Kinh Dịch là gì: sách bói, sách triết hay cả hai

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 17 phút đọc

Kinh Dịch là gì: sách bói, sách triết hay cả hai

Kinh Dịch là cả hai, và sách tự nói ra điều đó. Lõi của sách là 64 quẻ với lời quẻ, lời hào, vốn là văn bói thời Tây Chu. Bọc quanh lõi là mười thiên Truyện viết muộn hơn nhiều thế kỷ, biến văn bói thành triết học. Đọc Dịch cho đúng bắt đầu từ việc biết mình đang đọc tầng nào.

Bài này là trang mở đầu của trụ Bốc trên aihuyenhoc.com. Nó không kể lại lịch sử Kinh Dịch cho đủ mục, mà trả lời một câu hỏi người mới hay vấp: rốt cuộc đây là sách để bói hay sách để đọc? Câu trả lời nằm trong chính văn bản, và trong một chi tiết ít người để ý về chuyện Khổng Tử "đọc Dịch đứt lề ba lần".

Ba cái tên, ba phạm vi: Dịch, Chu Dịch, Kinh Dịch

Người Việt quen gọi "Kinh Dịch", nhưng sách cổ dùng ít nhất ba tên, và mỗi tên chỉ một phạm vi khác nhau.

  • Dịch là tên chung của phép bói bằng quẻ. Sách Chu Lễ chép quan Thái bốc giữ ba bộ Dịch: Liên Sơn, Quy Tàng, Chu Dịch. Hai bộ đầu đã mất, chỉ còn tên và vài câu trích rải rác.
  • Chu Dịch là bộ Dịch còn lại, theo nghĩa hẹp chỉ phần kinh văn: hình quẻ, tên quẻ, lời quẻ, lời hào.
  • Kinh Dịch (hay Dịch Kinh) là cách gọi từ khi sách được tôn làm kinh của Nho gia đời Hán, lúc ấy đã gồm cả phần Truyện đi kèm.

Phân biệt này nghe như chuyện chữ nghĩa, nhưng nó quyết định cách đọc. Khi một người nói "Kinh Dịch dạy rằng một âm một dương gọi là đạo", câu ấy nằm trong Hệ Từ truyện, tức tầng Truyện, không phải lời của phần kinh văn cổ. Còn khi một người gieo quẻ ra hào "tiềm long vật dụng" (rồng ẩn, chớ dùng), câu ấy là lời hào đầu của quẻ Càn, thuộc tầng Kinh. Hai câu cách nhau có thể tới năm, sáu trăm năm.

Cuốn sách gồm những gì

TầngGồmSố lượngHọc giới hiện nay xếp vào khoảng
Hình quẻsáu vạch liền, đứt chồng nhau64 quẻ, 384 hàorất cổ; vạch quẻ có thể bắt nguồn từ các chuỗi con số ghi trên giáp cốt, đồ đồng
Lời quẻ (quái từ)một đoạn phán chung cho cả quẻ64 đoạnTây Chu
Lời hào (hào từ)một câu cho mỗi hào, thêm Dụng Cửu, Dụng Lục ở Càn, Khôn386 câuTây Chu
Thoán truyệngiải lời quẻ2 thiênChiến Quốc
Tượng truyệnĐại Tượng giải hình quẻ, Tiểu Tượng giải từng hào2 thiênChiến Quốc
Văn Ngôngiải riêng Càn, Khôn1 thiênChiến Quốc
Hệ Từ truyệnluận chung về Dịch, phép bói cỏ thi2 thiênChiến Quốc đến đầu Hán
Thuyết Quáitám quẻ đơn và tượng của chúng1 thiênChiến Quốc đến Hán
Tự Quái, Tạp Quáithứ tự quẻ, cặp quẻ đối2 thiênChiến Quốc đến Hán

Mười thiên Truyện được gọi chung là Thập Dực, "mười cánh", ý nói chúng chắp cánh cho phần kinh. Cách một trang sách in ghép các tầng này với nhau, và vì sao trang quẻ Càn trông khác hẳn trang các quẻ còn lại, được bàn kỹ ở bài các tầng chữ trong một trang Kinh Dịch. Bảng tám quẻ đơn lấy từ Thuyết Quái ở bài tám quẻ đơn.

