Chu Dịch bản lụa Mã Vương Đôi: thứ tự quẻ khác hẳn bản ta đang đọc

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc

Chu Dịch bản lụa Mã Vương Đôi: thứ tự quẻ khác hẳn bản ta đang đọc

Chu Dịch bản lụa Mã Vương Đôi là bản Kinh Dịch chép trên lụa, tìm được năm 1973 trong ngôi mộ số 3 ở Mã Vương Đôi, Trường Sa (Hồ Nam), mộ đóng năm 168 trước Công nguyên. Bản này xếp 64 quẻ theo quẻ trên: tám quẻ có Càn ở trên đứng đầu, rồi đến nhóm Cấn, Khảm, Chấn, Khôn, Đoài, Ly, Tốn. Không có dấu vết của chuỗi Tự Quái, và nhiều tên quẻ viết bằng chữ khác.

Với người đọc Dịch hôm nay, bản lụa quan trọng ở một điểm: nó cho thấy thứ tự Văn Vương, từ Càn, Khôn đến Ký Tế, Vị Tế, không phải thứ tự duy nhất của Chu Dịch thời cổ. Bài này dựng lại thứ tự bản lụa, so với bản thông hành, và nêu vài chỗ tên quẻ khác.

Phát hiện năm 1973

Ba ngôi mộ ở Mã Vương Đôi là mộ của gia đình Lợi Thương, thừa tướng nước Trường Sa đầu đời Tây Hán. Mộ số 3, mộ của một người con trai, có một hộp sơn mài chứa hơn hai mươi cuộn lụa viết chữ, khoảng mười hai vạn chữ, gồm sách binh pháp, y thư, thiên văn, bản đồ, hai bản Lão Tử và một bản Chu Dịch kèm nhiều thiên truyện. Mộ được đóng năm 168 trước Công nguyên, nên bản Chu Dịch này được chép không muộn hơn năm ấy, tức sớm hơn mọi bản Kinh Dịch truyền tay đến nay hơn một nghìn năm.

Phần Chu Dịch trên lụa gồm phần kinh (64 quẻ với lời quẻ, lời hào) và một loạt thiên truyện. Trong số truyện có một bản Hệ Từ (khác bản thông hành ở thứ tự đoạn và một số chữ), cùng nhiều thiên chưa từng được biết, ghi những cuộc vấn đáp về Dịch, trong đó có thiên chép lời Khổng Tử bàn về việc ông dùng Dịch để tìm đức nghĩa hơn là để bói. Nội dung các thiên truyện ấy là một đề tài lớn riêng; bài này chỉ bàn phần kinh.

Quy tắc xếp quẻ của bản lụa

Thứ tự Văn Vương xếp quẻ theo cặp lật ngược và chuỗi lý lẽ của Tự Quái (xem bài Tự Quái và Tạp Quái). Bản lụa dùng một quy tắc hoàn toàn khác, thuần tuý theo quẻ đơn:

  1. Chia 64 quẻ thành tám nhóm theo quẻ trên, xếp nhóm theo thứ tự: Càn, Cấn, Khảm, Chấn, Khôn, Đoài, Ly, Tốn.
  2. Trong mỗi nhóm, quẻ đứng đầu là quẻ thuần (quẻ trên và dưới giống nhau).
  3. Bảy quẻ còn lại xếp theo quẻ dưới, theo thứ tự: Càn, Khôn, Cấn, Đoài, Khảm, Ly, Chấn, Tốn (bỏ qua quẻ đã đứng đầu).

Hai dãy thứ tự ấy không ngẫu nhiên. Theo phép phối quẻ với người trong nhà ở Thuyết Quái truyện (xem bài bát quái phối người nhà):

  • Dãy quẻ trên đi bốn quẻ dương rồi bốn quẻ âm: Càn (cha), Cấn (con trai út), Khảm (con trai giữa), Chấn (con trai cả); rồi Khôn (mẹ), Đoài (con gái út), Ly (con gái giữa), Tốn (con gái cả).
  • Dãy quẻ dưới đi từng cặp âm dương tương ứng: Càn với Khôn (cha mẹ), Cấn với Đoài (út trai, út gái), Khảm với Ly (giữa trai, giữa gái), Chấn với Tốn (cả trai, cả gái).

Như vậy bản lụa là một hệ thống có lý, nhưng lý lẽ ở đây là phép phối người nhà của quẻ đơn, không phải chuỗi tình thế nối tiếp như Tự Quái.

