, n…
Tháng nồm miền Bắc dưới mắt Đông y: khí thấp, người nặng nề và những gì sách cổ khuyênNồm ẩm miền Bắc theo Đông y là khí thấp: đầu nặng như bọc, người mỏi, ăn kém. Số liệu độ ẩm Hà Nội, vì sao tường đổ mồ hôi, việc …
Giao mùa hay ốm: Đông y gọi là "thời khí", y học hiện đại gọi là gìGiao mùa hay ốm: Đông y gọi là thời khí, khí trái mùa làm già trẻ cùng bệnh. Đặt cạnh mùa cúm, virus hô hấp, sốt xuất huyết ở Việ…