Một con số đáng nhớ: phần kinh văn, tức phần "bói", ngắn hơn phần Truyện rất nhiều. Phần lớn chữ trong một cuốn Kinh Dịch bạn cầm trên tay là lời giải thích của đời sau.

Vì sao gọi là sách bói: bằng chứng nằm ngay trong lời hào

Đọc riêng phần kinh văn, bỏ hết Truyện đi, bạn sẽ thấy nó giống sổ tay của thầy bói hơn là sách triết.

Thứ nhất, từ vựng phán đoán. Lời quẻ, lời hào dày đặc những chữ chỉ kết quả: cát (tốt), hung (xấu), hối (ăn năn), lận (khó xử, đáng tiếc), lệ (nguy), vô cữu (không lỗi). Đây là thang đánh giá của người bói, không phải thuật ngữ triết học.

Thứ hai, câu hỏi điển hình của người xưa. Những cụm như "lợi thiệp đại xuyên" (lợi vượt sông lớn), "lợi kiến đại nhân" (lợi gặp bậc đại nhân), "lợi hữu du vãng" (lợi có chỗ đi), "lợi kiến hầu" (lợi dựng chư hầu) trả lời các câu hỏi thực tế: có nên lên đường, có nên đi gặp người trên, có nên ra quân.

Thứ ba, chữ "trinh". Bốn chữ mở đầu quẻ Càn, "nguyên hanh lợi trinh", được đời sau giảng thành bốn đức. Nhưng trong văn giáp cốt đời Thương, chữ "trinh" là động từ "hỏi bói", xuất hiện ở đầu hàng loạt lời bói khắc trên mai rùa. Nhiều nhà nghiên cứu hiện đại vì vậy đọc "lợi trinh" là "lợi cho việc hỏi bói", hoặc "hỏi về việc này thì lợi". Một chữ, hai thế giới.

Thứ tư, sử sách chép người ta dùng nó để bói thật. Tả Truyện và Quốc Ngữ ghi lại chừng hai chục lần bói bằng Chu Dịch thời Xuân Thu, có tên người, có quẻ, có lời bàn. Và khi Tần Thủy Hoàng đốt sách, theo Sử Ký, những sách không bị đốt là sách thuốc, sách bốc phệ, sách trồng cây. Chu Dịch qua được nạn ấy chính vì nó được xếp vào loại sách bói.

Vì sao gọi là sách triết: Thập Dực đổi nghĩa cả cuốn sách

Tầng Truyện nói bằng một thứ ngôn ngữ khác hẳn. Phần kinh văn hầu như không dùng chữ "âm dương" như cặp khái niệm triết học; Hệ Từ truyện thì dựng cả học thuyết trên nó: "Nhất âm nhất dương chi vị đạo", một âm một dương gọi là đạo. Phần kinh văn nói cát hung từng việc; Hệ Từ nói quy luật: "Dịch, cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu", Dịch là đến chỗ cùng thì biến, biến thì thông, thông thì bền lâu.

Quan trọng hơn, tầng Truyện giải thích lại lời bói theo hướng đạo đức. Đại Tượng quẻ Càn viết: "Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức", trời vận hành mạnh mẽ, người quân tử noi theo mà tự cường không nghỉ. Câu này không trả lời "có nên đi không"; nó dạy một cách sống. Sáu mươi tư câu Đại Tượng đều theo một khuôn: tượng của quẻ, rồi "quân tử dĩ…", người quân tử nhân đó mà làm gì. Đó là cả một giáo trình tu thân được xếp chồng lên sổ tay bói.