Bảng thứ tự bản lụa, đối chiếu thứ tự Văn Vương

Bảng dưới dựng lại thứ tự bản lụa bằng quy tắc trên, tính bằng máy từ dữ liệu 64 quẻ của site. Mỗi hàng là một nhóm tám quẻ có cùng quẻ trên; số trong ngoặc là số thứ tự Văn Vương quen thuộc. Thứ tự bản lụa đọc từ trái sang phải, hết hàng này sang hàng kế (hàng Càn là quẻ 1 đến 8, hàng Cấn là 9 đến 16…).

Quẻ trên12345678
CànCàn (1)Bĩ (12)Độn (33)Lý (10)Tụng (6)Đồng Nhân (13)Vô Vọng (25)Cấu (44)
CấnCấn (52)Đại Súc (26)Bác (23)Tổn (41)Mông (4)Bí (22)Di (27)Cổ (18)
KhảmKhảm (29)Nhu (5)Tỷ (8)Kiển (39)Tiết (60)Ký Tế (63)Truân (3)Tỉnh (48)
ChấnChấn (51)Đại Tráng (34)Dự (16)Tiểu Quá (62)Quy Muội (54)Giải (40)Phong (55)Hằng (32)
KhônKhôn (2)Thái (11)Khiêm (15)Lâm (19)Sư (7)Minh Di (36)Phục (24)Thăng (46)
ĐoàiĐoài (58)Quải (43)Tụy (45)Hàm (31)Khốn (47)Cách (49)Tùy (17)Đại Quá (28)
LyLy (30)Đại Hữu (14)Tấn (35)Lữ (56)Khuê (38)Vị Tế (64)Phệ Hạp (21)Đỉnh (50)
TốnTốn (57)Tiểu Súc (9)Quan (20)Tiệm (53)Trung Phu (61)Hoán (59)Gia Nhân (37)Ích (42)

Vài điều đọc được từ bảng:

  • Quẻ thứ hai của bản lụa là Bĩ, không phải Khôn. Khôn phải đến vị trí 33, đầu nửa sau của bản. Càn và Khôn vẫn là hai cột trụ, nhưng mỗi quẻ mở đầu một nửa sách, không đứng cạnh nhau.
  • Bản lụa kết bằng Ích (42), không phải Vị Tế. Ý nghĩa "Kinh Dịch kết ở quẻ chưa xong" mà bài Ký Tế và Vị Tế bàn là ý nghĩa của thứ tự Văn Vương; bản lụa không có.
  • Không có chia Thượng Kinh, Hạ Kinh theo kiểu 30 và 34 quẻ. Bản lụa chia tự nhiên thành hai nửa, mỗi nửa 32 quẻ: nửa đầu có quẻ trên là bốn quẻ dương, nửa sau là bốn quẻ âm.
  • Các cặp lật ngược bị tách rời. Truân (3) và Mông (4), đứng sát nhau trong thứ tự Văn Vương, nằm ở hai nhóm khác nhau trên bản lụa (Truân trong nhóm Khảm, Mông trong nhóm Cấn).

Thứ tự này rất gần với cách một người tra quẻ muốn: biết quẻ trên là gì thì đi thẳng vào nhóm ấy. Bảng tra theo tên quẻ ở bài cách đọc tên quẻ cũng dùng đúng ý tưởng ấy, chỉ khác thứ tự tám quẻ đơn.

Tên quẻ viết bằng chữ khác

Bản lụa viết nhiều tên quẻ bằng chữ khác bản thông hành. Phần lớn là chữ đồng âm hoặc gần âm (thời cổ người ta hay mượn chữ cùng âm để ghi), cũng có chỗ chỉ giữ phần chỉ âm của chữ. Vài ví dụ được giới nghiên cứu nhắc nhiều, theo các bản thích văn phổ biến:

Bản thông hànhBản lụaGhi chú
Càn 乾Kiện 鍵chữ mượn âm; nhiều người liên hệ với chữ "kiện" 健 (mạnh) trong Thuyết Quái "Càn, kiện dã"
Khôn 坤Xuyên 川dạng chữ cổ thường dùng cho Khôn
Cấn 艮Căn 根thêm bộ mộc
Chấn 震Thần 辰chỉ giữ phần chỉ âm
Ly 離La 羅chữ mượn âm
Đoài 兌Đoạt 奪chữ mượn âm
Đại Súc, Đại Tráng, Đại Quá 大泰 thay 大chữ "đại" viết thành chữ "thái"

Những khác biệt này phần lớn không đổi nghĩa quẻ, nhưng có vài chỗ chữ khác mở ra cách hiểu khác cho lời hào; đó là đề tài chuyên sâu của giới khảo cứu. Người đọc phổ thông chỉ cần biết rằng: tên quẻ trong sách ta đang đọc là tên đã được chuẩn hoá về sau, không phải dạng chữ duy nhất từng có.