Đến cuối thời Chiến Quốc, Tuân Tử đã có thể nói một câu mà nhiều người học Dịch về sau coi là châm ngôn: "Thiện vi Dịch giả bất chiêm", người giỏi Dịch thì không bói. Nghĩa là hiểu thấu lẽ biến hoá trong sách rồi thì tự biết nên làm gì, không cần hỏi quẻ.

Chính sách Dịch tự trả lời: bốn cách dùng trong Hệ Từ

Câu hỏi "sách bói hay sách triết" không phải câu hỏi mới. Hệ Từ thượng đã trả lời từ hơn hai nghìn năm trước, bằng một câu đáng thuộc:

Dịch hữu thánh nhân chi đạo tứ yên: dĩ ngôn giả thượng kỳ từ, dĩ động giả thượng kỳ biến, dĩ chế khí giả thượng kỳ tượng, dĩ bốc phệ giả thượng kỳ chiêm.

Dịch có bốn đạo của thánh nhân: người dùng nó để nói năng thì trọng lời của nó; người dùng để hành động thì trọng sự biến của nó; người dùng để chế tạo đồ vật thì trọng tượng của nó; người dùng để bói thì trọng phép chiêm của nó.

Bói chỉ là một trong bốn lối vào, và được xếp cuối. Ba lối kia, đọc lời, đọc biến, đọc tượng, không cần gieo quẻ. Nhưng người viết Hệ Từ cũng không gạt phép bói ra ngoài: chính Hệ Từ thượng là nơi còn giữ cách bói cỏ thi "đại diễn chi số ngũ thập", năm mươi cọng mà dùng bốn mươi chín. Một văn bản vừa dạy cách bói vừa dạy rằng bói chỉ là một phần, đó là câu trả lời "cả hai" của chính sách Dịch.

Khổng Tử và chuyện "đọc Dịch đứt lề ba lần": ba nguồn, ba mức tin cậy

Hình ảnh Khổng Tử về già mê Dịch đến nỗi dây buộc sách đứt ba lần là chi tiết ai học Dịch cũng nghe. Nhưng nó đến từ đâu, và nói lên điều gì? Có ba nguồn, đáng tin ở ba mức khác nhau.

Nguồn thứ nhất: Luận Ngữ, và một chữ có thể không phải chữ "Dịch"

Thiên Thuật Nhi có câu: "Gia ngã sổ niên, ngũ thập dĩ học Dịch, khả dĩ vô đại quá hĩ", cho ta thêm mấy năm nữa, năm mươi tuổi học Dịch, thì có thể không phạm lỗi lớn. Đây là câu duy nhất trong Luận Ngữ gọi đích danh chữ "Dịch". Ngoài ra, thiên Tử Lộ có dẫn một câu hào quẻ Hằng mà không nêu tên sách, "bất hằng kỳ đức, hoặc thừa chi tu" (không giữ bền đức mình thì có khi chuốc lấy hổ thẹn), rồi Khổng Tử bình: "Bất chiêm nhi dĩ hĩ", chẳng qua là không bói mà thôi. Người không giữ bền đức thì khỏi cần bói cũng biết kết cục; đó đã là lối dùng lời hào để răn mình, không để đoán việc.

Nhưng Lục Đức Minh đời Đường, trong Kinh Điển Thích Văn, ghi rằng bản Luận Ngữ nước Lỗ đọc chữ "Dịch" thành chữ "diệc" (cũng), hai chữ gần âm. Đọc theo bản Lỗ, câu thành: "năm mươi tuổi mà học, cũng có thể không phạm lỗi lớn", không còn nhắc tới sách Dịch nữa. Học giới đến nay vẫn chia hai phe về câu này. Nghĩa là câu duy nhất nói thẳng Khổng Tử "học Dịch" lại đứng trên một chữ chưa ngã ngũ.

Nguồn thứ hai: Sử Ký, nơi có chữ "vi biên tam tuyệt"

Tư Mã Thiên viết trong Khổng Tử thế gia, đại ý: Khổng Tử về già thích Dịch, sắp xếp Thoán, Hệ, Tượng, Thuyết Quái, Văn Ngôn; đọc Dịch đến nỗi "vi biên tam tuyệt"; và nói rằng nếu được thêm mấy năm thì đối với Dịch đã có thể thông suốt.

"Vi" là da thuộc, "biên" là dây xâu. Sách thời ấy viết trên thẻ tre, xâu lại bằng dây da; đọc đi đọc lại, cuộn ra cuộn vào mãi thì dây đứt. Người Việt nói "đứt lề" là theo hình ảnh ấy. Chữ "tam" trong văn cổ nhiều khi chỉ "nhiều lần" chứ không đếm đúng ba, nên hiểu "đứt dây nhiều lần" cũng không sai ý.

Chi tiết này là lời Tư Mã Thiên, viết khoảng bốn trăm năm sau Khổng Tử. Nó cho biết đời Hán đã tin Khổng Tử gắn bó với Dịch và có công với phần Truyện. Còn việc Khổng Tử tự tay viết cả Thập Dực thì từ đời Tống, Âu Dương Tu trong Dịch Đồng Tử Vấn đã nêu nghi vấn, và học giới hiện đại phần lớn coi Thập Dực là công của nhiều thế hệ học trò trong dòng Nho gia.

Nguồn thứ ba: bạch thư Mã Vương Đôi, nơi Khổng Tử tự giải thích

Năm 1973, ngôi mộ số 3 ở Mã Vương Đôi (Trường Sa), chôn năm 168 trước Công nguyên, cho ra một bản Chu Dịch chép trên lụa, kèm mấy thiên truyện không có trong Thập Dực. Một thiên tên là Yếu kể một cuộc đối đáp mà Sử Ký không có.

Theo cách đọc phổ biến của giới nghiên cứu, đại ý như sau. Khổng Tử về già thích Dịch, ở nhà thì để trên chiếu, ra ngoài thì để trong túi. Học trò Tử Cống lấy làm lạ: trước kia thầy dạy rằng người mất đức mới chạy theo thần linh, người thiếu mưu mới năng bói toán; sao nay thầy lại ham sách bói? Khổng Tử đáp rằng với Dịch, ông đặt việc cúng khấn, bói toán xuống sau, mà xem cái "đức nghĩa" trong đó. Ông cũng không giấu chuyện mình có bói, và nói đại ý rằng mình bói trăm lần thì đúng bảy mươi; ông và các thầy sử, thầy vu "đồng đồ nhi thù quy", cùng đi một đường mà về hai chỗ khác nhau. Ông còn lo người đời sau sẽ nghi ông chính vì chuyện Dịch.

Đây là chỗ đáng giá nhất của cả câu chuyện. Người được coi là ông tổ của "đọc Dịch như sách triết" không hề phủ nhận phép bói. Ông thừa nhận mình cũng bói, đi chung con đường với thầy bói, chỉ là đích đến khác: thầy bói tìm cát hung, ông tìm cách sống cho đúng. Câu hỏi "sách bói hay sách triết" được chính Khổng Tử trả lời bằng ba chữ "thù quy": cùng một sách, khác cách dùng.

Truyền thuyết và sử liệu: ai làm ra Kinh Dịch

Lối kể truyền thống chia công làm sách cho các bậc thánh. Nên giữ lối kể này như một lớp văn hoá, nhưng tách nó khỏi điều văn bản cho thấy.