Bản lụa nói gì với người đọc hôm nay

Thứ tự quẻ không phải "thiên khải". Có những sách huyền học coi thứ tự Văn Vương là một mật mã vũ trụ, mỗi vị trí đều có ý. Bản lụa cho thấy, ở thời Tây Hán, một bản Chu Dịch đầy đủ có thể xếp quẻ theo cách khác hẳn mà vẫn là Chu Dịch. Thứ tự Văn Vương có giá trị lớn (cặp lật ngược, chuỗi Tự Quái), nhưng nó là một trong nhiều cách sắp xếp.

Nội dung từng quẻ ổn định hơn thứ tự. Lời quẻ, lời hào của bản lụa nhìn chung trùng với bản thông hành, chỉ khác chữ ở từng chỗ. Như vậy cái được truyền giữ cẩn thận là nội dung từng quẻ, còn thứ tự là phần linh động hơn.

Bản cổ hơn nữa vẫn theo Văn Vương. Một bản Chu Dịch chép trên thẻ tre nước Sở, thời Chiến Quốc, sớm hơn bản lụa, được nhiều học giả cho là xếp theo thứ tự gần với Văn Vương. Như vậy không thể nói thứ tự bản lụa "gốc hơn"; đúng hơn là thời Chiến Quốc, đầu Hán, có ít nhất hai cách xếp cùng lưu hành, và thứ tự Văn Vương thắng thế khi Nho gia đời Hán chuẩn hoá kinh điển.

Sách cổ nói gì

Càn vi phụ, Khôn vi mẫu; Chấn nhất sách nhi đắc nam, cố vị chi trưởng nam… (đại ý)

Càn là cha, Khôn là mẹ; Chấn là lần cầu thứ nhất mà được con trai, nên gọi là con trai cả; Tốn là lần cầu thứ nhất mà được con gái, nên gọi là con gái cả; Khảm, Ly là lần thứ hai; Cấn, Đoài là lần thứ ba. — Chu Dịch, Thuyết Quái truyện, dẫn đại ý

Bình: đây là phép phối quẻ đơn với người trong nhà mà bản lụa dùng để xếp hai dãy quẻ trên, quẻ dưới. Thuyết Quái và bản lụa vì thế có thể cùng thuộc một không khí học thuật thời Chiến Quốc, đầu Hán, khi quẻ đơn và quan hệ âm dương của chúng được coi là nền của mọi thứ.

Đọc cho đúng mức

Tên quẻ trong bảng chữ khác là theo các bản thích văn phổ biến. Đọc chữ trên lụa cổ là việc của chuyên gia, và các bản thích văn có chỗ khác nhau. Bài chỉ nêu những tên được nhắc nhiều; muốn đi sâu nên đọc các công trình khảo cứu chuyên về bản lụa, như bản dịch và khảo cứu của Edward L. Shaughnessy (1997).

Bảng thứ tự được dựng bằng quy tắc, không chép từ ảnh lụa. Quy tắc xếp quẻ của bản lụa được giới nghiên cứu mô tả thống nhất; bài dựng lại 64 vị trí bằng máy từ quy tắc ấy. Lụa có chỗ rách, mất chữ; thứ tự được khôi phục dựa trên những phần còn đọc được và quy tắc chung.

Không có "bản Kinh Dịch gốc". Bản lụa cổ hơn bản thông hành nhưng không phải nguyên bản; bản thẻ tre nước Sở còn cổ hơn. Mỗi bản là một nhánh của truyền thống chép tay.

Gieo quẻ vẫn dùng thứ tự nào cũng được. Số thứ tự chỉ để gọi tên; quẻ bạn gieo ra là hình sáu hào, giống nhau ở mọi bản. Công cụ của site dùng số Văn Vương vì đó là số phổ biến nhất.

Việc nên làm

  • Thử tìm quẻ mình vừa gieo trong bảng bản lụa: nhìn quẻ trên để chọn hàng, quẻ dưới để chọn cột.
  • So hai thứ tự ở vài quẻ quen thuộc: Khôn đứng thứ hai trong bản thông hành, thứ ba mươi ba trong bản lụa.
  • Khi gặp tuyên bố "thứ tự 64 quẻ là mật mã của vũ trụ", nhớ đến bản lụa Mã Vương Đôi.
  • Muốn hiểu thứ tự Văn Vương được người xưa biện giải thế nào, đọc bài Tự Quái và Tạp Quái và Thượng Kinh, Hạ Kinh.

Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?

Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.