Truyền thống kểNguồn của lời kểĐiều văn bản và khảo cổ cho thấy
Phục Hy (Bao Hy) ngửa xem trời, cúi xem đất, vạch ra tám quẻHệ Từ hạPhục Hy là nhân vật thần thoại; vạch quẻ có thể bắt nguồn từ các chuỗi số bói ghi trên giáp cốt, đồ đồng đời Thương, Chu
Văn Vương bị giam ở Dũ Lý, chồng tám quẻ thành sáu mươi tưSử Ký, Chu bản kỷChính Tư Mã Thiên viết bằng chữ "cái", tức "có lẽ"; lời kể đã kèm sẵn chữ dè dặt
Chu Công viết lời hàocác nhà chú giải đời Hán về saulời hào có nhắc sự kiện sau thời Văn Vương, nên đời sau phải tìm thêm một tác giả
Khổng Tử viết Thập DựcSử Ký, Hán Thưngôn ngữ, tư tưởng Thập Dực thuộc thời Chiến Quốc đến đầu Hán; Âu Dương Tu đời Tống đã nghi

Một chi tiết hay: Hán Thư, Nghệ Văn Chí tóm lịch sử sách Dịch bằng câu "nhân canh tam thánh, thế lịch tam cổ", người qua ba thánh, đời trải ba thời cổ. Ba thánh, không phải bốn: Phục Hy, Văn Vương, Khổng Tử. Chu Công được thêm vào sau, khi người ta cần một tác giả cho lời hào, và đến đời Tống thì thành thuyết "tứ thánh" quen thuộc. Một truyền thuyết lớn dần qua từng đời như vậy.

Tách hai lớp không làm sách kém đi. Nó chỉ giúp bạn đọc đúng: lời hào là văn bói cổ có dấu vết sự kiện thời Thương, Chu; lời Truyện là suy ngẫm của Nho gia về văn bói ấy. Gán cả cuốn cho một thời, một người là đọc sai từ đầu.

Hai lối đọc lớn suốt hai nghìn năm

Vì sách có hai tầng, người đọc đời sau cũng chia hai hướng. Hướng tượng số coi quẻ là hệ ký hiệu, gắn với lịch, tiết khí, can chi, ngũ hành; mạnh nhất đời Hán, và là gốc của các phép đoán còn dùng ngày nay như Lục Hào, Mai Hoa. Hướng nghĩa lý coi mỗi quẻ là một tình thế, mỗi hào là một vị trí trong tình thế ấy, và đọc để biết nên xử sự thế nào; mở đầu rõ rệt từ Vương Bật thời Ngụy, đến Trình Di đời Tống thì thành đỉnh.

Hai hướng cho ra hai lời giải khác nhau cho cùng một câu hào. Bài tượng số và nghĩa lý đặt ba câu hào cụ thể giữa hai hướng để thấy chúng khác nhau ở đâu. Một nhánh của tượng số gắn quẻ với tháng trong năm, xem ở bài mười hai quẻ Tiêu Tức và quái khí.

Bản đồ trụ Bốc: đọc gì tiếp

Trụ Bốc của aihuyenhoc.com đi từ nền (đọc quẻ) sang các phép đoán (lập quẻ, xét quẻ). Chuyên mục Kinh Dịch nhập môn là phần nền, nên đọc trước.

Bạn muốnĐọc bài
Biết tám quẻ đơn, tượng, tính, người trong nhà, phương vịTám quẻ đơn (bát quái)
Biết một trang Kinh Dịch có những tầng chữ nàoThoán, Tượng, Văn Ngôn, Hệ Từ
Đọc được lời hào: đắc chính, đắc trung, ứng, tỷHào vị
Hiểu vì sao sách này giảng một kiểu, sách kia kiểu khácTượng số và nghĩa lý
Chọn bản dịch tiếng Việt để đọcBốn bản dịch tiếng Việt
Thấy quẻ gắn với lịchMười hai quẻ Tiêu Tức, Quái khí
Hỏi quẻ cho một việc của mìnhDùng Kinh Dịch để tự soi việc
Hiểu hào thứ bảy của Càn, KhônDụng Cửu, Dụng Lục
Biết chuyện Leibniz và hệ nhị phân thật hư ra saoLeibniz và Kinh Dịch
Tra 64 quẻBảng 64 quẻ
Tự gieo quẻGieo quẻ bằng ba đồng xu
Học các phép đoánMai Hoa Dịch Số, Lục Hào

Sách cổ nói gì

Quân tử cư tắc quan kỳ tượng nhi ngoạn kỳ từ, động tắc quan kỳ biến nhi ngoạn kỳ chiêm.

Người quân tử lúc ở yên thì xem tượng mà ngẫm lời; lúc sắp hành động thì xem sự biến mà ngẫm lời bói. — Chu Dịch, Hệ Từ thượng

Bình: câu này chia việc dùng Dịch theo hoàn cảnh chứ không theo phe. Ngày thường, Dịch là sách để ngẫm; lúc đứng trước một việc phải quyết, Dịch là sách để hỏi. Một người, một cuốn sách, hai cách dùng.

Thiện vi Dịch giả bất chiêm.

Người giỏi Dịch thì không bói. — Tuân Tử, thiên Đại Lược

Bình: câu này hay bị trích để nói "Dịch không phải sách bói". Đọc kỹ thì nó nói điều khác: bói là bậc thang cho người chưa thấu, thấu rồi thì tự biết. Nó không phủ nhận việc bói, chỉ đặt việc bói ở bậc dưới.

Tả Truyện, Chiêu Công năm 12, chép chuyện Nam Khoái nước Lỗ mưu làm phản họ Quý, bói được quẻ Khôn biến sang Tỷ, gặp lời hào lục ngũ "hoàng thường nguyên cát" (xiêm vàng, rất tốt), mừng lắm. Tử Phục Huệ Bá xem quẻ thì nói, đại ý: việc trung tín thì được, việc không trung tín thì hỏng; xiêm vàng là đức của kẻ dưới biết giữ phận, người mưu nghịch không xứng với lời ấy. Rồi ông nói câu được truyền mãi: "Dịch bất khả dĩ chiêm hiểm", Dịch không thể dùng để bói việc mờ ám. Nam Khoái về sau thất bại.

Bình: ngay ở thời Xuân Thu, khi Dịch còn là sách bói thuần tuý, người hiểu Dịch đã đọc lời quẻ bằng đạo đức của người hỏi. Lời "rất tốt" chỉ tốt cho người xứng với nó. Đó là mầm của lối đọc nghĩa lý, mọc ra từ chính việc bói.

Đọc cho đúng mức

Về niên đại. Các mốc "Tây Chu", "Chiến Quốc" trong bài là khoảng thời gian học giới đồng thuận nhiều nhất, không phải năm chính xác. Từng thiên Truyện có thể được viết, sửa trong nhiều đời; Hệ Từ trong bạch thư Mã Vương Đôi đã khác bản thông hành ở không ít chỗ.

Về Khổng Tử. Bạch thư thiên Yếu cho biết đầu đời Hán đã lưu truyền chuyện Khổng Tử bàn Dịch với Tử Cống. Nó không chứng minh cuộc đối đáp có thật từng chữ, chỉ chứng minh quan niệm "Khổng Tử đọc Dịch để tìm đức nghĩa" đã có từ rất sớm. Phần trích ở trên là đại ý theo cách đọc phổ biến; văn bản lụa có nhiều chữ khuyết, các nhà nghiên cứu điền chữ khác nhau.

Về bói. Trụ Bốc của site viết về các phép bói như một di sản tri thức: nó vận hành ra sao, sách nói gì, người xưa dùng thế nào. Quẻ không thay được hiểu biết về việc mình đang làm, không thay lời khuyên của người có chuyên môn về pháp lý, y tế, tài chính. Cách dùng hợp lý nhất, gần với tinh thần của Khổng Tử trong thiên Yếu, là dùng quẻ để buộc mình suy nghĩ chậm lại và nhìn việc từ một góc khác.