Xem lịch các thầy

Nguồn tham khảo

  • Chu Dịch bản lụa Mã Vương Đôi, mộ số 3, Trường Sa (khai quật 1973, mộ đóng năm 168 trước Công nguyên): quy tắc xếp quẻ và một số tên quẻ theo các bản thích văn phổ biến (dẫn đại ý).
  • Chu Dịch, bản thông hành: thứ tự Văn Vương và tên quẻ.
  • Chu Dịch, Thuyết Quái truyện: phép phối quẻ với người trong nhà (dẫn đại ý).
  • Edward L. Shaughnessy, I Ching: The Classic of Changes, bản dịch đầu tiên sang tiếng Anh của bản lụa Mã Vương Đôi (1997) (tham khảo).
  • Bảng thứ tự dựng bằng máy từ quy tắc xếp quẻ, trên dữ liệu 64 quẻ của aihuyenhoc.com.

Câu hỏi thường gặp

Chu Dịch Mã Vương Đôi là gì?

Là bản Kinh Dịch chép trên lụa, tìm được năm 1973 trong mộ số 3 Mã Vương Đôi ở Trường Sa, Hồ Nam. Mộ đóng năm 168 trước Công nguyên, nên đây là một trong những bản Chu Dịch cổ nhất còn lại.

Thứ tự quẻ trong bản lụa khác bản thông hành thế nào?

Bản lụa xếp 64 quẻ thành tám nhóm theo quẻ trên (Càn, Cấn, Khảm, Chấn, Khôn, Đoài, Ly, Tốn), mỗi nhóm mở bằng quẻ thuần. Bản thông hành xếp theo cặp lật ngược và chuỗi Tự Quái.

Bản lụa mở đầu và kết thúc bằng quẻ nào?

Mở đầu bằng Càn, quẻ thứ hai là Bĩ; kết thúc bằng Ích. Khôn đứng ở vị trí 33, đầu nửa sau của bản.

Tên quẻ trong bản lụa có khác không?

Có nhiều chỗ khác, phần lớn là chữ mượn âm: Càn viết thành Kiện, Khôn thành Xuyên, Cấn thành Căn, Chấn thành Thần, Ly thành La, Đoài thành Đoạt. Nghĩa quẻ nhìn chung không đổi.

Bản lụa có phải bản Kinh Dịch gốc không?

Không. Nó cổ hơn bản thông hành nhưng không phải nguyên bản; bản thẻ tre nước Sở thời Chiến Quốc còn sớm hơn và được cho là xếp gần thứ tự Văn Vương.

Nguồn tham khảo: Chu Dịch bản lụa Mã Vương Đôi (mộ số 3, Trường Sa) — thứ tự quẻ, một số tên quẻ · Chu Dịch — bản thông hành — thứ tự Văn Vương, tên quẻ · Chu Dịch — Thuyết Quái truyện — Càn vi phụ, Khôn vi mẫu… (phép phối quẻ với người trong nhà) · I Ching: The Classic of Changes — Edward L. Shaughnessy (1997) — bản dịch và khảo cứu bản lụa

Dụng Cửu, Dụng Lục: hào thứ bảy của quẻ Càn, KhônDụng Cửu, Dụng Lục là lời riêng của Càn, Khôn cho lúc sáu hào cùng động. Chu Hy giảng là lệ dùng số 9, số 6; Tả Truyện có ví dụ C…
Kinh Dịch là gì: sách bói, sách triết hay cả haiKinh Dịch là gì: phần Kinh là lời bói thời Chu, phần Truyện là triết học đời sau. Khổng Tử đọc Dịch đứt lề ba lần để tìm gì, sử l…
Đọc Kinh Dịch bằng bản tiếng Việt nào: Phan Bội Châu, Ngô Tất Tố, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy CầnSo bốn bản Kinh Dịch tiếng Việt: Phan Bội Châu, Ngô Tất Tố, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần. Bản nào dịch sát, bản nào bình giải, …
Hào vị: đắc chính, đắc trung, ứng, tỷ, thừa, cưỡi — ngữ pháp của 384 hàoHào vị trong Kinh Dịch: sáu quy tắc đắc chính, đắc trung, ứng, tỷ, thừa, cưỡi; đọc trọn quẻ Ký Tế sáu hào đều đắc chính mà lời qu…
Cát, hung, hối, lận, lệ, vô cữu: thang chữ đánh giá trong hào từ và cách đọc cho đúng mứcVô cữu là gì? Là không lỗi, chữ hay gặp thứ hai trong lời hào. Bảng đếm cát, hung, hối, lận, lệ, vô cữu trên 384 hào và lời Hệ Từ…
Liên Sơn, Quy Tàng, Chu Dịch: ba bộ Dịch trong Chu Lễ và thẻ tre Quy Tàng ở Vương Gia ĐàiQuy Tàng và Liên Sơn là hai bộ Dịch Chu Lễ nhắc cạnh Chu Dịch. Tách lời sách cổ, truyền thuyết và thẻ tre Vương Gia Đài năm 1993 …