Về các phái. Bài này theo cách chia hai tầng Kinh, Truyện mà học giới hiện đại dùng. Người học theo truyền thống cổ, coi cả cuốn là của các thánh, sẽ đọc khác; cách đọc ấy cũng có lý lẽ riêng của nó, chỉ là không đứng được trước bằng chứng văn bản.

Việc nên làm

  • Đọc riêng phần kinh văn của một quẻ trước, bỏ qua mọi lời Truyện và lời bình. Bạn sẽ thấy giọng văn bói cổ. Rồi mới đọc Thoán, Tượng để thấy đời sau đã thêm gì.
  • Bắt đầu bằng quẻ Càn và Khôn, vì chỉ hai quẻ này có đủ mọi tầng, kể cả Văn Ngôn.
  • Đọc Hệ Từ thượng sớm, ít nhất chương nói về "bốn đạo" và chương "nhất âm nhất dương", để biết người xưa nghĩ Dịch là gì.
  • Khi muốn hỏi quẻ cho một việc, đọc trước bài dùng Kinh Dịch để tự soi việc: đặt câu hỏi sai thì quẻ nào cũng khó đọc.
  • Giữ một cuốn sổ: ghi câu hỏi, quẻ, cách mình hiểu, rồi một thời gian sau ghi việc thật đã diễn ra thế nào. Đó là cách tự học Dịch chắc nhất, vì nó buộc bạn đối chiếu lời quẻ với việc thật.
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Chu Dịch, phần kinh văn và Thập Dực, bản thông hành theo Vương Bật chú, Khổng Dĩnh Đạt sớ (Chu Dịch Chính Nghĩa).
  • Hệ Từ truyện thượng và hạ (trích nguyên văn các câu về bốn đạo, quân tử cư tắc quan kỳ tượng, nhất âm nhất dương, cùng tắc biến, Bao Hy làm bát quái).
  • Luận Ngữ, thiên Thuật Nhi và thiên Tử Lộ; dị bản Lỗ Luận theo Kinh Điển Thích Văn của Lục Đức Minh.
  • Sử Ký của Tư Mã Thiên: Khổng Tử thế gia, Chu bản kỷ, Tần Thủy Hoàng bản kỷ (dẫn đại ý).
  • Hán Thư, Nghệ Văn Chí (câu "nhân canh tam thánh, thế lịch tam cổ").
  • Tả Truyện, Chiêu Công năm 12 (chuyện Nam Khoái, dẫn đại ý).
  • Tuân Tử, thiên Đại Lược.
  • Bạch thư Chu Dịch Mã Vương Đôi, thiên Yếu (dẫn đại ý theo cách đọc phổ biến của giới nghiên cứu).
  • Âu Dương Tu, Dịch Đồng Tử Vấn (nghi vấn về tác giả Thập Dực).

Câu hỏi thường gặp

Kinh Dịch có phải do Khổng Tử viết không?

Không phải. Phần kinh văn có trước Khổng Tử nhiều thế kỷ. Truyền thống gán mười thiên Truyện cho ông, nhưng từ đời Tống đã có người nghi, và học giới hiện nay phần lớn coi Thập Dực là công của nhiều thế hệ Nho gia.

"Vi biên tam tuyệt" nghĩa là gì?

"Vi" là da thuộc, "biên" là dây xâu thẻ tre, "tam tuyệt" là đứt ba lần, hoặc đứt nhiều lần. Câu này trong Sử Ký tả Khổng Tử về già đọc Dịch nhiều đến nỗi dây da buộc sách đứt mãi; người Việt quen nói là "đọc Dịch đứt lề".

Kinh Dịch có bao nhiêu quẻ, bao nhiêu hào?

Có 64 quẻ, mỗi quẻ sáu hào, tổng 384 hào. Riêng quẻ Càn và Khôn có thêm một câu Dụng Cửu, Dụng Lục, nên phần lời hào có 386 câu.

Người không tin bói có nên đọc Kinh Dịch không?

Có. Hệ Từ truyện nói Dịch có bốn cách dùng và bói chỉ là một. Đọc lời Đại Tượng, Hệ Từ như sách tu thân, hay đọc quẻ như phân tích tình thế, đều không cần tin vào việc bói.

Người mới nên bắt đầu đọc Kinh Dịch từ đâu?

Nắm tám quẻ đơn, rồi đọc quẻ Càn, Khôn với đủ các tầng chữ, sau đó học cách đọc hào vị. Chọn một bản dịch có in nguyên văn và tách rõ lời kinh với lời chú.

Nguồn tham khảo: Chu Dịch — Hệ Từ truyện — Hệ Từ thượng: Dịch có bốn đạo của thánh nhân, quân tử cư tắc quan kỳ tượng; Hệ Từ hạ: Bao Hy làm bát quái · Luận Ngữ — Thuật Nhi: gia ngã sổ niên, ngũ thập dĩ học Dịch; Tử Lộ: bất chiêm nhi dĩ hĩ; dị bản Lỗ Luận ghi trong Kinh Điển Thích Văn của Lục Đức Minh · Sử Ký — Tư Mã Thiên — Khổng Tử thế gia (vi biên tam tuyệt); Chu bản kỷ (Văn Vương ở Dũ Lý); Tần Thủy Hoàng bản kỷ (sách bốc phệ không bị đốt) · Tả Truyện — Chiêu Công năm 12: Nam Khoái bói được Khôn biến Tỷ, lời Tử Phục Huệ Bá · Tuân Tử — Đại Lược: thiện vi Dịch giả bất chiêm · Hán Thư — Nghệ Văn Chí — nhân canh tam thánh, thế lịch tam cổ · Bạch thư Mã Vương Đôi — thiên Yếu: Khổng Tử bàn với Tử Cống về việc già mà thích Dịch

Hệ Từ truyện: tầng triết học của Kinh Dịch, từ "nhất âm nhất dương chi vị đạo" đến "đại diễn chi số"Hệ Từ truyện là phần triết học của Kinh Dịch. Tám câu được trích nhiều nhất, nguyên văn, dịch nghĩa, và chuyện ai viết Hệ Từ theo…
Đọc Kinh Dịch bằng bản tiếng Việt nào: Phan Bội Châu, Ngô Tất Tố, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy CầnSo bốn bản Kinh Dịch tiếng Việt: Phan Bội Châu, Ngô Tất Tố, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần. Bản nào dịch sát, bản nào bình giải, …
Leibniz, hệ nhị phân và Kinh Dịch: chuyện thật và phần bị thổi phồngLeibniz có hệ nhị phân từ 1679, trước khi thấy đồ quẻ. Thư Bouvet năm 1701 gửi đồ 64 quẻ của Thiệu Ung; Leibniz thấy trùng và viế…
Hai lối đọc Dịch: phái Tượng Số đời Hán và phái Nghĩa Lý của Vương Bật, Trình DiTượng số và nghĩa lý: vì sao một câu hào có hai, ba lời giải. Đặt ba câu hào Khôn sơ lục, Truân lục nhị, Sư lục tam giữa hai phái…
Một trang Kinh Dịch có những tầng chữ nào: Thoán, Tượng, Văn Ngôn, Hệ TừThoán từ, hào từ, Thoán truyện, Đại Tượng, Tiểu Tượng, Văn Ngôn, Hệ Từ: mổ trang quẻ Càn từng tầng, tầng nào có trước, tầng nào t…
Quái khí: 64 quẻ gắn với 365 ngày theo Mạnh Hỷ, Kinh PhòngQuái khí là phép xếp 64 quẻ vào một năm: bốn quẻ Khảm, Chấn, Ly, Đoài giữ 24 tiết khí, 60 quẻ mỗi quẻ 6 ngày 7 phần. Bảng đủ theo…